Ba người ngồi chung quanh chiếc bàn dành để hội họp kê trong phòng làm việc của viện trưởng Imre. Ngoài viện trưởng còn có kỹ sư trưởng Ianos Klonga và Pan Lisca, phụ trách phòng thí nghiệm.
Klonga béo phị, thở phì phò, người đầm đìa mồ hôi vì nóng nực. Bàn tay lông lá mập ú đặt trên bàn, anh ta ngã người trong ghế bành, thỉnh thoảng phà ra một làn khói xì –gà.
Gầy gò và lanh lợi, Lisca khoác chiếc áo blouse trắng rất tương xứng với chức vụ mà ông đang giữ. Ông đem đến cuộc họp những ý kiến đánh giá của cấp trên, báo cáo lại một cách tỉ mỉ về tiến độ của công việc thí nghiệm và bây giờ đang ngồi kiên nhẫn chờ đợi ý kiến phán xét của đồng nghiệp. Các biểu đồ cùng với những cột chữ số dài tận cuối trang của các phép tính cũng như các bản vẽ đã được đặt cẩn thận trên bàn, ngay trước mặt ông, như sẵn sàng giúp ông giải đáp bất cứ câu hỏi nào.
- Thôi được rồi, các kết quả thu được hoàn toàn có sức thuyết phục. – Cuối cùng Imre nói. – Tôi cho rằng những công trình nghiên cứu theo chương trình “Mặt trời 13” và “Mặt trời 14” trong phòng thí nghiệm đã kết thúc. Có thể bắt đầu cho sản xuất hàng loạt. – Ông đưa mắt nhìn kỹ sư trưởng.
- Tôi tán thành, – Klonga sốt sắng hưởng ứng bằng giọng khàn khàn của người nghiện thuốc. – Nhưng với điều kiện là chúng ta có những bình ắc –quy đảm bảo được chất lượng.
- Chúng ta đã nói về chuyện đó rồi, – Imre gạt đi.
- Nhưng hiện chưa có những tấm tích điện!
- Sẽ có. Những bạn hàng của chúng ta không thể nào không tính toán đến điều mà trưởng phòng thí nghiệm Lisca cùng toàn bộ anh em trong phòng hàng năm nay đã thực hiện được qua quá trình thí nghiệm. Chính anh cũng đã có mặt trong những cuộc thương nghị kia mà, chẳng lẽ lại không phải như thế hay sao?
- Quả là màu nhiệm biết bao! Có mùi thơm giống như đang ở giữa rừng ấy! – Con người béo phị hay mơ mộng thở phào.
- Hãy dẹp bớt ba cái thứ linh tinh để giữ lại những cái gì đáng nhớ, –Imre phì cười. – Đang nói về những tấm tích điện trong ắc –quy chứ không phải đang nói về bữa tiệc. Đấy là những điều tôi nói cho anh, anh Lisca ạ. Còn Klonga hôm nay chắc là do thời tiết nóng nực quá nên mất hết khả năng hoạt động. Lisca, anh rất am hiểu về cuộc thương thảo của chúng ta với công ty Stamblex của Tây Đức. Hãng này hiện giờ đã sản xuất được những tấm tích điện, loại mà chúng ta cũng có thể sản xuất được nhưng không thể sớm hơn sau đây vài ba năm, ấy là chưa tính đến các cuộc thí nghiệm mà phí tổn có thể lên đến vài triệu…
- Cái hãng ấy hẹn khi nào thì trả lời? – Lisca hỏi.
- Tôi đã chuyển cho bên ấy những thông số cần thiết của chúng ta. Các kỹ sư công nghệ của họ sẽ nghiên cứu những tài liệu ấy. Tôi đang đợi câu trả lời vào đúng hôm nay. Hãy nghe đây, Klonga! Cố mà thức dậy một lúc đi. Sáng hôm nay tôi đã bàn với bên ngân hàng quốc gia. Phía bên ấy họ đã đồng ý sang đây gặp chúng ta.. Bởi vì nguồn điện của mặt trời ở những tấm tích điện với chất mạ của chúng ta có hiệu quả cực kỳ cao, nó đã có thị trường bảo đảm của riêng nó. Đánh giá một cách tỉnh táo rằng mặt hàng của chúng ta có khả năng xuất khẩu, ngân hàng tỏ ý sẵn sàng cho chúng ta vay 500 triệu forint Với số tiền đó, chúng ta có thể xây dựng hoàn chỉnh một phân xưởng chuyên môn hóa.
Cuối cùng Klonga cũng đã chịu gẩy tàn điếu xì –gà của mình:
- Bela, anh là một con người vĩ đại! – Anh ta kêu lên khiến phòng họp rộn rã ngay.
- Xin mời cứ chuẩn bị sẵn sàng văn bản và những tính troán sơ bộ. Thứ ba tới, chúng tôi sẽ báo cáo vấn đề tại Ủy ban phát triển kỹ thuật trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng.
- Xin viện trưởng cho phép. Nhưng để làm được việc đó chúng ta cần có sự trả lời của hãng Stamblex! – Lisca đứng lên.
- Anh nói đúng. Thực ra thì tình hình trên thị trường có thuận lợi cho chúng ta, nhưng chúng ta vẫn cần sự trả lời chính thức của bên kia. – Imre đến gần chỗ bàn giấy và ấn nút đài điều khiển. – Teri, làm ơn ghé vào đây chốc lát. Có tin tức gì từ hãng Stamblex không? – Ông hỏi, trong khi cô nữ thư ký xuất hiện ở ngưỡng cửa.
- Hiện giờ thì chưa có gì cả.
- Phải thúc giục họ mới được. Hãy chất vấn họ qua máy telex. Cô có thể làm ngay được không?
- Được, thưa viện trưởng.
Tereza quay người định đi ra nhưng Imre đã giữ lại.
- Chờ một chút! – Ông bước đến gần những người cùng dự họp. – Như vậy, nếu các anh không có ý kiến gì đáng chú ý hơn, tôi có thể nói rằng cuộc họp của chúng ta kết thúc tại đây. Đề xuất về một phân xưởng mới thì…Klonga, anh hãy ngồi xuống đi, đừng có chần chừ nữa. Còn sự trả lời của hãng thì chúng ta sẽ đề nghị sau.
Bắt chặt tay những người cùng dự họp, trong một thoáng Imre giữ chặt tay kỹ sư trưởng trong bàn tay của mình. “Trong thời gian gần đây, anh chàng béo phì của chúng ta có phần uống hơi nhiều. Thậm chí trong khi đang thương thảo với hãng Stamblex cũng nghe thấy mùi rượu ở anh ta. Chẳng đáng hãnh diện gì về chuyện này cả!”. Imre đưa mắt nhìn theo kỹ sư trưởng đi ra cửa.
Trong phòng chỉ còn lại viện trưởng và Tereza.
- Teri, hãy nói xem nào, chẳng lẽ không có tin tức gì về con gái tôi và chồng nó hay sao?
Cô thư ký rút bức điện tín từ trong túi chiếc áo khoác ra, đưa cho viện trưởng.
Imre mở bức điện và đọc thành tiếng:
“Tất cả đều tuyệt diệu. Ngày mai chúng con sẽ đến Roma. Chỉ thiếu có bố thôi.Nora, Habor”.
Imre phì cười:
- Những đứa trẻ đáng thương! Tôi hy vọng dù thế nào đi nữa thì chúng cũng chịu đựng được sự vắng mặt của tôi. Cô nghĩ thế nào, Teri?
- Cần phải hy vọng, – Tereza mỉm cười, trả lời.
Imre nhìn lên tấm lịch tờ:
- Đã 17 rồi. Thì giờ trôi qua mới nhanh làm sao! Hai đứa đi thế là gần một tuần rồi, – ông nén tiếng thở dài và hỏi. – Có ai gọi dây nói cho tôi không?
- Có. Trung tá Rona. Anh ấy yêu cầu tôi viết cho đúng từng chữ nội dung cuộc gọi của anh ấy cho anh. Đây là những dòng anh ấy bảo tôi viết: “Ông cụ khốn khổ, sau khi trơ lại một mình, những người bạn quyết định tổ chức một cuộc tiêu khiển nho nhỏ cùng với ông ta. Với mục đích đó, hôm nay vào lúc 5 giờ chiều những người bạn ấy sẽ tiến thẳng vào khu rừng, nơi mà Istvan Dodek sinh sống và họ hy vọng rằng ngài viện trưởng sẽ không phản đối nếu họ nhét vào trong xe của ngài thêm ba người nữa. Như vậy là hoàn toàn yên ổn đối với sinh mạng của những người tham dự cuộc tiến chiếm khu rừng. Chấm”.
- Chúa là hay pha trò! Lần trước khi tôi đang ngồi sau tay lái, anh ta đã phê phán về việc tôi điều khiển chiếc xe giống y như cô vậy, Tereza ạ: “Anh chàng lái ẩu, người đua xe Rangli, cậu lại bắt chước cô thư ký trứ danh của cậu rồi!”.
- Thật thế sao? Thế mà trong mắt anh ta lại như nói với tôi những lời khen tặng.
- Đồ giả dối! Cô làm ơn gọi dây nói và báo cho anh ta và nói cho anh ta biết về những dự tính riêng của mình, nhân tiện cô thông báo là tôi đợi họ đến 4 giờ. Bởi tôi là người dị đoan, chỉ có tôi mới cả gan ngồi trong xe của họ vì hôm nay không phải là ngày 13 mà là ngày 17.
Mills và Saad đã vượt qua biên giới một cách yên ổn.. Ngay từ lúc còn trên đường thâm nhập, Mills – sau một thoáng suy nghĩ – đã dứt khoát quyết định rằng hắn là người chỉ huy chiến dịch.
Tại Budapest, chúng tìm kiếm văn phòng cho thuê xe của hãng Volan và Saad đã đưa trình hộ chiếu với cái tên Amadeo Dekso, công dân của nước cộng hòa Argentina, mướn một chiếc Juyguli màu Bordeaux. Chạy đến một chỗ vắng, chúng khéo léo lắp đài vô tuyến điện và dùng tay đeo găng ấn thật chặt vào thanh chắn phía trước. Chiếc xe riêng của chúng mang nhãn hiệu Volkswagen, chạy từ Vienna đến đã thấy đậu ở chỗ để xe bên cạnh khách sạn trang nhã có tên là Hinton ở Budapest.
Nhờ tấm bản đồ và tờ chỉ dẫn do gã Carrini cung cấp, chúng tìm ra con đường rừng dẫn đến ngôi nhà nhỏ của Dodek không gặp trở ngại nào đáng kể. Tách khỏi đường nhựa, chúng đút xe vào một bụi cây ven đường và tiếp tục cuốc bộ xuyên qua rừng.
Bọn chúng đã nhìn thấy mái ngói căn nhà của người gác rừng lộ ra giữa đám cây. Mills rút từ trong túi ra tấm ảnh mà gã người Ý đã chụp dạo trước.
- Dường như đây rồi, – hắn nói.
Saad cũng nhìn vào tấm ảnh.
- Đến gần chút nữa xem sao.
Tới bên rìa một khoảng trống cạnh ngôi nhà, bọn chúng dừng lại, đứng sững. Trên hàng hiên nho nhỏ đồng thời cũng là lối vào nhà, đã thấy có một người đứng đấy, ngay chỗ tay vịn của lan can.
- Đúng là Dodek, – Saad thì thào.
Quả thật, đó chính là Dodek. Ông già đứng bất động, nhìn đâu đó về phía thung lũng. Trông ông cứ như được đẽo gọt từ một cây sồi hoặc tựa như một cây cột gỗ đang chống đỡ mái nhà. Dường như cuộc sống đã từ bỏ ông…
Mills rút khẩu súng ngắn. Saad thì sửa lại chiếc túi đang đeo bên hông. Từ trong bụi cây chúng theo nhau đi ra, từ từ tiến đến gần ngôi nhà. Dodek vẫn không hề nhúc nhích. Khi hai kẻ lạ mặt đã đứng trước Dodek, ông vẫn tiếp tục nhìn ra phía xa xa, mãi một lúc sau ông mới hỏi:
- Các anh tìm đường phải không? Chỗ này không có đường đi tiếp đâu.
Không có câu trả lời đáp lại. Dodek chuyển ánh mắt về phía hai người.
- Các anh cần gì? – Giọng của ông vang lên một cách điềm tĩnh. Nhìn thấy khẩu súng trong tay Mills, ông chỉ nhún vai. – Các anh sẽ không tìm thấy tiền ở đây đâu vì tôi không có thứ đó.
Mills nhảy một bước lên đến hàng hiên, chụp lấy vai ông già và xô ông về phía cửa.
- Đi vào nhà! – Hắn ra lệnh cụt ngủn.
Đôi đồng tử của Dodek mở rộng. Ông từ từ quay người bước vào phòng. Mills đi tiếp ngay sau ông. Saad dừng lại chỗ ngưỡng cửa, soi mói nhìn quanh rồi cũng bước vào nhà. Nhanh nhẹn cài then cửa, hắn bước lại bên cửa sổ, đặt chiếc túi của mình lên bệ và đứng nép mình sau rèm cửa để quan sát khoảng trống trước ngôi nhà.
Ông già dừng lại ở giữa phòng, nặng nhọc tựa người vào bàn.
- Các anh cần gì? – Ông lặp lại. – Tôi đã nói là tôi không có tiền.
- Điều đó chúng tôi đã nghe rồi! – Mills nạt ông già và quay về phía Saad. – Đem chiếc máy chữ ngoài hành lang vào đây.
Saad chấp hành mệnh lệnh.
- Coi lão đang làm gì này! – Saad kêu lên, cúi xuống trang giấy còn đặt trong máy. – Lão ta đang viết hồi ký. Đây là trang thứ 180 và căn cứ theo nội dung thì lão ta chỉ viết cho đến năm 1942.
Mills không đáp.
- Đánh thứ cần thiết đi. – Sau cùng hắn nói nhát gừng và lạnh nhạt.
Saad ngồi vào bàn, lắp giấy vào máy và bắt đầu gõ các phím chữ. Dodek định ngoái cổ lại nhìn nhưng Mills đã giận dữ quát lên:
- Đừng có mà ngoái lại! Rồi cũng sẽ đến lúc lão được biết mọi chuyện thôi!
Mills rời khỏi cửa ra vào để tiện quan sát xem có gì diễn ra bên ngoài cửa sổ và đồng thời theo dõi Dodek từ phía sau.
- Tôi hỏi lại một lần nữa, các anh cần gì ở tôi?
- Chốc nữa rồi ông sẽ biết, Istvan Dodek!
- Các anh biết cả tên của tôi kia à? Nhưng chúng ta chưa bao giờ gặp nhau kia mà. Vậy các anh là ai?
Saad lắp mấy tờ giấy nữa vào máy và lại gõ liên hồi trên các phím chữ.
- Thế nào? – Mills sốt ruột.
Kẻ tòng phạm đưa tay ra hiệu cho hắn biết là đã đánh máy xong.
- Bây giờ hãy đưa cho ông ta đọc!
Saad chìa bản đánh máy vào tận mắt ông già trong tư thế để ông không thể giật được tờ giấy ở tay hắn. Mills cầm tờ giấy thứ nhất trên bàn lên, không thèm đọc và đặt ngay lên bệ cửa sổ, bên cạnh chiếc túi.
Dodek rút kính ra, đặt lên sống mũi và đọc tờ giấy mà kẻ lạ mặt đứng đối diện đang cầm. Khi đã hiểu được ý nghĩa của những câu trong tờ giấy, nét mặt ông đỏ bừng lên vì căm giận. Đôi môi của ông run lên, nơi thái dương hằn lên đường gân máu đang co giật liên tục.
- Không bao giờ tôi ký tên để thừa nhận điều ghê tởm này! – Da mặt ông như căng ra, cằm nhô hẳn về phía trước. – Tôi không biết các anh là ai và ai đã sai khiến các anh nhưng tôi biết chắc một điều, các anh là những thằng đểu.
- Có nghĩa là ông không chịu ký? – Mills cố nén giận.
- Tôi đã nói rồi! – Dodek trả lời. Ông điềm tĩnh và lặng lẽ tháo kính cho vào túi áo.
Mills từ từ đưa khẩu súng ngắn lên. Ông già nhìn vào kẻ lạ mặt một cách hết sức thờ ơ.
- Anh có thể giết chết tôi, – ông lạnh lùng nói. – Trong suốt cả cuộc đời mình, tôi đã sống và nhìn cũng đã đủ để khỏi phải sợ cái chết.
Saad nhếch mép cười.
- Xem này, cái lão khọm già này cũng ngạo mạn gớm nhỉ!
- Đưa cái túi đây, nhanh lên! – Mills ra lệnh cho hắn.
“Hắn ta tự đề cao mình như thế có quá đáng không, cái thằng chó đẻ gọi là Mills này? Tại sao hắn cứ ra lệnh cho mình? – Saad nghĩ thầm. – Một thằng người máy không có chút mơ mộng nào”. Chính hắn cũng tỏ ra ngạo mạn trước ông lão bướng bỉnh, đầy kiêu hãnh này. Thử coi lão sẽ còn “hát” ra sao nếu đập tan được niềm kiêu hãnh của lão? Nhưng không có thời gian để làm việc này. Và hoàn cảnh nói chung cũng chưa thật thích hợp để đặt Mills vào đúng vị trí của hắn.
Saad đến gần cửa sổ, rút từ trong túi ra chiếc hộp thon thon bằng kim loại và để lên bàn.
Dodek xem tất cả trò chuẩn bị này với vẻ hết sức thờ ơ.
- Nếu như ông không tự nguyện ký vào đây, chúng tôi sẽ có cách bắt buộc ông phải làm điều đó, – Mills nói.
Thấy ông già lắc đầu và không hề thay đổi sắc mặt, Saad không còn giữ được tính hài hước của mình nữa. Hắn chụp vai Dodek, ấn ông ngồi xuống ghế bành và xắn tay áo bên trái của ông lên đến tận vai.
Mills rút ra một chiếc ống tiêm sáng chói và ống thuốc gì đó chứa đầy chất lỏng màu vàng. Rút thuốc tới phân nửa ống tiêm, hắn đưa đến chỗ cánh tay của Dodek mà Saad đã kéo căng ra và đè chặt xuống mặt bàn.
- Việc chích thuốc này không gây ra đau đớn gì hết nên tôi khuyên ông đừng có dẫy dụa. – Mills thản nhiên nói, đưa mắt tìm chỗ thích hợp rồi đâm kim, bơm vào mạch máu hết cả số thuốc trong ống tiêm. – Tuy nhiên, tác dụng của loại thuốc này rất dai dẳng, gần như không bao giờ chấm dứt.
Mặc dù mũi kim tiêm qua bàn tay thô bạo của Mills đã làm cho Dodek đau đớn không ít nhưng ông vẫn không hề run sợ, thậm chí ông còn không hề nhăn mặt.
Saad buông cánh tay ông già ra.
- Đây là thuốc Pcilocibin. Nó có tác dụng làm tê liệt sự đau đớn và làm cho những kẻ cứng đầu ngoan ngoãn hơn, – Saad nói. – Ở châu Âu, loại chế phẩm này chưa có ai biết đến. Người ta đã chế ra thứ thuốc này từ một loại nấm đặc biệt. Loại nấm này chỉ sinh trưởng ở Mexico. – Hắn gần như không đè nén được cảm hứng của mình. – Trong rừng của ông thì không thể tìm ra được loại nấm này đâu. Ở chỗ ông đặt chân tới thì chỉ còn sinh trưởng mỗi một loại nấm độc dùng để giết ruồi được thôi!
Dodek giương đôi mắt mờ đục của mình nhìn thẳng vào Saad và bất ngờ nhổ vào mặt hắn.
Saad tái mặt và nhảy lùi lại phía sau vì quá đột ngột. Hắn đã giơ nắm đấm định nện cho ông già một trận nhưng đúng vào lúc ấy hắn bỗng nhớ ra: mắt của Dodek đã quá kém. Tên gián điệp lau mặt bằng chiếc khăn tay và lại thì thầm vào tai Dodek:
- Ông sẽ không đủ thì giờ, thậm chí chỉ để ân hận vì điều đó! Còn những tờ giấy này ông nên ký ngay đi bởi vì chúng tôi muốn như vậy. Ống thuốc sẽ phát huy tác dụng của nó. Ông sẽ nói và làm tất cả mọi điều mà chúng tôi ra lệnh cho ông. Chúng tôi cần hai chữ ký của ông, tự tay ông ký kia, hiểu không? Chúng tôi sẽ có những chữ ký đó!
Dodek kiệt sức, lặng lẽ nhìn về phía trước.
Bằng một cử chỉ thô bạo, Mills đẩy Saad sang một bên và đứng thay vào chỗ Saad vừa đứng.
- Dỗ dành thế đủ rồi! – Hắn cúi xuống ông già bất lực và khi nhìn vào đôi đồng tử mờ đục của ông, hắn thấy trong đôi mắt của ông biểu lộ sự đau đớn. Phải nắm lấy thời cơ này. Là phái viên của Benks, hắn rất có kinh nghiệm trong những công việc đại loại như thế này. Mills bèn đưa ra hết câu hỏi này đến câu hỏi khác một cách ngắn ngọn, gay gắt và cục cằn. – Tên ông là Istvan Dodek phải không?
Dodek nhìn hắn và miễn cưỡng gật đầu.
-Ông giấu tiền ở đâu?
- Dưới ngăn tủ.
- Bao nhiêu?
- Tám chục ngàn forint.
- Ai biết chuyện này?
- Các bạn tôi…Không còn ai khác.
- Bạn của ông tên gì?
Nét mặt của Dodek biểu hiện một sự đau khổ đến tuyệt vọng trước sức ép của Mills. Ông muốn khép kín mình lại, muốn câm nín hoàn toàn nhưng đã không còn đủ sức để làm việc đó.
- Bela Imre…
- Còn ai nữa?
- Balint Rona.
Mills và Saad đưa mắt nhìn nhau. Saad nháy mắt ra ý bảo đấy chính là điều mà bọn chúng đang cần phải dò la cho được.
- Balint Rona là ai, đang làm nhiệm vụ gì? – Mills tiếp tục thẩm vấn theo kiểu của mình.
Dodek muốn dốc toàn lực để chống lại ý muốn của kẻ xa lạ nên nén chặt tiếng nói của mình vào bên trong, không cho thoát ra ngoài. Im lặng, chỉ có im lặng! Nhưng kẻ tra tấn ông tỏ ra kiên tâm một cách tàn nhẫn, cứ lặp đi lặp lại câu hỏi của mình, hết câu này đến câu khác.
- Balint Rona là ai? Là ai?
Dodek rũ người, giọng đã bắt đầu thấy có vẻ khó nghe:
- Trung tá phản gián…
Mills ưỡn thẳng người và xác nhận một cách mãn nguyện:
- Rất khớp với tài liệu của chúng ta!
Saad gật đầu và nhanh như chớp lao đến chỗ kê chiếc tủ. Đẩy ngăn kéo phía trên ra, hắn lập tức chúi đầu vào tìm kiếm thứ mà hắn cần tìm – vũ khí. Khẩu súng ngắn của Dodek được đặt bên cạnh chiếc túi ở bệ cửa sổ. Trong khi đó, Mills đặt trước mặt ông già tờ giấy đã được đánh máy trước tiên.
- Ký đi! – Hắn ra lệnh.
Dodek không nhúc nhích.
Saad vội vàng đến bên bàn và nhét chiếc bút bi vào tay con người bất hạnh.
- Ký đi, ký vào đây này! – Nhắc lại lệnh của Mills, Saad trỏ ngón tay vào cuối trang giấy.
Toàn thân Dodek run lên bởi sự căng thẳng bản năng. Không, ông hoàn toàn không muốn. Nhưng tay ông bắt đầu giơ lên, giơ lên cao nữa…Cuối cùng ông đã ký xong.
Mills gấp ngay tờ giấy lại và cất vào trong túi. Cùng lúc đó, tên đồng mưu với hắn đặt xuống dưới tay của Dodek tờ giấy thứ hai, trong đó chỉ có vỏn vẹn mấy dòng chữ. Hắn cẩn thận cầm lấy tay ông già, đặt cây bút vào chỗ các ngón tay đã rời ra và hướng đầu bút vào chỗ cần thiết phải có chữ ký. Lần này Dodek ký một cách vô thức, hoàn toàn không có chút phản ứng lại. Cây bút rời khỏi các ngón tay, lăn trên bàn. Mí mắt khép lại và thân hình mềm oặt, ông ngã vào lưng ghế, bất động.
- Lau dấu tay! – Mills ra lệnh.
Cả hai tên gián điệp hấp tấp lau chùi những dấu vết mà chúng vừa để lại ở tủ, trên các phím của chiếc máy chữ, trên bệ cửa sổ và trên các đồ vật khác mà chúng đã đụng đến. Chúng cũng làm như vậy với hai tờ giấy có chữ ký của Dodek. Chúng làm rất nhanh và phối hợp rất ăn khớp với nhau. Kết thúc công đoạn lau xóa toàn bộ các dấu vết, Mills lôi từ trong túi ra một đôi găng, xỏ tay vào, dùng tay trái cầm lấy khẩu súng ngắn của Dodek. Chùi khẩu súng một cách đặc biệt cẩn thận, hắn đi đến bên cạnh nạn nhân.
Ở chỗ mũi kim đã cắm vào, một tia máu mỏng manh từ từ chảy theo cánh tay trần của Dodek. Lúc này Saad chỉ còn chú ý đến chỗ đó. Lấy từ trong túi ra một miếng bông, hắn thấm vào đấy một chất nước và thận trọng lau chùi khu vực đã chích thuốc. Sau đó hắn kéo ống tay áo sơ –mi của Dodek xuống và cài khuy măng –sét lại.
- Giờ thì ổn rồi, – hắn nói.
Thay cho câu trả lời, Mills đặt khẩu súng vào tay của ông già bất lực và từ từ giơ cánh tay của ông lên cho đến khi nòng súng tới ngang tầm mắt ông. Lúc ấy hắn ép chặt khẩu súng vào thái dương ông rồi nhấn vào cò súng.
Trong khu rừng yên tĩnh, tiếng súng vang lên chẳng khác gì một tiếng sét. Saad nhảy bổ đến bên cửa sổ kinh hãi vươn cổ ra ngoài quan sát chung quanh. Nhưng bốn phía vẫn im ắng như cũ, thậm chí không một nhánh cây nào lay động.
Mills thả tay Dodek. Đầu ông già đổ gục trên bàn. Khẩu súng rớt xuống bàn gỗ nghe đánh cộp một tiếng. Trên mặt bàn, những giọt máu loang phủ lên tờ giấy có vài dòng chữ mà nạn nhân đã ký tên trước khi bị sát hại.
Nấn ná thêm một lúc, hai tên gián điệp cùng nhìn lại gian phòng lần nữa để kiểm tra các dấu vết còn lại. Mills lượm từ dưới sàn nhà lên miếng bông hấp đã dính máu do lau chỗ chích thuốc bỏ vào trong túi và bước về phía cửa. Saad vội vàng chụp chiếc túi của mình trên bệ cửa sổ, nối gót theo sau.
Ra đến hàng hiên, chúng dừng lại một vài giây để quan sát và nghe ngóng động tĩnh, sau đó cả hai băng qua khoảng đất trống và mất hút trong khu rừng rậm. Đây đó chỉ còn nghe thấy những tiếng kêu xao xác của đám chim sắp đậu xuống khu rừng. Đẩy chiếc xe đã giấu ra khỏi bụi rậm, chúng nổ máy, chạy đến chỗ vắng vẻ nhất của ngày hôm đó và phóng thẳng một mạch về Budapest.
Tiếng động cơ của chiếc juyguli vừa mới im bặt ở đằng xa, từ trong một bụi cây nhỏ đối diện với hành lang của nhà Dodek bỗng lách ra một người đàn ông. Đó là Thomas Phoster. Thận trọng từng bước, hắn dò dẫm quanh nhà, sau đó bước lên hàng hiên và lắng tai nghe. Tất cả vẫn im lặng. Đến lúc ấy, Phoster mới mở cửa và bước vào phòng.
Dodek vẫn gục mặt trên bàn. Không có vẻ gì là vội vàng, hắn chăm chú nhìn khắp gian phòng và ánh mắtdừng lại trên thi thể người chết trong chốc lát. Sau đó hắn đột ngột quay phắt lại và biến mất vào trong bụi cây – cũng lặng lẽ và đột ngột như lúc hắn xuất hiện.
Nora và Habor ở Venice những ngày cuối cùng. Chi nhánh du lịch Ibus đã tổ chức chuyến đi khá thành công. Đã bắt đầu vào hè, vì tất cả các khách sạn ở cái thành phố tuyệt diệu này đều đã đầy ắp người nên họ được bố trí ở một khách sạn nhỏ nhưng tiện nghi, trông ra một cái vịnh nhỏ êm đềm. Căn phòng được bày biện mhững thứ đồ gỗ loại cổ và có mùi thơm thoang thoảng giống như mùi lá chanh.
Habor đang bận rộn với chiếc máy quay phim 8 ly, vừa lắp xong phim đúng vào lúc cô vợ trẻ của anh ta hiện ra ở ngưỡng cửa phòng tắm.
- Em chỉ chuẩn bị một phút nữa là xong thôi, anh thân yêu ạ, – cô nói cho chồng yên tâm. Rồi cô ta biến mất sau cánh cửa tủ đựng quần áo, nhẹ nhàng rút chiếc áo dài mỏng để mặc.
- Hôm nay anh muốn quay cung điện trứ danh này với những vòm cửa sổ có kiến trúc uốn cong theo kiểu lưng lừa, nhưng điều chủ yếu là để quay con lừa ở cạnh cửa ra vào ấy.
- Hừm. Do đâu mà anh biết ở đấy có một con lừa?
- Chẳng lẽ chúng ta chưa thống nhất với nhau là em cũng sẽ tới đó hay sao?
Từ sau cánh cửa tủ một đôi giày phụ nữ bay ra như hai viên đạn đại bác. Habor lật đật chụp lấy đôi giày lúc chúng còn đang bay.
- Nhân tiện đến đấy, chúng ta cần phải gửi bưu thiếp cho bố em, – Habor nói, chuyển sang giọng nghiêm trang. – Hiện thời ai mà biết được là chúng ta còn có thể đến Venice lần nữa hay không. Buổi trưa ngày mai chúng ta phải đến Roma rồi.
- Được anh quan tâm như vậy, em rất cảm ơn, anh Habor ạ! Điện tín của chúng ta, tất nhiên là bố đã nhận được rồi. Nhưng nếu như có cả bưu ảnh phong cảnh cung điện của các vị vua thời Trung cổ này, theo em nghĩ, bố cũng rất vui. Tội nghiệp, bố rất cô đơn, chúng ta phải tạo cho bố những niềm vui nho nhỏ như thế.
- Xin lỗi, nhưng tại sao bố lại không lấy vợ nhỉ?
- Bố không muốn. Bố có nói rằng mẹ em đối với bố, như bố đã từng bày tỏ, là đạt yêu cầu một trăm phần trăm. Còn nếu như muốn tạo lại một cơ hội như vậy trong đời thì quả là bố không có khả năng…
- Đúng rồi. Bố em quả là một con người phi thường. Đó là một sự thật.
Tính chân thật trong những câu nói của Habor đã làm Nora xúc động. Cô luồn mấy ngón tay vào mái tóc của Habor và âu yếm kéo anh vào lòng.
- Anh biết không, Habor, dù sao anh cũng là một chàng trai tuyệt diệu. Em đã không lầm.
Cô gái nhanh nhẹn cúi xuống, nhấc chiếc túi đan bằng những cộng rơm để trên chiếc bàn ở đầu giường của mình lên và chỉ một thoáng sau, cô ta xoay người trên đôi giày cao gót, ngay bên cạnh cửa ra vào.
- Ông hoàng tốt bụng ơi, sao bắt người ta chờ lâu quá thế! Ông không thấy ngượng hay sao?
Họ khóa cửa. Ổ khóa đã cũ kỹ cứ kêu lên ken két trong khi họ vặn chìa khóa.
Phía sau cánh cửa ngăn cách căn phòng của đôi vợ chồng mới cưới với căn phòng kề sát đó bỗng như có tiếng sột soạt, sau đó không hề nghe thấy tiếng xoay tay cầm nhưng lại thấy Carrini xuất hiện ngay trên ngưỡng cửa. Nhanh nhẹn tiến đến bên cửa sổ và vẫn để nguyên màn che, gã nhìn ra đường phố: hai người trẻ tuổi đang âu yếm dìu nhau vượt qua chiếc cầu nhỏ dẫn tới Hoàng cung.
Carrini đi về phía tủ, kéo chiếc va –li đi đường của Habor ra.Trong tay gã suất hiện con dao mổ bằng thép sáng chói. Nhanh nhẹn và khéo léo, gã rạch lớp vải lót. Khe hở vừa lộ ra, gã liền đặt vào đấy một chiếc ống nhỏ dẹt bằng thép đã được bôi một chất keo tổng hợp. Ép chặt chiếc ống ấy vào thành va –li, Carrini cẩn thận ngụy trang những dấu tích của vết rạch. Và khi đã tin chắc rằng chiếc ống mà gã vừa nhét vào không bị cộm cả ở bên ngoài lẫn bên trong, gã bèn lấy từ trong túi ra chiếc ống nhỏ có đựng chất keo đặc biệt và thận trọng dán kín lại chỗ đã bị rạch.
Đưa máy ảnh lên, gã chụp chiếc va –li hai kiểu: kiểu đầu là toàn bộ chiếc va –ly và kiểu thứ hai, quan trọng hơn, gã chụp chỗ đã bị rạch có chiếc ống ở bên trong lớp vải lót.
Cẩn thận đặt va –li vào vị trí cũ, Carrini rón rén bước đến chỗ cửa mà trước đó hắn đã xuất hiện và biến mất sau cánh cửa. Một tiếng động nhỏ vang lên, nắm tay cầm lại quay về vị trí cũ.