Carrini chuẩn bị đối phó với sự tiến triển đều đặn của các sự kiện, nhưng không ngờ ngay từ ngày đầu tiên đã bị lôi vào cuộc chạy đua dữ dội. Từ sáng, gã làm như chẳng có tính toán gì và cũng chẳng có chút công chuyện nào. Gã ngồi bình thản trong chiếc Fiat của mình, đậu áp sát vào lề đường, đối diện với lối vào chính của tòa nhà hành chính “Viện năng lượng” và chờ đợi. Gã để chiếc máy ảnh nhỏ xíu có trang bị một ống kính chụp xa cực mạnh ở chiếc ghế bên cạnh.
Lúc 7 giờ sáng, ở bên cạnh cửa ra vào dường như không thấy có sự hoạt động nào cả. Đến 8 giờ 30, khoảng sân trước cổng mới như sống lại – đấy là lúc cán bộ công nhân viên của viện đến làm việc.
Viện trưởng xuất hiện lúc 9 giờ 30. Bước qua chiếc cửa kính, Imre dừng lại ở bậc tam cấp trên cùng. Trong tay ông xách chiếc cặp samsonite màu nâu sẫm.
Carrini vội vàng lắp ống kính và bấm máy một vài lần.
Viện trưởng nhìn quanh khoảng sân trước và tòa nhà, chắc có lẽ tìm chiếc xe hơi của mình. Từ một góc chỗ đậu xe, chiếc Mercedes màu đen như đang bắt đầu lăn bánh. Imre thong thả rời bậc tam cấp, bước về phía xe.
Chiếc máy ảnh của gã người Ý khẽ kêu tanh tách ba lần liền. Gã chụp bức ảnh thứ tư khi viện trưởng đã vào ngồi cạnh người lái xe và bức thứ năm, lúc xe đã chạy được một đoạn, để ghi lại biển số.
Quẳng chiếc máy ảnh sang bên, Carrini mở hết tốc lực và phóng đuổi theo chiếc xe du lịch trang nhã của viện trưởng.
Imre bước ra khỏi xe, đi đến bên cạnh cửa ra vào của cơ quan Bộ. Gã người Ý còn bấm thêm một kiểu ảnh nữa mới đi đến chỗ chiếc Fiat của mình, trườn vào khóa cửa và ngừng lại để tính toán. Làm gì tiếp theo đây? Làm thế nào để có thể lọt được vào tòa nhà ngay sau đối tượng mà không ai hay biết gì? Để đề phòng bất trắc, gã đeo chiếc máy ảnh lớn của mình vào cổ, nhét chiếc nhỏ vào túi quần và lững thững như người tản bộ về hướng tòa nhà của Bộ.
Gã gặp may một cách bất ngờ – một đám đông vừa ký giả vừa phóng viên nhiếp ảnh đang túm tụm ở gần cổng ra vào. Gã đến ngay bên cạnh người gác cổng đội mũ lưỡi trai đồng phục. Anh ta đã nhìn thấy trên cổ Carrini chiếc máy ảnh cùng với ống kính nhà nghề nên không hề có chút nghi ngờ nào. Gã nhân cơ hội đó nhập vào đám ký giả đang ồn ào đi vào cổng.
Các đại diện báo chí, đài phát thanh và vô tuyến truyền hình đã tới để chứng kiến lễ ký kết bản hiệp định về sự hợp tác quốc tế. Carrini bám theo đám quay phim vô tuyến như keo, không rời một bước. Gã đưa mắt dò xét, nhìn vào bên trong tòa nhà để kiếm Imre.
Những cánh cửa lớn của phòng họp trên tầng ba đã rộng mở. Ngay giữa phòng người ta kê theo chiều ngang một chiếc bàn vừa dài, vừa rộng, trên đó có phủ một tấm dạ in hoa màu nâu sẫm. Ở giữa bàn có để ba chiếc cặp màu da dê giống y như nhau.
Người đầu tiên Carrini trông thấy lúc còn đứng ngoài cửa chính là Imre. Lúc này ông đã ngồi vào bàn. Bên phải của ông là một phụ nữ trung niên, dáng người cân đối và điệu bộ chững chạc. Chị ta có mái tóc màu hạt dẻ sáng và bộ mặt khá nghiêm nghị. Bên trái ông là một người đàn ông cũng đã trọng tuổi, nhỏ người, mặc bộ đồ màu xám, có đeo kính. Người đàn ông mỉm cười một cách hiền lành. Cùng lúc, những chiếc đèn chiếu ánh sáng của vô tuyến truyền hình, những chiếc đèn flash của các máy chụp ảnh đều nhất loạt sáng bừng lên. Carrini không hề mất thì giờ.
- Trong số họ ai là người Nga? – Người cầm đèn đang điều chỉnh ánh sáng chiếc đèn của mình hỏi khẽ.
- Người phụ nữ, – tay làm phim thời sự trả lời. – Anh hãy theo sát bên tôi khi tôi đến gần bà ta cùng với camera.
Phóng viên tin tức của Đài truyền hình nói nho nhỏ vào chiếc micro mấy lời để chú giải cho một đoạn phim:
-“Trong sự hợp tác quốc tế về khoa học và kỹ thuật giữa các nước thành viên của khối Hội đồng tương trợ kinh tế hiện nay đã có hơn 2.200 tổ chức khoa học và khoa học thực nghiệm tham gia”.
Carrini dịch lại gần chỗ anh ta. Gã mân mê chiếc cúc nơi ve áo của chiếc veston, xoay nó về phía người phóng viên và ấn nút chiếc máy ghi âm nhỏ xíu vẫn giấu trong túi.
Phần nghi lễ được tiến hành một cách bình thường như bất kỳ ở đâu: cũng ký kết, cũng bắt tay và những lời chúc mừng. Do có thủ trưởng đi theo để chứng kiến lễ ký kết, tất cả mọi người đi vào phòng làm việc của Bộ trưởng.
Carrini biết rằng đã đến lúc mình phải chuồn khỏi chỗ này. Không để ý đến những hoạt động xung quanh, gã tắt máy ghi âm và lẩn vào đám đông phóng viên báo chí, rời khỏi tòa nhà của Bộ.
Gã vào một quán ăn nhỏ ở trong một ngõ hẻm cách đó hai phố, vội vã ăn lót dạ bằng món gan nấu theo đúng khẩu vị của mình. Sau đó, gã ung dung trở lại chỗ chiếc Fiat, cho xe chạy vài vòng để giết thì giờ. Rồi, căn cho thật chính xác cự ly, gã cho chiếc xe tiêu thụ rất ít nhiên liệu của mình đỗ tại bãi để xe, ở một vị trí thuận lợi cho việc theo dõi chiếc xe Mercedes màu đen.
Chiếc xe của Bela Imre dừng lại chỗ đường vòng đầu đại lộ Ianas, đối diện với chi nhánh Ibus. Carrini cũng dừng lại cách đó không xa. Lần này gã chụp được hai tấm ảnh: viện trưởng rời khỏi xe và viện trưởng trên nền tấm biển quảng cáo Ibus. Gã lại gặp may: Imre dừng lại bên cửa ra vào, chờ một người phụ nữ từ trong đó bước ra.
Gian phòng ngoài rộng rãi, vắng vẻ. Imre đi về phía quầy bán vé có tấm biển: “Đi tham quan các nước châu Âu dành cho cá nhân”.
- Tôi tên là Bela Imre, – viện trưởng tự giới thiệu với nhân viên của chi nhánh.
Cô nàng đeo kính lịch thiệp trả lời:
- Vâng ạ. Chúng tôi đã chuẩn bị xong xuôi cho ngài rồi ạ. – Vừa nói, cô vừa đặt trước mặt viện trưởng chiếc phong bì có đựng giấy tờ gì đó.
Carrini không chủ tâm đến gần và làm ra vẻ đang nhìn tờ quảng cáo bày trong tủ kính, cầm lấy tờ giấy và rút bút ra. Đồng thời – tất nhiên là như thế – gã lại mở chiếc máy ghi âm bé xíu của mình.
- Chúng tôi đã tổ chức một cách suôn sẻ theo lộ trình đúng như ngài đã đề xuất. – Cô gái cố gắng làm vừa lòng khách hàng.
Imre cảm ơn và mở chiếc samsonite của mình nhét hết mọi thứ giấy tờ ông vừa nhận được vào đấy.
Lớp vải lót bên trong chiếc samsonite màu olive.
Cô gái chăm chăm nhìn người khách.
- Xin đợi một lúc, – cô gái yêu cầu. – Ngài làm ơn coi lại giấy tờ, biết đâu ngài có thể bất ngờ phát hiện ra điều gì còn chưa rõ ràng chăng. Xin lỗi, người ta đã ủy thác cho tôi lo vụ này với sự lưu ý đặc biệt. Người ta nhấn mạnh rằng đây là một chuyến du lịch trăng mật!
Cô gái tò mò nhìn người đàn ông đã không còn trẻ đứng trước mặt mình.
Khó khăn lắm Imre mới khỏi bật ra tiếng cười:
- Đây không phải là chuyến du lịch trăng mật của tôi, – ông trả lời một cách lúng túng và ngay lúc ấy, ông cảm thấy bực mình vì chuyện này. – Đây là chuyến đi của con gái tôi và chồng của nó.
- Vâng, tất nhiên rồi. – Sự hào hứng của cô nàng đeo kính càng làm Imre bực bội: chẳng lẽ ông già đến mức không còn có thể lấy vợ được nữa sao? Nhiệt tâm thái quá đối với công việc khiến cô gái cứ nói ào ào, không còn cảm thông được với người tiếp chuyện. – Tôi còn nhớ rõ cả tên họ của họ nữa kia. Habor Jakay và vợ của anh ta vốn có tên là Nora Imre đúng chưa nào?
- Quả là cô có trí nhớ cực tốt, thưa cô!
Imre rút khỏi bao giấy thứ tự từng tờ và đọc lướt qua để biết chắc trong đó người ta viết hoàn toàn đúng tên họ.
- Ông cho phép? – Cô gái tỏ ra nghiệt ngã. Cô ta giật khỏi tay ông cả xếp giấy tờ, kể cả chiếc phong bì đựng chúng, để trình bày rành rẽ từng phần cho người khách . – Xin hãy chú ý cho! Chuyến đi sẽ được khởi hành tại Budapest vào ngày 12 tháng 6. Hai vợ chồng sẽ đến Venice vào buổi sáng ngày hôm sau và ở lại đấy bốn ngày ba đêm. Buổi chiều ngày thứ tư sẽ khởi hành đi Roma . Họ sẽ ở lại Roma ba ngày hai đêm. Từ Roma họ sẽ đi máy bay qua Zurich rồi sang Munich. Họ sẽ lưu lại thủ phủ xứ Bavaria bảy ngày sáu đêm, mục đích là đến thăm Hamburg. Hành trình trở về sắp xếp trong hai ngày, trong đó có hai đêm họ sẽ ngủ lại ở Vienna. Suốt cuộc hành trình họ sẽ được sắp xếp nghỉ lại ở những khách sạn sang nhất. – Cô gái dừng lại để lấy hơi. – Còn bây giờ, xin mời ông hãy qua chỗ thu ngân và thanh toán toàn bộ chi phí của chuyến đi… Trong thời gian ấy ở đây tôi sẽ bọc giấy tờ lại.
Hai câu cuối Carrini nghe được lúc đã đi về phía lối ra được một đoạn. Đến bên cạnh cửa ra vào, gã quay ve áo của chiếc veston về phía mình và nói thêm vào micro:
- Lớp vải lót trong chiếc samsonite màu olive.
Kết thúc một ngày làm việc, Imre cho người lái xe về nhà, tự mình ngồi vào sau tay lái của chiếc Mercedes màu đen. Đến chỗ hẹn, ông đậu xe lại, ngồi trên xe đợi người bạn là trung tá Balint Rona sẽ đi ngang qua sông Dunai, dọc theo cầu treo và phóng nhanh về phía quả đồi Pilis có tiếng là ngoạn mục.
Là một người tóc vàng sậm, mạnh mẽ như gấu và giản dị, thái độ luôn luôn trầm tĩnh, trung tá Rona im lặng nhìn ra đường một lúc lâu, đến khi nhìn thấy Imre đang cố sức cho xe chạy vượt hết xe này đến xe khác, đã không nhịn được, phải cằn nhằn.
- Tớ thấy cậu đã học được chút ít gì đó ở cô thư ký của cậu rồi đấy! Cậu muốn làm một tay đua xe giống như cô ta chắc. Đây là chiếc xe Rangli[1] phải không?
- Tớ linh cảm có một cái gì đó không hay. Tớ không hiểu là việc gì nhưng tớ luôn nghĩ đến ông cụ, – sau khi ngừng, Imre cố gắng nói tiếp bằng một giọng khác. – Nhân tiện nói đến Tereza, vào chủ nhật trước cô ta đã thay đổi thành một người khác. Thử nghĩ xem, thường cứ mỗi buổi sáng,chưa đầy năm phút là cô ta đã bưng cà phê cho tớ rồi!
Rona gõ gõ ngón tay trên chiếc khóa thắt lưng.
- Họ lại trút cái vụ này xuống tấm thân 100 ký của cậu rồi, – bằng cái giọng thường hay cằn nhằn, Rona kết luận. – Bao giờ tớ cũng phải gồng vai mà gánh chịu hết. Cậu lo chuyện gì thế? Cái gì đã xảy ra với ông cụ?
- Tớ không biết chính xác. Ông cụ cứ ủ ê thế nào ấy. Cách đây ba hôm tớ có nói chuyện với ông cụ qua đường liên thị. Bệnh đái tháo đường của ông cụ có vẻ tăng. Liên tiếp mấy hôm nay người ta không cho ông cụ uống insolin[2] mà bác sĩ không hiểu sao cũng chẳng thấy đến. Đối với ông cụ, tình trạng này không phải là đơn giản, nhất là ông cụ lại ở một mình và cũng đã cao tuổi.
- Thế cậu bảo phải làm gì? Dodek chỉ thấy trong người khỏe ra lúc ở đấy, trong cái túp lều gỗ này và xa cách hết thảy mọi người thôi. Cậu có hiểu rằng như thế là ông ta gàn không?
Cả hai cùng im lặng trong chốc lát. Rona vừa kính trọng vừa yêu mến Dodek nhưng cũng đã hơn một lần nghĩ là ông già cần thiết phải sống tách biệt như thế. Có thể là vì ông ta từng bị ngồi tù gần bốn năm trời do lời buộc tội sai lầm, nhưng ông ta được trả tự do và phục hồi danh dự cách nay cũng đã hai mươi năm. Nghĩa là đã một phần tư thế kỷ rồi.
Họ cùng rời khỏi đường nhựa và rẽ về bên trái, đi theo con đường rừng.
Đến đoạn này thì Carrini đã đuổi kịp họ bằng chiếc xe Fiat của mình. Gã người Ý không rẽ ngoặt vào con đường rừng mà vượt qua một đoạn rồi đậu xe ở ngay lề đường nhựa. Đợi ở đấy chừng mấy phút, gã đeo máy ảnh vào cổ, chui ra khỏi xe, khóa cửa lại và đi sâu vào trong rừng.
Trong lúc đó Imre và người bạn đồng hành đã đến trước một ngôi nhà gỗ tròn, kiểu nhà của người gác rừng được trang trí bằng những nét chạm trổ khá cầu kỳ.
Ngay từ vẻ ngoài, ngôi nhà đã có sự hấp dẫn đối với những người tới đây. Phía dưới có bậc tam cấp dẫn đến một hàng hiên không rộng và Istvan Dodek đã đứng đợi sẵn ở đó.
Chủ nhà có mái tóc húi cua đã bạc trắng. Đôi mắt ngày nào màu xanh lam giờ đây đã trở nên lờ đờ. Bộ mặt của ông đã hằn những nếp nhăn của thời gian và trở nên buồn bã. Mặc dù Dodek chưa tới tuổi 60 nhưng dáng vẻ rõ ra là một ông già.
- Công việc thế nào, Pista[3] ? – Giọng nói sang sảng của Rona vang lên. – Ủa, con Sedar sao không thấy chạy ra mừng chúng tôi như mọi khi?
Ông già lắc đầu một cách buồn bã và chỉ sau khi không khí trở lại thân mật, ông mới nói khẽ:
- Sedar bây giờ thì không còn chạy ra mừng ai được nữa. Tôi cảm thấy rõ ràng là hai tuần nữa tôi sẽ về hưu và phải dọn nhà vào trong làng. Nó cũng không muốn dọn đến chỗ ở mới, thế là nó bỏ tôi luôn.
- Chẳng lẽ nó trốn mất rồi à? – Imre ngạc nhiên.
- Không. Xét về khía cạnh phản bội, nó không có khả năng. Sedar là một con chó chứ không phải là con người. – Im lặng một lát, Dodek nói tiếp. – Nó đã chết vào tuần trước. – Trong đôi mắt của ông lão biểu hiện một sự đau đớn tột độ.
Imre nhìn sang bạn vẻ cảm thông.
- Đừng buồn nữa, ông bạn già. Việc này có thể khắc phục được. – Giọng của viện trưởng vang lên vui vẻ một cách thiếu tự nhiên. – Tôi có thể tìm cho ông bạn một con cún con khác.
- Không cần. Cứ trông thấy cái chuồng mà con Sedar đã từng ở là tôi không muốn có một con chó nào khác. Với lại, ngôi nhà nhỏ của tôi ở trong làng đã xong xuôi cả rồi, cần phải dọn về đấy. Trong làng thì tất nhiên là không phải như trong rừng, cần gì đến chó kia chứ? – Dodek cố gắng thay đổi giọng nói. – Thôi, coi như không có chuyện gì xảy ra! Các anh hãy cứ ngồi tạm ngoài này, – ông chỉ hai chiếc ghế đẩu đặt bên chiếc bàn có phủ một tấm khăn sặc sỡ kê ở góc hàng hiên. – Bây giờ tôi phải vào kiếm cái gì đó nhậu sơ sơ một chút.
Ông già đi vào nhà. Imre và Rona lặng lẽ đưa mắt nhìn nhau. Trung tá vẫn ngồi yên một chỗ, còn Imre đi qua một lối khác đến cuối hàng hiên, ở đấy thấy kê chiếc bàn con trên đặt chiếc máy đánh chữ.
- Ông ấy không hề làm việc, – Imre nói. – Trên máy chữ vẫn chỉ có một trang mà tôi đã nhìn thấy từ chuyến đến đây lần trước.
- Có thể là cái chết của con chó đã phá vỡ nếp sinh hoạt bình thường của ông cụ rồi. Nhưng không hề gì. Cậu cố tác động ông cụ. Tớ thấy là bao giờ ông cụ cũng nghe cậu.
Dodek quay trở lại. Ông ta đem ra bánh mì và thịt.
-Ồ, thật là hoang dã! Phải chăng đây là thịt heo rừng? – Imre tỏ vẻ khoái chí.
Ômg già nháy nháy mắt một cách ranh mãnh.
- Ở trên đĩa thì nó không còn là heo rừng nữa!
Dodek từ chối uống rượu và rót đầy ly cho trung tá. Imre yêu cầu cho một ly nước lạnh vì còn phải lái xe.
- Chúc sức khỏe các cậu, những người bạn của tôi! – Ông già nâng cốc.
- Vì sức khỏe của ông bạn!
Cũng vào lúc này, Carrini đang len lỏi qua những bờ bụi rậm rạp, trở lại phía sau, nơi để chiếc Fiat của mình. Gã tỏ ra vừa ý vì đã chụp được khá nhiều tấm ảnh, kể cả toàn bộ buổi “tam hội vườn đào”[4].
- Tôi thấy là anh đã trở nên lười biếng rồi đó! – Sau bữa ăn, Imre bắt đầu quở trách Dodek một cách nhẹ nhàng. – Suốt cả tuần mà chẳng có lấy một dòng chữ nào. Thế thì những người làm việc ở viện Nghiên cứu lịch sử phong trào công nhân sẽ nói gì bây giờ? Quả thực là họ đã cố gắng rất mực để những hồi ký của anh không chỉ được in ra mà còn chiếm được chỗ trên giá sách.
- Trên giá sách không có các nhân vật của tôi thì đâu phải là tai họa gì ghê gớm, – đang lim dim, Dodek bỗng đưa tay phải đặt lên chỗ cao hơn vùng thắt lưng chút ít, mặt nhăn lại tỏ vẻ đau đớn. – Rồi, lại không cất mình lên được đây này. Tôi không tài nào đánh máy đươc, thật là khổ hết sức.
- Té ra là thế hả Dodek? Tôi sẽ đưa cho anh tấm phiếu đến nhà an dưỡng. Anh sẽ đến chỗ có suối nước nóng ở Hoviz. – Rona nói.
- Trời có vẻ trở lạnh, – Dodek nói. – Tốt hơn hết là chúng ta dọn vào trong nhà.
Cả ba hợp sức dọn dẹp các thứ trên bàn. Imre trao cho ông già một tấm thiếp mời được in bằng giấy bóng cứng. Dodek đeo kính lên.
- Tin thế này mới là tin chứ! Thế có nghĩa là con gái cậu đi lấy chồng?
- Thì anh đọc rồi đấy thôi! – Imre đáp lại. – Giờ thì tôi cũng sẽ quay về với sự cô đơn. Anh có thể cho tôi một vài lời khuyên bổ ích về cách làm người trong hoàn cảnh như vậy.
- Rất sẵn lòng! Đối với bộ môn khoa học này thì tôi thuộc hàng giáo sư. – Dodek vừa nói vừa cười một cách cay đắng.
Nhân lúc thuận tiện, đại úy Istvan Kuty bày tỏ những ý nghĩ về văn học cho thủ trưởng trực tiếp của mình – Balint Rona.
- Gần đây tôi có trao đổi với một nhà báo quen biết, giới thiệu cho anh ta quyển tiểu thuyết trước kia và hai truyện ngắn mà tôi đã viết.. Theo ý kiến của anh ta, những câu thoại của tôi viết rất khá. Anh ta nói, tôi quả là có tài năng và cần phải viết kịch bản sân khấu!
Rona gật đầu đồng tình. Ông giữ nguyên vẻ mặt nghiêm nghị, nhìn chăm chăm vào anh chàng cao ngồng có bộ tóc sẫm màu luôn luôn sôi động bây giờ lại đang có vẻ mơ mộng. Chính ông là người đã từng nuôi dưỡng và giáo dục chàng thanh niên Kuty này và lấy làm thích thú về điều đó.
Chính cái “tiểu thuyết cũ” mà Kuty vừa nói làm cho ông nhớ lại cách đây chín năm, lúc họ có dịp quen biết nhau. Kuty là nhân viên kỹ thuật nhưng ánh hào quang của văn học đã hoàn toàn hấp dẫn anh ta, thế là anh ta bắt đầu cắm cúi viết một quyển trường thiên tiểu thuyết trinh thám, còn nhà xuất bản thì lại gửi quyển tiểu thuyết này cho Rona, yêu cầu ông nhận xét bản thảo với tư cách là một chuyên viên phản gián.
Cho đến tận bây giờ Rona cũng không thể nín được cười mỗi khi mhớ lại chuyện này. Quả là một chuyện không lấy gì làm tốt đẹp đối với quyển tiểu thuyết của Kuty. Tuy nhiên, cũng qua cuộc gặp gỡ với anh chàng Kuty tác giả này, ông mới vỡ lẽ ra rằng, bên trong chàng trai cao kều này đã có dáng dấp của một con người đàng hoàng. Rona đã không lầm và ngay cả các đồng nghiệp ở nhà máy, nơi Kuty đang làm việc, cũng có ý kiến như vậy.
“Về phương diện văn học, tôi khó có thể nhận định được vì tôi không phải là chuyên viên trong lĩnh vực này, – ông nói với anh chàng tác giả không gặp may. – Còn nếu như là công việc của cơ quan phản gián, tôi nghĩ, vì mình đã ở trong ngành nên có thể nhận thức tốt hơn”.
“Ông hoàn toàn đúng, thưa trung tá, – chàng trai trẻ đồng tình ngay, không thể chối cãi, – nhất là tôi cảm thấy trong chỗ này, trung tá hãy nhớ lại xem, khi cả toán gián điệp nhảy dù xâm nhập vào lãnh thổ của ta thì chúng…”.
Rona không để cho anh ta nói hết.
“Phải, phải, tôi nhớ ra rồi. Cậu có nói là, cậu không ước muốn luyện tập một chút gì trong lĩnh vực này. Nói như thế, cậu cho rằng có được những biểu hiện đó là do kinh nghiệm cá nhân, đúng không? – Rona không thích chơi trò ú tim mà đi thẳng vào công việc. – Thế còn thì giờ rỗi cậu vẫn có thể trau dồi khiếu văn chương của cậu kia mà. Đầu tiên là hãy đọc một ít sách đi đã, rồi dần dần sẽ nâng lên.
Lời giới thiệu có tính chất khích lệ đã thực sự làm cho Kuty vui sướng.
Anh ta học tập và làm việc như điên. Thoạt đầu là các bài giảng, sau đó vào trường huấn luyện đặc biệt và cái chính là thực tập dưới quyền điều khiển của Balint Rona. Sau một vài năm, từ một “nhà văn trẻ” anh ta đã trở thành một sĩ quan phản gián. Anh ta được phong cấp đại úy trước niên hạn.
Người cộng sự gần gũi thứ hai của trung tá là thượng úy Donltan Shalai, còn rất trẻ nhưng khéo léo, mưu trí và là một cán bộ mẫn cán.
- Tất nhiên, tôi hoàn toàn hiểu được là, – giọng của Kuty đã làm cho Rona đứt mất luồng hồi tưởng và quay về với thực tại – để viết được kịch bản sân khấu, người ta không phải chỉ có tài năng mà còn phải nắm được những nguyên lý về kịch. Vì thế, tôi quyết định trước hết sẽ nghiên cứu toàn bộ kịch Shakespeare, sau đó là Moliere, sau nữa là Bertolt Brecht và cuối cùng là nắm cho được các tác giả cổ điển Hungary của chúng ta, từ Catona đến Laslo Nemet là kết thúc.
- Tuyệt diệu. Miễn là cậu đừng quên dành một số thời gian để đọc lại bộ luật hình sự đã được công nhận, các sắc lệnh, các quy chế về công tác. – Roma hoàn toàn không cảm thấy khó chịu khi dùng những lời lẽ ôn hòa để nhắc nhở cấp dưới, vả lại nét mặt nghiêm túc như muốn cắt nghĩa thêm cho những ý nghĩ của ông – Điều này sẽ giúp cậu, với tư cách là một nhà văn, luôn luôn được sống va chạm với thực tế, có đúng thế không nào? Tiện đây, nếu cậu không có công tác gì khẩn cấp hoặc không có gì cần kíp lắm với công việc văn chương, cậu có thể đi với mình đến nơi tổ chức đám cưới được không? Chẳng là hôm nay ở đó, đứa con gái của ông bạn già Bela Imre của mình, – cậu cũng có biết ông ta rồi đấy, – đi lấy chồng.
Đôi vợ chồng trẻ kịp đến chiếc bàn đăng ký, và theo thứ tự, ký tên vào sổ giá thú.
Chàng trai mặc đại lễ, cô dâu trong bộ áo váy màu trắng. Trên đầu cô gái đội chiếc mũ cũng màu trắng có trổ hoa lỗ chỗ ở hai bên vành. Cô gái ôm trong tay một bó hoa xứng với sự long trọng của ngày vui, loại hoa dại có hương thơm thoang thoảng.
Cô dâu và chú rể hôn nhau. Và trong khi người nữ đại diện của Tòa thị chính mời cặp vợ chồng trẻ ra phòng khách để mọi người chúc mừng thì cô gái đưa mắt tìm kiếm người cha.
Bela Imre ngồi ngay ở hàng đầu. “Xin ba đừng mủi lòng, ba nhé!” – Ông đọc thấy những lời trìu mến trong cái nhìn của con gái. Imre cũng đưa mắt nhìn con gái như có ý bảo: “Không có gì đáng lo đâu, con gái ạ. Rồi sẽ ổn cả thôi!”. Người cha không nhìn đôi má ửng hồng, dáng điệu hơi ngượng nghịu đang tràn đầy hạnh phúc của cô con gái.
Dodek, Rona và Kuty được bố trí ngồi ở dãy bàn thứ hai, ngay đằng sau lưng của Imre. Ngồi ngay dãy bàn bên cạnh họ là Tereza Kintres.
Đại úy Kuty hầu như không chú ý gì đến khung cảnh của buổi hôn lễ. Toàn bộ sự chú ý của anh ta đều tập trung vào cô thư ký của Imre, người mà anh ta mới nhìn thấy lần đầu tiên.
Tereza, cố nhiên, nhận thấy ngay sự chú ý đặc biệt của anh chàng trẻ tuổi cao kều này. Cô mỉm một nụ cười kín đáo và cũng không tỏ ra có gì khó chịu vì cô biết đây chẳng qua chỉ là cử chỉ lộ liễu của người có tính hay tò mò mà thôi.
Những nhiếp ảnh viên chuyên nghiệp và đồng nghiệp của họ – những người chụp ảnh tài tử – mặt lấm tấm mồ hôi, vây quanh cô dâu chú rể hoạt động một cách tích cực. Carrini cũng đã có mặt trong đám thợ chụp hình này. Gã người Ý chụp hình tất cả các dãy bàn nhưng chủ yếu là ghi lại hình ảnh người nào tỏ ra nhiệt tâm nhất đối với đôi vợ chồng trẻ, hy vọng có thể qua đấy tìm biết được ai là bà con thân thích hoặc là bạn bè lâu năm đối với gia đình của hai người.
Gã người Ý chú ý không sót một người nào.
Tuy nhiên đã xảy ra một việc, dù chỉ một phút thôi, song làm cho gã như muốn rụng tim. Phải chăng đã bị lộ? Gã tự hỏi. Imre đứng sát cạnh con gái ông, còn gã, không biết bằng cách nào đã có mặt ở phía đối diện và đèn flash trên máy ảnh của gã chợt lóe sáng. Nhưng Carrini đã không có cơ hội ghi được tấm hình này vì Imre đã dùng bàn tay che kín khuôn mặt của mình.
- Yêu cầu anh hãy ra khỏi chỗ này và đừng làm phiền như thế! – Ông nói với người thợ chụp hình một cách gay gắt.
Carrini kinh hoàng. Gã quay lưng bước vội đến chỗ lối ra. Gã vừa đi vừa kín đáo ngoái cổ ngó lại phía sau xem có ai bám theo mình không.
Không, chẳng có ai cả. Khách khứa nói chung đều đang bị cuốn hút vào đôi tân hôn hoặc là vào những câu chuyện trao đổi với nhau một cách vui vẻ.
Chờ một lát cho yên vắng, gã len lén quay trở lại phòng cưới.
Imre đang đứng nói chuyện với ông bà thân sinh của cậu con rể nhưng bên trong ông đang cố xua đuổi những hình ảnh của một quá khứ không hiểu vì sao đúng lúc này lại hiện lên một cách rõ rệt.
Năm 1946, khi ông đang đi theo hai người lính áp giải có mang súng tiểu liên bước dọc theo hành lang của phòng xử án, bất thình lình ông thấy xuất hiện trước mặt họ một phóng viên nhiếp ảnh và anh ta cũng làm lóe mắt người khác bằng ánh đèn flash chiếu thẳng vào mặt hệt như gã thợ chụp hình này. Sau đó, lúc vào phòng xử án, khi đã ngồi vào ghế bị cáo với hai người áp giải hai bên, ông lại thấy gã thợ chụp hình xuất hiện ngay ở hàng ghế đối diện và lại chụp ảnh ông một lần nữa. Ống kính của chiếc máy ảnh che khuất hết mặt của gã thợ chụp hình và mãi đến bây giờ, ông cũng không được biết gã là ai. Ông không thấy tờ báo nào ở Hung đăng bức ảnh lúc ông ở tòa, mặc dù ông cố công tìm xem không sót một tờ báo nào.
Dodek đi đến chỗ cô dâu chú rể. Nora vui vẻ ôm lấy ông già:
- Bác Pista! Cháu rất vui mừng khi thấy bác ở đây.
- Cháu đẹp tuyệt, cháu gái của ta ạ! Bác chúc cháu được hạnh phúc.
- Bác sẽ là người đầu tiên ẵm đứa con nhỏ của cháu. Nếu nó là con trai, cháu nhất định sẽ cho nó mang cái tên đầy tiếng tăm của bác – Istvan.
- Cảm ơn cháu Nora, – ông già nói một cách nghiêm trang. Sau đó ông quay lại phía anh chồng trẻ.
- Đây là ông xã của cháu, – Nora giới thiệu một cách tinh nghịch.
- Xin chào chàng trai! – Ông già siết chặt tay chàng rể.
- Ngoài ra, cháu xin được nói thêm, anh ấy là một người khôn ngoan, khiêm tốn, tháo vát và mọi thứ khác cũng tương tự như vậy, – cô gái phì cười.
Đang đứng lánh sang một bên, Rona liền kéo Kuty lại gần mình và nói thầm vào tai anh:
- Nhìn xem, cậu thì làm nên trò trống gì? Ngay cả ở đây cậu cũng chậm rồi. Bao nhiêu lần tôi đã nói với cậu là cô gái sắp lấy chồng mà lại!
- Tôi hoàn toàn chẳng có cơ hội nào cả, – Kuty cũng thì thầm trả lời. – Anh chàng có vẻ là một tài tử màn bạc, chỉ có thế thôi.
- Anh ta là một kỹ sư có năng lực đấy. Mới 30 tuổi mà đã là trưởng phòng ở Nhà máy liên hợp hóa chất. – Rona bổ sung.
- Trưởng phòng kia à? – Kuty nhún vai một cách mỉa mai. – Việc ấy thì tôi cũng làm được! Nếu như anh nói anh ta là giám đốc nhà hát thì là chuyện khác.
Kuty đưa mắt tìm kiếm Tereza Kintres. Đúng lúc ấy, cô ta cũng đang đi đến để chúc mừng đôi vợ chồng trẻ.
Đến lượt Rona. Ông cũng tiến đến chỗ đôi vợ chồng mới cưới. Nora trìu mến ôm lấy ông.
Và, một lần nữa, lại nghe thấy tiếng máy ảnh của Carrini kêu tanh tách.
Kuty cũng chúc mừng cặp vợ chồng trẻ. Thực ra, anh ta lắp bắp những câu gì đó không ai nghe rõ: chẳng ra chúc mừng cũng chẳng ra tự giới thiệu, cái nọ xọ sang cái kia.
- Chúng tôi chờ anh tại phòng tiệc của khách sạn Royal, – Imre nói với trung tá. – Anh nhớ dùng xe của anh chở cả Dodek cùng đi.
Đôi vợ chồng mới cưới và khách khứa lần lượt kéo nhau bước xuống cầu thang. Hai vợ chồng trẻ ngồi vào trong chiếc Mercedes màu đen đã được trang hoàng bằng những dây hoa.
Carrini là một trong những người cuối cùng ra khỏi phòng cưới.
❀ ❀ ❀
[1] Rangli: tên một loại xe đua.
[2] Thuốc chữa bệnh đái tháo đường.
[3] Tên Istvan gọi theo lối thân mật.
[4] Nguyên văn: lễ Ba ngôi, lễ Tam vị.