Hoàng hôn buông xuống trên thành phố.
Chiếc Juyguli màu Bordeaux vẫn đậu ở chỗ cũ, ngay bên cạnh vườn hoa nhỏ của tiểu khu dân cư tại Obudar. Chỉ có một điều khác là bây giờ Saad đã qua ngồi bên chiếc Volkswagen mang biển số của Vienna và đậu ở bên kia đường phố.
Hai cặp mắt cùng quan sát chiếc cổng ra vào của ngôi nhà số 14, đồng thời quan sát cả chiếc cửa sổ ở tầng hai. Đó là chiếc cửa sổ trong căn hộ của Bela Imrie. Bên trong cửa sổ, bóng tối vẫn tràn ngập cả gian phòng, chứng tỏ chủ nhân chưa về nhà.
Từ một hướng nào đó trong thành phố người ta đã nghe thấy tiếng động cơ của xe hơi mỗi lúc một gần và cuối cùng chiếc xe dừng lại trước cổng. Từ trong xe một người đàn ông bước ra và đi vào cổng. Trong bóng hoàng hôn chập choạng, Saat vẫn nhận ra người đó là Bela imrie. Chiếc xe hơi vừa đưa Imrie về lập tức lăn bánh.
Saad đưa microphone lên miệng:
- Lão ta đi về bằng xe hơi của công an. Điều này có nghĩa là gì?
Mills từ chiếc xe Juyguli trả lời:
- Yên tâm đi, chẳng có gì đặc biệt hết. Chắc người ta đã tìm thấy ông ta ở chỗ ngôi nhà gác rừng của người bạn rồi chở ông ta đi tiếp. Cũng có thể ông ta tới thăm tay trung tá, họ say sưa thù tạc ở đấy rồi chủ nhà quyết định chở ông bạn của mình về bằng phương tiện đáng tin cậy nhất – xe có còi hụ của công an. Hãy chuẩn bị cho cuộc nói chuyện bằng điện thoại. Tôi sẽ quan sát chỗ cửa sổ.
Phoster ở trong chiếc xe Ostin của mình đã nghe được toàn bộ cuộc trao đổi giữa hai người. Khi cuộc đàm thoại đó vừa kết thúc, Phoster nổ máy cho xe chạy ra khỏi vỉa hè và dừng lại cách hai chiếc xe kia chừng trăm thước để tiện xem xét mọi việc sắp xảy ra.
Bước vào nhà, Imrie bật đèn phòng ngoài và thấy ngay trên sàn, cạnh cửa ra vào, có một chiếc bì thư. Ông lượm nó lên và ngạc nhiên đọc dòng chữ đánh máy “Gửi Viện trưởng Bela Imre. Khẩn”.
Imre bước đến bàn giấy, bật đèn và mở bì thư. Từ đó rơi ra mấy bức ảnh. Ông đặt chúng lên bàn, tấm này cạnh tấm khác. Tất cả đều là ảnh màu và cùng một khuôn khổ. Ba tấm đầu tiên chụp ông với ba kiểu khác nhau tại đám cưới của con gái, tấm thứ tư là ông trước cửa ra vào của Bộ và tấm thứ năm chụp ông đang ngồi ở bàn trong buổi lễ ký kết hiệp định.
Thoạt đầu Imre không hiểu, thậm chí không hề nghĩ gì. Có thể toàn bộ sản phẩm này là của một gã thợ ảnh láu cá nào đó, một gã làm nghề thủ công cá thể, định kiếm ăn và nhanh chóng làm cách này để đòi tiền nhuận ảnh chăng? Hay là bộ phận quảng cáo của Viện muốn làm cho Viện trưởng hài lòng bằng cách thức lố bịch như thế này? Đâu phải chỉ mới một lần tay lãnh đạo bộ phận quảng cáo bày ra cái trò ma mãnh tương tự thế này. Phải stop hắn lại mới được!
Nhưng rồi những tấm ảnh sau đó đã làm cho Imrie sầm mặt lại. Không còn là chuyện đùa cợt được: chúng ghi lại hết những cảnh ông tới văn phòng du lịch Ibus. Điều này có nghĩa là gì? Như vậy là đã có người mang máy ảnh bám theo sát gót ông?
Ông lật đi lật lại bì thư trong tay. Trên đó không hề dán tem, không có cả địa chỉ người gửi. Thậm chí ngay cả thư viết kèm theo cũng không. Một linh cảm về sự không may xâm chiếm Imre.
Tiếp theo là hai tấm ảnh càng làm tăng thêm cảm giác ấy trong ông: trên nền của ngôi nhà kiểu gác rừng, ông đang chuyện trò cùng với Dodek và trung tá Rona. Không, đây không phải là ý muốn làm ăn hay một trò đùa nghịch ngớ ngẩn mà là một ý đồ gì hoàn toàn khác.
“Bất cứ kẻ nào cũng là đồ ngốc khi định gửi những chiếc ảnh này để đòi trả công cho hắn”. – Viện trưởng xác định. Đúng lúc đó, cái nhìn của ông đặt vào tấm ảnh đen trắng, bất ngờ nổi bật trên cái nền chung của những tấm khác.
Imre bất giác ớn lạnh.
Bức ảnh ghi lại cảnh ông đi giữa hai người lính áp giải có vũ trang dọc theo hành lang tòa nhà của tòa án nhân dân trên đường phố Marko. Trên tay ông, thấy rất rõ chiếc còng bằng thép.
Ông không thể nào rời mắt khỏi bức ảnh. Bức ảnh này đã chụp cách đây 32 năm! Phải, vào tháng 3 năm 1946. Kẻ nào đã giữ bức ảnh này cho đến ngày hôm nay? Với mục đích gì? Và bây giờ ai là người đã gửi nó đến đây cùng với những tấm ảnh khác?
Imrie ngẩng đầu lên. Hẳn là chiếc phong bì ông thấy trên sàn nhà này đã được ném qua khe cửa ra vào. Mà cũng có thể “người đưa thư” chưa chịu đi ngay, thậm chí ngay lúc này vẫn còn đang có mặt tại chính căn nhà này thì sao. Imrie đi quanh khắp các phòng, xem xét cả trong nhà bếp, nhà tắm. Không, chẳng chỗ nào có người cả. Ông trở lại phòng làm việc, đầu óc căng thẳng hết mức.
Đúng vào lúc ấy tiếng chuông điện thoại reo lên.
Imrie cố kìm mình để không cầm ngay lấy ống nghe. Ông không muốn để lộ sự hồi hộp của mình. Ai có thể gọi dây nói cho ông vào giờ này? Từ chỗ làm việc ư? Hay Rona đã quay về thành phố và gọi đến cho ông? Nhưng cũng có thể là gã thợ chụp hình không quen biết?
Ông cố trấn tĩnh và cầm lấy ống nghe.
- Imre nghe đây!
- Một người quen cũ của anh đang nói đây, – đã nghe rõ giọng của Saad quay dây nói từ một trạm điện thoại.
- Xin sẵn sàng nghe anh, – Imre thận trọng trả lời.
- Tôi xin lặp lại: một người quen cũ của anh đang nói.
- Hãy xưng danh đi.
- Không được ngắt lời tôi. Anh chỉ nên trả lời những câu hỏi của tôi.
Imre cúp điện thoại. Biết trước thế nào kẻ khiêu khích không quen biết cũng gọi lại một lần nữa, ông đứng đợi ngay bên máy. Quả nhiên, một vài giây sau, chuông điện thoại lại réo vang. Imre không vội gì. Ông ngồi vào ghế bành, sắp xếp những ý nghĩ của mình cho thật ổn định và chỉ đến lúc ấy ông mới lại nhấc ống nghe.
- Anh không được cắt đứt cuộc nói chuyện của chúng ta một lần nữa, nghe rõ chưa? Nếu không, anh sẽ chịu một số phận vô cùng cay đắng! – Trong giọng nói của kẻ xa lạ báo hiệu một sự đe dọa công khai, và Imre khoái trá thầm nhận xét rằng thằng cha xấc láo mà phát khùng lên không phải là chuyện đùa.
- Khi anh mới bắt đầu câu chuyện, tôi đã biết ngay rằng người ta đã dạy anh chơi cái trò nặc danh ngay từ nhỏ.
- Tên của tôi không có ý nghĩa gì với anh, – người lạ hậm hực trả lời.
- Cũng như với chính anh, – Imre lạnh lùng gạt đi. Tốt hơn hết là cứ đi thẳng vào việc.
Saad cũng biết rằng đã đến lúc nên thay đổi cách nói chuyện với Imre, hay nói một cách khác, hắn tạm thời không dám “hỗn” với đối phương.
- Anh đã nhận được các bức ảnh rồi chứ? – Hắn hỏi, giọng đã ôn hòa hơn.
- Anh gửi chúng đến đấy à?
- Đúng thế. Anh đã không lầm. Nhưng tôi còn vài thứ nữa đáng cho anh quan tâm hơn.
- Cứ nói đi!
- Trong tay tôi có lá đơn kiện do chính tay ông bạn Istvan Dodek của anh viết. Trong lá thư này ông ta thú nhận là trước đây ông ta đã lên tiếng trong vụ án của anh. Vì bị cưỡng ép, ông ta đã đưa ra những lời khai giả dối có lợi cho anh và anh đã được xử trắng án.
- Không thể thế được! Dối trá!
- Than ôi, nhưng lời lẽ trong lá đơn lại đúng như thế. – Saad lại nói bằng giọng nghiêm trọng. – Còn đó là sự thật hay lời dối trá thì tòa án sẽ quyết định. Tôi hy vọng rằng anh đã hiểu rõ điều này. Istvan Dodek viết trong lá thư cuối cùng của mình rằng ông ta không còn đủ sức để chịu đựng sự dối trá đã đè nặng tâm hồn ông ta suốt bao năm nay rồi, vì thế ông ta quyết định dứt bỏ nó khỏi đời sống của mình. Hôm nay ông ta đã tự sát. Anh biết chuyện này rồi chứ?
- Biết rồi. – Imre trả lời.
“Mình đã biết, nhưng do đâu thằng cha đê tiện này lại rành rẽ tất cả mọi chuyện như vậy? – Imre chợt nghĩ. – Theo như kết luận của bác sĩ, ông già đã chết trước khi bọn mình đến nơi chừng một giờ rưỡi. Nghĩa là gã này cũng có mặt ở ngôi nhà của Dodek? Khi nào và để làm gì? Hay là gã có liên quan trực tiếp đến sự việc xảy ra?”.
- Nhận được đơn của Dodek, các cơ quan pháp luật sẽ nhanh chóng bới trong kho lưu trữ ra hồ sơ vụ án trước kia của anh, nhưng xin anh cứ yên chí, – trong khi đó giọng nói vẫn tiếp tục vang lên trong ống điện thoại.
“Rõ rồi: lá đơn này chính là bức thư thứ hai, cái bức thư được Dodek nhắc đến trong mẩu giấy để lại trước khi chết”. – Imre nghĩ bụng, – “Bức thư dường như đã được chính con người đáng thương viết ra”. Imre căng óc ra mà nghĩ.
“Thế nhưng Dodek có thể viết lá đơn như vậy trong hoàn cảnh thế nào nào? Họ đã ép buộc ông ta, điều ấy thì rõ rồi. Nhưng rồi sao nữa? Và bằng con đường nào tờ giấy này lại lọt đúng vào tay cái gã đang nói chuyện bằng điện thoại với mình? Có bao nhiêu là câu hỏi mà bất cứ câu nào trong số đó Imre này cũng không biết cách trả lời ra sao”.
“Người quen cũ” ở đầu dây đằng kia lại tiếp tục:
- Hai nhân chứng buộc tội bất thình lình biến mất hồi đó, năm 46 ấy, vẫn sống và vẫn khỏe mạnh. Họ sẵn sàng lên tiếng trước tòa vào bất cứ lúc nào. Tôi thiết tưởng tất cả những bằng cớ tội lỗi này của anh đã quá đầy đủ với một bản án.
- Tôi chẳng quan tâm đến chuyện đó.
Saad đắc chí cười hềnh hệch trong ống nghe.
- Người ta nói với tôi rằng anh không phải là loại nhút nhát. Nhưng, tôi nghĩ rằng sự dũng cảm của anh sẽ bị giảm sút nếu như tôi thông báo sơ qua cho anh biết: Nora, con gái của anh, hiện đang thực hiện chuyến du ngoạn trăng mật …
Điện thoại kêu lốp đốp rồi im hẳn. Toàn thân Imre run lên, mặt ông tái mét như gà bị cắt tiết. Ông sửng sốt nhìn vào máy điện thoại và hồi hộp chờ đợi. Đến lúc chuông điện thoại lại réo lên, ông chụp lấy ống nghe, vội vàng nói đến nỗi nuốt mất những âm cuối.
- Mất sáu phút rồi. Chúng ta đang nói thì máy tự nhiên …
- Tôi hiểu. Thế này nhé, hôm nay là 17 tháng 6. Đôi vợ chồng trẻ hiện giờ đang ở Roma. Anh không thể báo trước cho họ được bởi vì anh không biết tên của khách sạn mà hai người đã nghỉ ở đó. Đến khi anh tìm ra được cái khách sạn này thì con gái anh và chồng của cô ta đã ở tại Munich rồi. Họ sẽ đến đấy vào ngày 20. Ở đấy, chúng tôi sẽ sử dụng tất cả mọi khả năng để trước tiên làm mất thanh danh của họ, sau đó sẽ giải thích lý do vì sao họ không thể quay về tổ quốc được nữa.
Imre có cảm giác dường như trái tim của ông ngưng đập.
- Anh làm sao thế, đờ người ra rồi phải không? Chà, chà! – Trong giọng nói của người lạ nghe đã có vẻ đắc thắng.
- Các anh muốn gì? – Imre nói, đúng hơn là đang rên rỉ. – Tiền phải không?
- Hiện giờ thì chỉ cần gặp anh. Ngay bây giờ, gặp riêng anh và không được chậm trễ!
- Anh đang nói từ đâu đấy?
- Từ một máy điện thoại công cộng cách nhà anh không bao xa.
- Hãy lên chỗ tôi đi.
- Không. Anh phải xuống chỗ chúng tôi. Và ngay bây giờ, không được chậm trễ một phút. Ra khỏi cổng, anh băng qua vườn hoa và hãy đi dọc theo đường phố, hướng về phía cầu Arpadar. Tôi sẽ đuổi theo anh bằng xe hơi, đậu lại, mở cửa và anh ngồi vào cạnh tôi trong xe!…
- Tôi đi ngay! – Imre hầu như hét lên. – Tôi thay áo sơ mi và xuống ngay bây giờ.
- Anh chẳng cần phải thay đổi áo sống gì hết! – Giọng trong ống nghe lại trở nên thô bỉ. – Và cũng không được gọi cho ông bạn của anh ở cơ quan phản gián, nhớ đấy. Tôi cho anh một phút. Nếu một phút trôi qua tôi không nhìn thấy anh bước ra khỏi cổng, anh sẽ chẳng bao giờ còn gặp được đứa con gái của anh, và bức thư của Dodek ngay hôm nay sẽ được bỏ vào hộp thư. Sáng ngày mai lá thư ấy sẽ nằm trên bàn của ủy viên công tố. Anh hiểu rồi chứ? Tôi đã cho anh mấy giây suy nghĩ rồi đấy. Anh phải nhanh lên mới được!
Cuộc nói chuyện chấm dứt. Saad không mắc ống nghe để cắt đứt đường dây và tước đoạt mọi khả năng Imre có thể gọi số máy khác.
Ra khỏi cổng, Imre nhìn theo hướng đã định, sau đó băng qua vườn hoa và rẽ về phía sông Dunai, đi vào hướng cầu Arpadar.
Trong khi đó Saad và Mills đổi xe cho nhau: Saad leo vào chiếc Juyguli, còn Mills mang theo chiếc cặp samsonite ngồi sang chiếc Volkswagen. Nét mặt của hắn vẫn điềm tĩnh như không có gì xảy ra.
Đợi một lúc, khi thấy Bela Imre đã ngồi vào xe hơi của Saad, Mills nhanh nhẹn băng qua vườn hoa, bước vào cổng của ngôi nhà số 14, chạy theo cầu thang lên tầng hai và dùng móc sắt nhẹ nhàng mở cửa căn hộ của viện trưởng, lách vào trong. Không bật đèn và sử dụng đèn pin, hắn bước vào phòng làm việc. Chiếc cặp samsonite của Imre nằm trên bàn giấy. Mills chuyển những giấy tờ trong chiếc cặp của Imre qua chiếc cặp samsonite của mình, đúng hệt và cũng thứ tự y như chúng vẫn được xếp đặt như thế từ trước tới giờ.
Hành động mang tính nghiệp vụ này chiếm không mấy thời gian. Một vài phút sau Mills đã xuống và quay về chỗ chiếc Volkswagen của mình. Chiếc cặp samsonite của Imre bây giờ đã trống rỗng, được đặt nằm ở ghế sau.
Saad đậu xe trên đồi Harmashalar, cách Budapest mười cây số tại một khoảng trống trong vùng rừng hẻo lánh.
Bên dưới cách đó chừng 200 thước, Phoster và chiếc Ostin nấp kín ở chỗ rẽ khuất của con đường núi ngoằn ngoèo. Hắn ta mở chiếc máy thu ngay từ lúc ở Budar, lắng nghe tất cả những gì Saad và Imre đã nói với nhau trên chiếc Juyguli.
- Thưa ngài Imre, tất nhiên ngài là thứ hạt hồ đào khó nhai, – Saad tiếp tục câu chuyện được bắt đầu ở dọc đường. – Nhưng điều đó cũng không sao hết. Thú thật là cái tạng người động thứ gì cũng sợ ấy không hợp với khẩu vị của chúng tôi đâu. Nhưng ngài cần phải biết rằng, ngoài khả năng làm mất thanh danh của đôi trai gái và lá đơn của Dodek ra, chúng tôi còn dành lại chút gì đó tương tự như thế, cố nhiên là sẽ ảnh hưởng đến quyết định của ngài.
- Xin hãy cho tôi xem lá đơn của Dodek, – Imre cắt ngang những lời huyên thuyên của người lạ.
- Được thôi. Dĩ nhiên đây chỉ là bản sao. Cây đèn pin của tôi chắc cũng giúp ích được cho ngài, trời tối rồi mà.
Imre luống cuống vỗ vỗ vào túi của mình.
- Cái kính. Có lẽ tôi đã bỏ quên chúng ở nhà rồi.
- À, ra thế. Vậy thì được, ngài cho phép chúng tôi đọc lớn cho ngài nghe văn bản này, – Saad đáp với thái độ khinh bỉ. – Ngài hãy nghe đây: “Tháng 12 năm 1944 Bela Imre đã làm việc cho người Đức với cấp bậc trung úy trong đội quân SS. Hắn đã tham gia vào việc xử tử những người bị giam giữ, do những tên lính tiễu phạt trong đội đặc biệt tiến hành. Chính mắt tôi trông thấy hắn bắn chết những tù nhân không có khả năng tự vệ như thế nào. Trong đêm giao thừa – 31 tháng Chạp năm 45, hắn cũng lại tham gia vào việc bắn giết. Quả thực hắn có cứu thoát tôi và tạo cơ hội cho tôi chạy trốn nhưng chuyện này xảy ra vào ngày hôm sau, mùng 1 tháng Giêng. Hắn cần người làm chứng để xóa mọi hành vi tàn bạo của hắn. Nên sau này, thể theo lời cầu xin của vợ Bela Imre, tôi đã đưa ra những lời khai rõ ràng là man trá tại phiên xử của tòa án nhân dân để bào chữa cho hắn. Tội lỗi của tôi quá lớn. Nếu có thể, hãy tha lỗi cho tôi. Ký tên – Istvan Dodek”. – Saad gấp cẩn thận tờ giấy lại và đưa cho viện trưởng. – Ngài có thể giữ lấy tờ giấy này. Nhưng ngài hãy cất cho kỹ vào. Chẳng ích lợi gì cho ngài nếu như người ta tìm thấy nó ở chỗ ngài!
Imre cuối cùng nổi cơn giận dữ:
- Đây chính là sự vu cáo trắng trợn! Những lời lẽ dối trá từ đầu đến cuối!
- Có thể lắm, – Saad thản nhiên đáp – nhưng còn chữ ký xác nhận của Dodek thì sao? Trong việc này tôi có thể xác nhận với ngài được.
- Họ đã ép buộc ông ta phải ký!
- Thậm chí nếu như ngài có thể chứng minh được việc đó thì cũng chẳng có ai nghe đâu.
Nỗi nghi ngờ bám rễ đâu đó trong lòng Imre đã biến thành một niềm tin hoàn toàn vững chắc. Phải, chính hắn rồi!
- Chính anh đã giết chết Dodek! Chính anh!
- Ngài nói gì vậy? Dodek kết liễu cuộc đời bằng cách tự sát đấy chứ.
- Do đâu anh biết được thế?
- Tôi biết. Mà chuyện đó có quan trọng gì đối với ngài đâu? Ngoài ra, tôi cũng đã nói rằng chúng tôi còn có một thứ nữa chống lại ngài.
- Lại còn sự vu cáo nào nữa?
- Ngài nhầm rồi! – Imre nhận thấy vẻ mỉa mai trong giọng nói của người đối thoại – Bằng chứng này còn đích xác hơn là chữ ký của Dodek dưới suối vàng nhiều, bởi vì nó được hợp thành từ ba thực thể: thịt, máu và khả năng nói. – Ngừng một lát, Saad chêm một câu đầy ý nghĩa – Thứ cuối cùng đó là… Tất nhiên, chỉ trong trường hợp cần thiết.
- Anh nói về ai thế? Con người ấy là ai vậy?
- Được sự đồng ý của ngài, tôi đang nói về chính mình. Nhìn thật kỹ tôi xem, thưa ngài Bela Imre! Tên tôi là Naldor Saad – Ngài nhớ lại rồi chứ? Chính tôi đã viết đơn tố giác ngài vào năm 46, sau đó lại không xuất hiện ở tòa án với tư cách như là một nhân chứng.
Quay mặt về phía viện trưởng, Saad bật đèn trong xe.
- Thế nào? Ngài nhận ra tôi chứ?
Imre né người:
- Phải, quả thực là anh …
- Nghĩa là ngài đã tin. Mặc dầu thị lực của ngài qua bao năm tháng có giảm sút, song điều đó không ảnh hưởng gì đến trí nhớ. Trong những trường hợp như thế, chắc ngài cũng không quên một người khác. Người ấy tên là Robert Haber.
- Dường như tôi đã xả đạn từ một khẩu tiểu liên ở trường bắn vào người ấy thì phải?
- Đúng thế, nhưng anh ta còn sống cho đến ngày nay và bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng cùng tôi chứng thực tất cả những gì mà Dodek đã khép tội ngài trong lá thư cuối cùng của mình. Ngài thử suy tính xem: cả ba nhân chứng tố cáo ngài phạm tội nhúng tay vào máu. Ngài là tên tội phạm chiến tranh, Bela Imre, và ngài cũng không muốn đụng đến quá khứ của mình, ngài hiểu điều đó chứ? Ba nhân chứng chống lại mỗi một Balint Rona – đây là một lợi thế quá đầy đủ đối với tòa án. Ông bạn của ngài có thể tô vẽ trước tòa những chiến tích anh hùng của ngài bao nhiêu cũng được. Toàn bộ sự việc kể từ lúc còn ở trại lính, trong những ngày diễn ra cuộc tàn sát đó, Rona không có mặt, và đấy là sự thật.
- Nhưng chính cả hai người cũng không có ở đấy!
- Cái đó không quan trọng. Sự khác nhau là ở chỗ Balint Rona nói sự thật, còn tôi và Haber có thể cho phép mình có một số những sai lạc dễ gây xúc động. Chúng tôi đã nhìn thấy đủ thứ và không chịu đựng nổi vào chính cái đêm khủng khiếp của tháng 12 năm 1944 ở trong cái trại lính trời đánh thánh vật đó!
Imre im lặng khá lâu.
Saad cũng thế. “Cứ để mặc cho lão ta đau khổ”, – hắn quyết định.
- Các anh muốn gì ở tôi? – Cuối cùng viện trưởng hỏi.
- Muốn ngài ưng thuận cộng tác với chúng tôi. Ngài là một người quan trọng, được các nhân vật lãnh đạo và các quan chức cao cấp, các viện trưởng và Bộ trưởng tin cẩn, ngài tổ chức được mối quan hệ tốt đẹp với các đồng nghiệp ở các nước xã hội chủ nghĩa khác. Ngoài ra, viện của ngài lại mới trang bị thêm cho nhà máy Liên hợp tự động một chương trình nghiên cứu rất thú vị và hoàn toàn bí mật. Hẳn ngài đã hiểu rõ là chúng ta đang nói về chuyện gì, phải không?
- Tất nhiên! Tôi cần phải hoặc là làm việc cho anh, hoặc anh sẽ vạch mặt tôi, tống cổ tôi vào tù, vân vân …
- Và ngoài ra, ngài không khi nào còn nhìn thấy đứa con gái độc nhất của ngài. Cô ta sẽ không trở về nữa!
Imre đưa tay trái nắm lấy mép áo veston của Saad kéo giật về phía mình, tay phải thoi một đấm vào mặt hắn. Tuy nhiên, trước khi ông kịp lặp lại một cú đấm khác, nòng của khẩu súng ngắn đã dí sát vào bụng ông.
Phoster ngồi trong chiếc xe hơi của mình, nghe rõ tiếng quả đấm của Imre thoi vào mặt Saad, lập tức mở máy xe phóng vội đến để trợ giúp cho Saad. Hắn chưa lần nào nhìn thấy Bela Imre và biết rằng người đàn ông cao lớn, khỏe mạnh này không khó khăn gì nhiều trong việc trừng trị gã Saad mắc bệnh thiếu máu, người cứ béo múp lên như cái nệm mỡ. Bước ngoặt không lường trước được của sự việc đã đe dọa kết quả. Nhưng sự can thiệp của hắn đã trở thành không cần thiết.
- Đồ đểu! – Hắn đã nghe từ chiếc loa điện giọng nói nghèn nghẹn của Saad – Anh sẽ phải trả giá đắt về việc này!
Tuy nhiên, Phoster không thể nhìn thấy gã điệp viên đã dùng khăn chùi máu ở khóe môi bị dập và chuyển khẩu súng sang tay khác, bật khóa an toàn như thế nào.
- Tôi sẽ chở anh về nhà, Bela Imre. – Giọng của Saad run lên vì giận dữ nhưng rõ là đã bị kềm bớt. – Trong một thời gian nào đấy, chúng ta sẽ không gặp nhau trực tiếp. Nhưng ngày mai, vào buổi trưa, tôi sẽ gọi điện thoại cho anh. Vào giờ nào đối với anh là tiện lợi?
Imre ngồi, lim dim mắt – như thể cú đánh vừa rồi đã làm tiêu tan hết khả năng chống đối của ông.
- Vào lúc 11 giờ. – Ông lắp bắp.
- Tốt. Từ giờ đến lúc có chuông điện thoại của tôi, anh cần phải quyết định xem có đồng ý làm việc cho chúng tôi hay không. Hãy nghĩ đến con gái của anh và nghĩ đến số phận của riêng anh.
Saad nhấp nháy đèn pha, mở máy và rời khỏi chỗ đậu.
– Tiện thể nói thêm, anh hoàn toàn không được thông báo gì về cuộc gặp gỡ của chúng ta với ông bạn trung tá của anh. Lần này thì ông ta không thể cứu nổi anh đâu. Nếu chuyện kia bị đưa ra tòa, ngay Rona cũng sẽ chuốc lấy đau khổ. Họ sẽ tra hỏi ông ta: vì sao ông ta đã hai lần bào chữa và cứu nguy cho một tên tội phạm chiến tranh như anh khỏi bị trừng trị? Số phận của ông ta, như anh thấy đấy, ở một mức độ nào đó cũng phụ thuộc vào sự quyết định của anh. Dù thế nào đi nữa, anh cũng nên chú ý: chúng tôi sẽ theo dõi từng bước chân của anh. Anh nhớ là theo từng bước! Tôi không đùa giỡn với anh đâu. Anh đã thấy những tấm ảnh rồi phải không? Thế đấy, chúng tôi có mặt ở khắp mọi nơi, chúng tôi nhìn thấy và nghe thấy tất cả.
Saad tách khỏi đường Sepvolder và quay về hướng Budapest.
Chiếc Ostin của Phoster bám theo sau họ.