Ngày 27 tháng 6 đã tới.
Từ sáng sớm, tại nhà ga biên giới Hedieshan, hoạt động của xe hơi có vẻ ít nhộn nhịp so với thường ngày. Bên cạnh ô cửa sổ đã mở của một căn phòng trong tòa nhà có vị trí thích hợp, Rona và hai nhân viên thân cận của ông đang đứng theo dõi việc làm của các chiến sĩ biên phòng và nhân viên hải quan.
- Nhìn kìa! – Shalai đưa mắt chỉ chiếc Volga – M21 màu xám trắng đang lao vun vút tới chỗ vạch trắng. – Anh chàng quyết định đi dạo ở châu Âu.
- Chàng trai đã không lầm, – Kuty phát biểu. – Những chiếc xe loại này rất bền.
- Ở phương Tây người ta khoái kiểu xe cũ như thế không phải là không có nguyên cớ. – Shalai đế tiếp.
Rona cũng tham gia vào cuộc tranh luận:
- Chiếc Volga cũ kỹ này là một vật tuyệt vời. thân xe làm bằng những tấm thép dày, tha hồ mà chắc chắn.
- Thưa thủ trưởng, – Kuty nhận xét có vẻ châm chọc. – Thủ trưởng bắt đầu quan tâm đến xe hơi từ lúc nào thế ?
- Thế thì sao? Độc quyền của cậu đấy à? – Rona phản ứng.
- Không phải Pista quan tâm đến những chiếc xe hơi mà quan tâm ai là người lái kìa. – Shalai châm chọc. – Điều này lại càng đúng, nếu như những người lái xe lại thuộc về “phái đẹp”.
- Xin lỗi, nhưng anh ta thì lại không đủ can đảm thừa nhận điều này. – Trung tá yểm trợ Shalai một cách hiền lành.
- Hãy nhìn chàng trai ngồi trong chiếc Volga cũ này. Anh ấy đang nhìn chúng ta và mỉm cười! – Shalai kêu lên.
- Chắc anh ta nhầm. – Rona đáp lại một cách thờ ơ, nhưng vẫn kín đáo hướng cái nhìn chăm chú của mình về phía người lái xe.
Cùng lúc ấy, chàng trẻ tuổi đã nhận được tín hiệu “có thể đi tiếp”. Chàng trai lại nhìn về phía các sĩ quan đứng bên cửa sổ một lần nữa và theo cách của các vận động viên đua xe trước khi xuất phát, anh ta giơ hai ngón tay lên cao theo hình chữ V: “Victoria”, có nghĩa là “chiến thắng”. Rona nhìn hút theo chiếc Volga cũ cho đến khi chiếc xe như “chui tọt” vào trong lòng đất.
Kuty khẽ huých huých vào khuỷu tay của thủ trưởng một cách tế nhị.
- Hãy nhìn xem kìa! Viện trưởng Imre đang đứng trên vạch đường!
Rona đưa mắt nhìn về phía bàn kiểm soát của đồn biên phòng. Đằng sau tay lái của chiếc Mercedes, Imre trông vẫn bình tĩnh và chững chạc. Thủ tục xuất cảnh mất tất cả chừng vài ba phút. Khi thanh chắn tự động trước đầu chiếc Mercedes từ từ nâng lên cho phép chiếc xe rời khỏi chỗ, Imre thoáng ngoái nhìn lại và Rona bất giác giơ tay như đang chào tiễn biệt một người bạn.
- Lúc 9 giờ 30 anh ấy sẽ đến nơi, – trung tá nhìn đồng hồ. – Nếu mọi chuyện tiến hành theo đúng kế hoạch, khoảng từ 10 giờ đến 11 giờ 15, anh ấy nhất nhiết đã phải quay về chỗ cũ rồi.
- Bây giờ mới có 8 giờ thiếu 15, – Kuty nói. – Chúng ta phải chịu đựng cả tiếng rưỡi đồng hồ chẳng thoải mái gì. Chờ đợi trong tình trạng…chẳng có gì để làm.
Một đại úy biên phòng bước đến chỗ Rona, tự giới thiệu.
- Lúc chiếc Mercedes quay trở về, anh hãy cho qua luôn, đừng kiểm soát, – Rona hạ lệnh. – Có một chiếc xe hơi của chúng tôi sẽ chạy ở phía trước, còn chúng tôỉ ở phía sau chặn hậu.
- Tôi hiểu, thưa trung tá! Trung tá cho phép tôi đi chứ ạ? – Đại úy đưa tay chào và đi ra.
- Thế nào, các chàng trai trẻ ? Các cậu chưa uống cà –phê hả? – Rona hỏi thăm một cách khoan khoái. – Chúng ta đi nào, tôi chiêu đãi.
Kuty không nhúc nhích. Dường như anh chàng không nghe thấy lời mời.
- Đi thôi, đi thôi nào, nhà viết kịch. – Trung tá động viên anh ta. – Tôi cho rằng chúng ta có thể tìm thấy ở đấy một vài chai bia.
Đã có thời, ở ngoại ô Bruck có một tiệm ăn, hay nói một cách giản đơn là quán rượu, được xây cất một cách bình thường bằng những cây gỗ tròn, nơi mà từ dưới chiếc máy nén tuôn ra nước nho ép. Bây giờ thì quán này đã hoàn toàn được hiện đại hóa: người ta mở rộng quán, làm mới lại, kiểu cách nguyên vẹn thôn dã. Dưới cổng ra vào người ta treo một biểu tượng rất dễ thấy và dễ thương: một con gấu. Người ta xây một cái hàng hiên rất khoáng đãng, trên đó có căng một tấm bạt bằng vải kẻ sọc.
Vì chưa đến giờ nên quán vẫn còn đóng cửa kín mít. Xung quanh ngôi nhà, một cậu bé trạc 12 tuổi đang sử dụng cây chổi một cách cần mẫn. Những chiếc ghế chổng ngược bốn chân được chất trên những chiếc bàn nhỏ đang chờ đợi đến lượt mình được bày ra.
Phía xa, trên con đường nhựa từ hướng Vienna xuất hiện một chiếc xe hơi hiệu Ostin màu xám đen đang lao đến với tốc độ cực lớn. Người lái xe giảm ga rẽ vào bãi đậu xe và đột ngột phanh lại vì đuôi xe không lọt qua được hết. Một người đàn ông bụng phệ trông khá lực lưỡng ngồi sau tay lái đang nắm cần thắng tay và ra lệnh:
- Đi ra đi!
Mệnh lệnh này có liên quan đến Nora và Habor, cả hai đang ngồi co rúm ở băng sau. Carrini ngồi bên cạnh người lái xe, nhổm lên trước hai người một chút. Sau đó gã người Ý tự nhận trách nhiệm chỉ huy.
- Hãy đứng ra phía trước xe hơi, chỗ này này, – hắn đưa tay chỉ chỉ vào một chỗ nào đó, – để cho người ở trên đường có thể nhìn thấy rõ được hai người. Nhưng đừng có mà giở trò! Hiểu chưa, anh bạn trẻ ? – Hé mở áo veston, hắn chỉ khẩu súng ngắn nhét trong bao cho Habor thấy – khẩu súng đã làm cho anh cảm thấy hơi rờn rợn sau cuộc gặp gỡ đáng ghi nhớ đối với hai người tại cái nhà trọ ở Munich ấy: cái bạt tai đã gây ấn tượng khá mạnh.
Nora và Habor ngoan ngoãn đi vòng theo chiếc Ostin dài đứng trước đầu xe, nhìn theo những chiếc xe hơi đang lao vun vút trên đường nhựa. Mùa hè, vào thời kỳ này khách du lịch chiếm ưu thế trên đường với những chiếc lều vải cuộn tròn chất trên mui xe hoặc để ở đằng sau chiếc rơ –mooc nhỏ. Không có một chiếc nào trong số xe chạy trên dường dừng lại: những tấm bảng treo hai bên đường cho thấy đúng giữa trưa quán rượu mới mở cửa.
Đột nhiên họ nhìn thấy một chiếc Mercedes màu đen từ hướng Bruck chạy gần lại. Imre cũng đã nhìn thấy Nora và Habor. Ông nín thở và tập trung mọi sự chú ý vào chỗ hai người con. Chiếc xe từ từ rẽ vào chỗ đậu và ngừng lại, cố ý bịt kín lối ra của chiếc Ostin đậu cách đó khoảng 5 mét. Viện trưởng vừa mới kịp ra khỏi xe thì Nora đã lao đến và đu người vào cổ ông. Ông ôm chầm lấy con, hôn và khẽ nói vào tai con gái:
- Không có chuyện gì xảy ra nữa đâu, con đừng sợ. Con hãy hành động đúng theo cách mà ba sẽ hành động sau đây! Hãy truyền đạt cho Habor…
Carrini đã không nhạy bén đối với màn kịch hạnh phúc gia đình do Nora và Imre biểu diễn. Hắn truyền lệnh:
- Gặp gỡ thế đủ rồi. Chúng ta đi tiếp!
Đúng lúc ấy, tại khúc quanh của con đường mà phía sau lại là lối vào của bãi đậu xe trước quán rượu hiện ra một chiếc Volga cũ. Chiếc xe phóng với tốc độ khủng khiếp và ngoặt vào chỗ quán rượu nhưng vẫn không chịu giảm tốc độ. Đứng lặng tại chỗ, mọi người chờ đợi người lái chiếc Volga – vào phút cuối cùng – sẽ vặn tay lái sang một bên để tránh họ. Nhưng điều mong đợi đó của mọi người đã không xảy ra: hệt như một chiếc xe tăng theo chiến thuật đâm nhào vào xe của đối phương, chiếc Volga lao thẳng vào sườn chiếc Ostin với sức mạnh của một viên đạn đại bác. Nhưng trước khi đâm vào chiếc Ostin, bên chiếc Volga cửa xe đột ngột mở và người lái xe phóng người ra ngoài cực kỳ chính xác. Bằng động tác của một diễn viên nhào lộn, anh ta lộn mấy vòng trên mặt đất và đứng phắt lên ngay trước mũi chiếc Mercedes.
Gã lái chiếc Ostin bật ngửa ra phía sau, đầu đẫm máu. Carrini tựa người vào thành xe, bị một đòn trời giáng như thế, bay ra xa mấy mét, ngã sấp mặt xuống đất và bất tỉnh nhân sự. Thoạt đầu người lái chiếc Volga lao đến chỗ gã lái xe mặc dù trán bị toạc một đường và vẫn đang còn chảy máu nhưng gã đã bắt đầu hồi tỉnh. Chàng thanh niên lôi từ trong túi ra một cái lọ có vòi phun xịt thẳng tia nước vào mặt hắn. Gã lái xe rũ xuống và ngã vật trên tay lái. Người lái chiếc Volga chạy thẳng đến chỗ gã người Ý, nâng cổ tay hắn lên xem mạch. “Còn sống”. – anh ta lẩm bẩm trong miệng. Thấy khẩu súng ngắn cộm dưới áo veston, anh ta bèn rút ra và nhét vào túi mình. Sau đó anh ta lại rút cái lọ ban nãy xịt nước vào “vị khách hàng” thứ hai.
- Ngủ đi, anh bạn, đây là thứ mà cậu đang cần nhất đấy! – Anh ta nói một cách vui vẻ.
Cậu bé đang quét sân liền chạy đến và dừng lại, há miệng sững sờ vì những điều nhìn thấy.
- Còn đứng đấy làm gì? Hãy chạy đi gọi điện thoại “cấp cứu”! – Người trẻ tuổi ra lệnh bằng tiếng Đức.
Cậu bé đã hiểu, ba chân bốn cẳng chạy về phía quán rượu. Người lái xe mở toang cửa chiếc Mercedes.
- Bây giờ chúng ta sẽ phóng hết ga! – Anh ta ngồi vào sau tay lái, nói với Imre. – Hiện thời anh chỉ làm một hành khách ngồi trong xe thôi, chúng ta không có thời gian đâu!
- Anh là ai thế ? – Imre hỏi, hoảng hồn vì những việc đã xảy ra trước mắt ông.
- Tôi xin chuyển đến anh lời chào của trung tá Rona. Hãy ngồi vào xe nhanh lên! – Anh ta ra lệnh cho cặp vợ chồng trẻ. – Nếu như cảnh sát chặn chúng ta lại, tôi nói tôi đưa bà vào bệnh viện.Thưa phu nhân, bà đang lên cơn sốt!
- Nhưng dù sao đi nữa cũng cần phải biết chúng ta đi đâu chứ ? – Vừa nghe xong, Nora vội hỏi.
- Đi đâu là thế nào? Đi về nhà, về Hungary chứ còn đi đâu nữa! – Người trẻ tuổi phì cười và tăng tốc độ một cách nhẹ nhàng.
- Họ sẽ không cho chúng tôi qua đâu. Những thằng đểu ấy đã lấy hết hộ chiếu của chúng tôi rồi. – Habor kêu lên.
Người trẻ tuổi lôi từ túi áo trong ra một chiếc phong bì màu trắng và đưa lại phía sau, mắt vẫn không rời con đường nhựa.
- Xin mời! Quà cưới của trung tá Rona. Trung tá yêu cầu trao…
Ba vị khách ngồi im lặng hồi lâu, mắt nhìn xuống khoảng tối mặt đường. Chiếc xe hơi “cấp cứu” với lá cờ đuôi nheo màu đỏ bay phấp phới, hụ còi inh ỏi, vượt qua xe họ, phóng thẳng tới Bruck.
- Chúng ta còn 15 phút nữa. – Người lái xe nhìn đồng hồ. – Như vậy cũng đủ thời gian để qua biên giới. – Nói xong, anh ta nhấn bàn đạp ga đến nấc cuối cùng.
Chiếc kim chỉ tốc độ vượt qua con số 150.
Trong sân sau của tòa nhà KPP ở Hedeshalum có hai chiếc xe hơi đang đứng chờ sẵn, một chiếc là Peugeot của Pháp và chiếc kia là BMW của Đức. Chiếc xe thứ nhất có ba người ngồi, chiếc thứ hai chỉ có mỗi người lái xe.
Rona cùng với các nhân viên và viên đại úy biên phòng đã chiếm lĩnh vị trí, từ đó có thể quan sát rõ được khu đệm giữa hai thanh chắn. Đột nhiên từ trong chiếc máy bộ đàm nhỏ mà người sĩ quan biên phòng đang cầm trong tay vang lên giọng nói của một người đàn ông.
- Một chiếc Mercedes từ phía nước Áo đang chạy đến.
Chiếc xe hơi màu đen đang lao đến với tốc độ cực nhanh. Hai ba phút sau, chính giọng nói ấy lại thốt lên:
- Chiếc Mercedes đang cách biên giới 100 mét. Có bốn hành khách trên xe. Xin kết thúc việc truyền tin.
Rona hết sức sung sướng nhìn những nhân viên thuộc quyền. Đại úy ra lệnh vào máy bộ đàm:
- Cho chiếc Mercedes đi qua, không kiểm tra hộ chiếu. Không được khám xét hành khách trên xe. Hết!
Trung tá bắt tay viên sĩ quan biên phòng.
- Xin cản ơn! – Ông chạy đến chiếc BMW. Kuty và Shalai theo sau.
Chiếc Mercedes chạy vụt qua dưới thanh chắn đã được nâng lên và không giảm tốc độ, lao vun vút theo đường trục xe hơi, vượt qua thị trấn Hedeshalum. Cả hai chiếc xe hơi bám theo nhau lao như điên trên đường.
Qua khỏi Hedeshalum, chiếc BMW vượt lên trên chiếc Mercedes màu đen. Khi hai chiếc xe đã chạy song song nhau, Rona hạ cửa kính xe xuống:
- Thế nào, về bên nhà rồi, tốt chứ hả ? – Ông hét lên.
Những người ngồi trong chiếc Mercedes vẫy tay lia lịa chào ông.
Trung tá quay về phía các nhân viên của mình:
- Tình thế này chúng ta chưa thể đưa họ về sống trong căn hộ của Imre ở Obudar được. Hiện thời bọn chúng đang làm tất cả những việc có thể làm được để xóa sạch mọi dấu vết, cố sức ám hại Imre cũng như cặp vợ chồng trẻ. Họ đã biết quá nhiều việc diễn ra ở phía sau lưng của đội lính phòng vệ.
- Chúng ta đến “Ngôi nhà lớn” chứ ? – Người lái xe hỏi.
Rona gật đầu:
- Được đấy!
- Không thể nào lại như thế được!
Phoster nói trong ống nghe bằng giọng nghẹn ngào. Hắn dùng bàn tay bịt chặt ống nghe, không muốn để cho bà già Kerekesner có thể nghe thấy, thậm chí chỉ một từ trong câu chuyện. Hắn đưa bàn tay còn lại giật mạnh chiếc cà vạt trên cổ và dùng ống tay áo quệt mồ hôi trên trán.
- Tất nhiên, tôi sẽ gọi…Thế nào cũng được. Đến 9 giờ hắn sẽ có mặt ở đây.
Hắn đặt ống nghe xuống cần máy rồi lại nhấc ống nghe lên để gọi số máy khác.
- Lúc 9 giờ tối anh cần phải có mặt ở chỗ tôi, – hắn nói, không cần phải mào đầu hoặc chào hỏi gì hết. – Phải, chỗ tôi!…Anh không được xưng tên tuổi, địa chỉ thì anh biết rồi…Vì sao tôi có mặt ở đây không có gì quan trọng…Có một chuyện hơi bất ngờ đã xảy ra. Ông ấy muốn đích thân gặp gỡ chúng ta…Anh hãy sẵn sàng hành động…Anh phải đến đúng giờ…Thậm chí đến sớm hơn một ít càng tốt.
Đặt ống nghe xuống, Phoster thả người xuống chiếc đi –văng kê ngay bên cạnh. Chiếc đồng hồ lớn kiểu cổ xưa có quả lắc đánh 6 tiếng rền rền. Hắn nhìn ra ngoài cửa sổ. Bóng tối từ các ngôi nhà và cây cối lan rộng ra, không gian đột ngột tối sầm lại. Phoster nhổm phắt dậy, bước vào phòng tắm , cởi quần áo và đứng dưới những tia nước lạnh từ chiếc vòi hoa sen đang xối xuống.
Hoàng hôn đã buông xuống thành phố.
Klara bước vào phòng làm việc của Rona.
- Bộ phận theo dõi báo cáo rằng, mọi người đã được phân bổ về đúng vị trí, bắt đầu làm nhiệm vụ.
- Thế còn Imre và cặp vợ chồng trẻ ?
- Họ ngủ! Tội nghiệp, họ mệt đến cực độ rồi.
- Họ ngủ ở đâu ? Trên ghế ấy à ? – Rona kinh ngạc ngước mắt lên.
- Trên giường! – Klara mỉm cười đáp lại.
- Chị kiếm ở đâu ra những chiếc giường cho họ ngủ thế ? Ngủ ở đây, chỗ chúng ta đây ư ?
- Sao lại ở chỗ chúng ta ? – Klara lắc đầu. – Cố nhiên là không phải rồi. Họ đang ở ngay bên cạnh chúng ta, tại khách sạn Intercontinantal. Tôi đã đặt phòng cho họ ở đấy.
- Ai chỉ thị cho chị làm như thế ?
- Chẳng có ai cả. Chính tôi quyết định làm như vậy. Sau khi tinh thần bị căng thẳng như thế, con người ta cần phải ngủ trong chăn nệm.
- Nếu như vậy thì chúng ta chưa phải là con người. Chưa bao giờ chị đặt phòng ở khách sạn cho tôi ngủ mỗi khi căng thẳng tinh thần. Tiện thể nói thêm, ngay cả bản thân chị cũng thế!
- Chúng ta thì lại là chuyện khác, – Klara nói. – Chúng ta là những người chuyên nghiệp.
Chiếc loa điện động được mắc vào đầu mối liên lạc mới đầu nghe những tiếng lốp bốp nho nhỏ, sau đó nghe rõ dần.
- “Chim ưng” báo cáo! – Shalai đã kịp thay đổi các tín hiệu. – Mills đã đi ra khỏi căn phòng của mình. Hắn đi về hướng thành phố.
- Hãy bám theo hắn! – Rona ra lệnh.
Kuty xuất hiện.
- Tôi đã nói chuyện với lãnh đạo công ty điện lực. Theo yêu cầu của chúng ta, điện thế trong hệ thống mạng lưới điện ở khu phố cần thiết sẽ bị giảm bớt, đèn đường trong khu vực đó sẽ bị tối lại.
Trung tá gật đầu tỏ vẻ hài lòng.
- Tôi hy vọng là trong hoàn cảnh đó chúng ta vẫn nhận ra nhau, phải không? Và ngay cả những kẻ chúng ta đang tìm kiếm cũng thế. – Sau khi ngừng một lúc, ông nói thêm.
Lại nghe giọng của Shalai:
- “Chim ưng” xin thông báo! Mills đi về hướng Vallenberg…
- Đúng hướng! – Rona nói vào microphone. – Chúng ta cũng sẽ đến đấy! Đã đến lúc hành động.
Đến gần cửa, Mills bấm một hồi chuông dài, sau đó bấm hai hồi chuông dài nữa. Một lúc sau nghe tiếng chìa khóa khua lách cách trong ổ khóa. Cửa mở, một người đứng lù lù ngay ở ngưỡng cửa, đó là Phoster.
Khi họ đi ngang qua phòng khách, từ trong phòng ngủ bà góa Kerekesner ló đầu ra.
- Tại sao bà lại nhìn trộm thế ? – Phoster cao giọng cộc cằn với bà lão.
- Không phải tôi nhìn trộm mà là xem xét. – Bà lão nói lầm bầm tỏ vẻ phật ý. – Đây là nhà của tôi và tôi là chủ. Tôi có quyền trông nom canh giữ, không cho anh dẫn phụ nữ vào cái nhà đoan chính này. Cái nhà này bao giờ cũng đoan chính, hãy nhớ lấy điều đó. – Với sức lực bất ngờ, bà góa đóng sập cửa, mạnh đến nỗi các cửa kính trong căn phòng rung bần bật.
- Anh ở Budapest đã lâu chưa ? – Mills hỏi thẳng, rõ ràng có ý muốn gây gổ.
- Anh thì dính dáng gì đến chuyện ấy kia chứ ?
- Hiện giờ tôi không thể cùng làm việc với những đồ ba que xỏ lá và những kẻ hám danh được. – Khách giận dữ. – Bao giờ anh cũng ngồi trên đầu trên cổ chúng tôi, hớt tin tức trên tay chúng tôi, lật đật chuyển những tin tức ấy về cho sếp sớm hơn chúng tôi…
- Thôi đủ rồi! – Phoster ngắt lời hắn. – Không phải tôi báo cáo trước anh mà chính anh báo cáo trước tôi! Ở bên nhà, anh có thể thưa kiện bao nhiêu tùy ý. Nhưng còn ở đây anh phải phục tùng tôi và thi hành những mệnh lệnh của tôi. Anh hiểu chưa ?
Mills cho rằng tốt hơn hết là im lặng. Hắn đi theo Phoster vào phòng riêng của tên này.
- Đã xảy ra chuyện gì phải không ? Trình bày đi xem nào. – Hắn hỏi.
Phoster khép kín cửa.
- Chính tôi cũng không được biết một cách chính xác. Bằng cách nào đấy, Imre đã giúp cho đứa con gái và con rể thoát khỏi tay chúng ta. Tình thế thay đổi, đã nhận được những chỉ thị mới. Nhiệm vụ mới của anh cũng phải thay đổi. Anh cần phải sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ ngay lập tức.
- Cụ thể là thế nào ?
- Hiện giờ tôi chưa biết. Có lẽ tiến hành thủ tiêu một vài người. Chúng ta đã có kinh nghiệm trong việc này. Ví dụ như trong trường hợp của Istvan Dodek.
- Thế còn ai nữa ? Sao không lấy ví dụ ? – Mills nhấn mạnh tiếng cuối của câu nói, lườm Phoster với ánh mắt sắc lạnh.
- Điều đó không quan trọng lắm, – Phoster dủng dưng trả lời. – Nhưng từ ngày hôm qua Saad đã biến mất. Không ai biết anh ta ở đâu, thế mà bênTrung tâm người ta cứ khăng khăng hỏi về anh ta.
- Có quỷ mới biết được thằng cha ấy biến đi đâu! Hắn ta biến mất, và thế là hết. Có thể hắn ta đã ra đầu thú rồi chăng? Chuyện này tôi không được biết.
- Tại sao anh không báo cáo chuyện này ?
- Tôi nghĩ, sớm muộn gì hắn ta cũng sẽ xuất hiện.
Phoster kín đáo lần tìm khẩu súng ngắn trong túi.
- Mills, anh hãy chú ý nghe tôi nói đây. Tôi không biết Imre đã làm thế nào nhưng đã giải thoát được đứa con gái của lão khỏi tay chúng ta. Ai đã giúp đỡ cho lão làm việc này?
- Tại sao anh lại hỏi tôi việc đó?
- Chính là do anh! Bởi vì đúng lúc đó anh không báo cáo về việc mất tích của Saad. Phải, tôi hoàn toàn đồng ý là hắn có thể phản bội chúng ta. Nhưng nếu như có đủ bằng chứng chứng minh việc trở về tổ quốc của con gái Imre có hắn nhúng tay vào, tôi sẽ không đảm bảo tính mạng cho hai anh.
- Nếu Saad là kẻ phản bội, tại sao chính tôi lại phải chịu trách nhiệm về việc đó ?
- Phải chăng anh đã quên rồi ? Đây là chiến dịch “Cặp bài trùng”. Mỗi người trong các anh phải chịu trách nhiệm về người kia không khác gì đối với bản thân mình! Không rời nhau nửa bước, Benks từng nói như thế. Thế mà đã hai ngày nay chỉ có mình anh chạy rông khắp thành phố, thậm chí không thèm quan tâm xem ông bạn “song sinh” của mình đang ở đâu. – Phoster tạm dừng lời. – Bây giờ “Thứ sáu” sẽ đến đây. Anh ta đã cho tôi biết rằng Munich không bằng lòng với tình hình hiện tại. Nhưng, rốt cuộc, đây là việc của anh. Tự anh sẽ giải thích mọi việc với anh ta.
- Tôi chưa chuẩn bị! – Mills đứng phắt dậy và bước vội về phía cửa nhưng Phoster đã rút súng ra.
- Ngồi xuống! Anh phải ở lại đây.
Mills từ từ gieo người xuống ghế. Hắn ngồi giống như con hổ ngồi trên chiếc ghế ở rạp xiếc, dưới ngọn roi của người dạy thú. Cặp mắt nheo nheo của hắn cháy rực lên, còn đôi vai rũ xuống có vẻ uể oải lại báo trước một tư thế sẵn sàng bật dậy đúng vào thời điểm bất ngờ nhất.
Chiếc xe nghiệp vụ dừng sát bên vỉa hè trên đường Valenberg, cách tòa nhà “Phượng hoàng” không xa. Trung tá Rona cầm microphone và gọi Shalai. Ngay lúc ấy có tiếng đáp lại:
- Tôi “Chim ưng”, xin báo cáo: tất cả lối vào và sân có lối đi qua chúng ta đã chặn lại và kiểm tra.
- Đối tượng đã xuất hiện chưa?
- Lúc 20 giờ 40 hắn đi lên cầu thang và vào căn hộ của Phoster.
- Cảm ơn. Chấm dứt liên lạc.
Một người ăn mặc rách rưới thuộc hạng người làm nghề lượm rác đang đi ở phía bên kia đường, bên hông anh ta treo lủng lẳng một chiếc túi khâu bằng vải bố. Anh ta đi lại gần một thùng đựng rác, đẩy nắp lên và ngó vào đó. Biết mọi người từ ngoài đường không thể nhìn thấy được, người lượm rác đưa microphone lên môi:
- Tôi, “Đại bàng con” báo cáo. – Rona nghe – Có một chiếc Volkswagen đang đỗ ở góc đường Lacio Rayca, cách đó 100 mét, khuất sau góc phố trên đường Josef Katona là chiếc Ostin. Mills đến trước tiên, thứ hai là Phoster. Xin hết.
- Chúng ta còn đợi thêm một người nữa. – Rona bình tĩnh nhận xét – Để đề phòng, tôi tuyên bố sẵn sàng mở cuộc truy đuổi công khai. Chiếc xe truy kích đang ở đâu?
- Ở ngay góc phố. Nó đậu ở đó thì sẽ vi phạm luật lệ nhưng tiện lợi, lối thoát mở ra ba phía.
- Ai lái xe?
- Chính chàng trai đã lái xe đến Bruck ấy.
- Rất tốt. Họ sẽ không thoát khỏi được anh ta đâu! – Hài lòng, Rona lầm bầm. – Nhưng mà, Kuty này, cậu thu xếp sao ở đây tối quá, làm cho tôi hầu như không trông thấy được gì hết.
Trong chiếc loa điện động vọng ra giọng nói nho nhỏ của một trong những nhân viên theo dõi.
- Có một kẻ nào đó bước vào cổng. Đèn không sáng, hắn đang bước lên cầu thang.
- Ai vào mới được chứ? Đàn ông hay đàn bà? Vóc dáng thế nào? – Rona chất vấn căn cứ theo thông báo qua đài vô tuyến của nhân viên hành động được cải trang dưới hình thức một người ăn mặc rách rưới.
- Không nhận rõ. Chỉ nhận thấy vóc dáng cao, mặc quần dài…
- Được rồi, ông bạn, đừng có rối lên như thế! Nếu vị khách này hạ cố đến Phoster, từ ban công tầng hai người ta sẽ nhận ra hắn. Ở đấy cũng có người của chúng ta.
Im lặng căng thẳng một vài giây. Sau đó dựa vào sự tính toán, giọng nói thứ ba thốt lên khe khẽ:
- Tôi, “Chim bồ câu”! Người có vóc dáng cao dừng ở bên cửa. Hắn bấm chuông…
Nghe tiếng chuông quy định – một hồi dài, một hồi ngắn, sau đó hai hồi dài nữa, Phoster ra hiệu cho Mills đứng dậy và ra phòng ngoài.
- Hãy bước lên phía trước, đừng có mà giở trò dại dột! Tôi sẽ bắn ngay, không cần báo trước đấy!. – Hắn ra lệnh khe khẽ bằng tiếng Anh rất sõi.
Phoster mở cửa, tay vẫn lăm lăm khẩu súng ngắn chĩa vào Mills.
Tereza Kintres đứng ngay ở ngưỡng cửa.
Trừng trừng cặp mắt lạnh lùng nhìn hai người đàn ông, cô bước vào phía trong.
- Hai. – Cô nói.
- Cộng ba! – Phoster đáp lại.
- Cộng một; tổng cộng là sáu – Cô giơ tay, trong đó có kẹp chặt một nửa tờ giấy bạc loại 10 mark. Phoster rút từ trong túi ra nửa thứ hai, đặt vào bên cạnh nửa thứ nhất – mặt cắt của hai tờ giấy bạc trùng khít nhau.
Tereza rắn rỏi bước vào phòng khách. Đúng lúc ấy, cửa phòng ngủ của bà góa đáng kính động mạnh và bật mở. Chủ nhân của căn hộ, một người ở vào lứa tuổi quá xa đối với cô, lật đật nhảy ra giữa phòng cất tiếng reo đắc thắng:
- A ha, cuối cùng thì tôi cũng tóm được quả tang anh rồi nhé! Anh đã dẫn loại gái ăn sương về đây! Vào nhà của tôi! Thế mà tôi đã từng báo cho anh biết: tôi không chấp nhận làm việc này.
Tereza đứng chết trân tại chỗ. Phoster cố gắng đẩy bà lão quay trở vào phòng ngủ, nhưng bà lão kháng cự một cách mãnh liệt, tiếp tục gào thét bằng giọng the thé.
- Hãy bịt miệng bà ta lại! – Tereza ra lệnh, hướng về phía Mills. – Anh có thể làm tốt việc này, có điều đừng làm cho mụ chết. Hãy câm miệng lại độ một giờ, mụ già yêu tinh!
Mills bịt miệng bà lão ôm thốc lên đưa vào phòng ngủ và đặt lên giường. Sau đó hắn phun vào mặt bà lão hai lần một hóa chất nào đó chứa trong chiếc bình hình cầu màu vàng. Bà góa Kerekesner đáng kính co giật người một lúc, bỗng nhiên lịm đi và lăn từ trên giường xuống tấm thảm.
- Tôi đã làm xong một việc từ thiện, – Mills nói. – Hoàn toàn chỉ dùng có thuốc ngủ.
Nhanh nhẹn bước vào phòng của Phoster, khách ngồi vào chiếc ghế kê bên cạnh cửa sổ đã được kéo tấm màn che kín, hai người đàn ông ngồi vào hai chiếc ghế bành đặt ở phía đối diện. Chẳng nói chẳng rằng, cũng không hề tỏ ra ngượng ngùng, Tereza một lần nữa lại nhìn chằm chằm vào hai người đàn ông, lần lượt hết người này sang người khác. Tất cả đều im lặng. Mãi đến khi sự im lặng đã trở nên quá ư nặng nề, Tereza mới lên tiếng:
- Tôi đã thông báo qua đây nói cho các anh biết: Imrie đã đánh tháo được con gái và con rể của lão ta từ trong tay chúng ta. Tất cả ba người ấy hiện giờ đang có mặt tại Budapest.
- Nhưng việc ấy đã xảy ra như thế nào? – Phoster giận dữ đập lòng bàn tay xuống chỗ tay vịn của chiếc ghế bành.
- Tôi không có thì giờ nói cho anh biết về tất cả mọi chi tiết. – Khách đáp lại một cách nghiêm khắc. – Hai người của chúng ta đã bị thương. May mà sếp đã kịp lôi họ ra khỏi bệnh viện trước khi cảnh sát Áo đến điều tra vụ án, xem xét họ là ai và họ bị thương trong hoàn cảnh nào.
- Làm gì với Imre? – Phoster hỏi vẻ quan tâm. – Bây giờ sếp đã dự tính bắt buộc lão làm việc cho chúng ta bằng cách nào chưa?
- Chưa có cách nào cả! – Khách xẵng giọng đáp và nhìn Mills. – Dù sao đi nữa thì Naldor Saad cũng đã không thể là người làm chứng chống lại lão ta!
Mills, không hề chớp mắt, đáp lại Tereza bằng cái nhìn xấc xược nhưng không lên tiếng.
- Bela Imre phải chết. Vào đúng ngày hôm nay. Lệnh của sếp như vậy.
- Hôm nay? – Mills lặp lại như máy. – Nhưng làm sao? Bằng cách nào?
- Đấy chính là việc của anh. – Câu trả lời vang lên gay gắt và dứt khoát. – Còn về cách thức thì cứ áp dụng giống như cách thức mà người ta đã áp dụng để loại trừ Saad.
- Làm sao tôi biết được người ta đã loại trừ Saad như thế nào? – Mills càu nhàu. – Lần đầu tiên tôi được nghe Saad đã bị giết chết.
- Từ Munich người ta đã báo cho tôi rằng, – không hề chớp mắt, Tereza nói tiếp như không để ý gì đến sự phản ứng của Mills – nếu Bela Imre bị sát hại thì người ta sẽ tha tội cho anh về cái chết của Saad. Còn nếu như anh không làm được điều đó thì tốt hơn hết là anh tự nộp mình cho cảnh sát Hung. Tôi hy vọng anh đã hiểu tôi đang nói về việc gì?
Phoster cảm thấy dường như có tiếng kêu cót két gì đó ở phòng khách. Hắn ngẩng đầu lên, nhưng tiếng cót két không còn nhắc lại nữa. “Đồ gỗ cũ kỹ, đôi khi cũng vẫn cứ kêu cót két như vậy”, – hắn tự trấn tĩnh. Quả thực, tiếng động cũng tương tự như tiếng mọt đang ăn gỗ.
Tereza cho tay vào ví đầm và rút ra khẩu colt cỡ 22. Trên nòng khẩu súng ở phía cuối nổi lên một vệt đen đen của bộ phận giảm thanh cấu tạo giống như một ống xy –lanh.
- Hãy lại gần đây. – Tereza vẫy Mills về phía mình. – Anh hãy cầm khẩu súng này. Tối hôm nay anh phải dùng nó bắn chết Bela Imre. Ở nhà, ngoài đường phố hoặc ở đâu đó tùy ý anh. Anh phải tìm ra lão và hạ sát lão cho bằng được.
Phoster nhổm người lên khỏi chiếc ghế bành cùng lúc với Mills. Hắn hoàn toàn không muốn nhìn thấy trong tay của tên đồng lõa có vũ khí. Hắn bước hai bước đã ra đến cửa.
Mills chồm người về phía khẩu súng.
Đúng lúc ấy những cánh cửa kêu răng rắc và bật mở tung.
- Giơ tay lên! – Mệnh lệnh vang lên như tiếng roi quất – Rona và những nhân viên của ông ập vào phòng. Khẩu súng ngắn trong tay trung tá chĩa thẳng vào ngực Mills. Gã điệp viên sững người và đưa hai tay lên trời. Trong tình thế đó Phoster hóa ra lại ở phía sau cánh cửa. Hắn nâng khẩu súng ngắn của mình lên, nhằm Rona, đúng ngay vào lưng ông. Ngay lúc ấy, một vạch lửa đỏ chợt loé lên, tiếp theo là tiếng súng nổ nghe đánh tạch, giống như tiếng nổ của một chiếc pháo tép. Tereza đã nổ súng. Phoster ôm vai, lảo đảo và đánh rơi vũ khí. Hắn trố mắt kinh ngạc nhìn “Thứ sáu”. Shalai lao đến và chộp lấy Phoster.
Trong cảnh nhốn nháo, Mills chợt nảy ra ý nghĩ muốn chạy thoát thân. Hắn thụp người xuống và nhào ra đến cửa nhưng Kuty đã chụp được hắn.
Một giây sau, cổ tay của hai tên gián điệp đã bị những chiếc còng khóa chặt.
Rona bước về phía cô gái, chìa cả hai tay:
- Cảm ơn, Tereza!
Cô nữ thư ký run lập cập. Khẩu colt với bộ phận giảm thanh rời ra khỏi những ngón tay yếu đuối và rơi xuống ngay dưới chân cô. Rona cúi xuống và nhặt nó lên. Từ đôi mắt mở lớn của cô gái, những giọt nước mắt rơi lã chã hệt như những hạt mưa rào.
- Bình tĩnh nào, Tereza, tất cả đều đã qua rồi. – Như ông bố đối với con, Rona ôm vai cô gái. – Dù sao chúng ta cũng đã tóm cổ được bọn thổ phỉ này rồi, hơn nữa, chúng ta đã sống như chúng ta từng mong muốn. Cảm ơn cô, Tereza Kintres! – Quay về phía một trong những nhân viên kỹ thuật nghiệp vụ, ông hạ lệnh: – Trung úy, hãy đem đến cho cô ấy một ly nước!
Viên trung úy chạy vào trong nhà bếp, đột nhiên vừa la hét vừa kêu lên the thé, dội ngược trở ra:
- Cấp cứu! Có người chết!
Tiếng kêu này vang lên đột ngột và buồn cười đến nỗi làm cho Tereza đang khóc cũng phải mỉm cười:
- Bà lão đáng thương! Bọn chúng đã phục thuốc mê bà lão một cách hèn hạ! Lỗi tại tôi, tôi sợ tiếng la hét của bà lão lan khắp ngôi nhà thì khi ấy mọi việc sẽ hỏng hết…
Hai nhân viên tác chiến xông vào phòng ngủ.
- Tôi không cần giúp đỡ đâu, tự tôi sẽ làm lấy! Chỉ có điều tôi không sao đứng vũng được! Đường dẫn khí đốt này ở đâu mà nó lại phun vào mặt tôi thế?
Mọi người chen lấn nhau. Bà lão cáu tiết xuất hiện ở ngưỡng cửa căn phòng của Phoster, giống như nữ thần của sự trừng phạt.
- Cái gì xảy ra ở đây thế? Ai mời tất cả các ông các bà lại đây thế? Tôi không cho phép những người thuê nhà tụ tập thành đám đông như vậy! – Bà chủ đáng kính bỗng nhiên im lặng. – Bà đã nhìn thấy Phoster đang cố đứng cho vững. Trên vai hắn, một vệt máu đang loang chảy. Bà lão hướng về phía Rona và xác định ông là người chủ yếu:
- Còn người này sắp chết rồi, đúng không? Lúc nào tôi cũng nói với hắn như vậy. Chớ nên lúc nào cũng vội vội vàng vàng, cau cau có có, vì như thế thì không thể sống lâu được.
- Tôi không hiểu bà định nói gì, thưa bà lão đáng kính, – Rona liếc nhìn Phoster, – nhưng dứt khoát bà có tài tiên đoán. – Ông ra hiệu cho các nhân viên: – Hãy đưa những tên bị bắt đi. Dọc đường, các anh hãy gọi vô tuyến điện thoại mời bác sĩ đến.
Mọi người đi về phía lối ra nhưng bà Kerekesner ranh mãnh chắn ngang đường của họ.
- Xin các vị thứ lỗi, thế ai sẽ dọn dẹp căn hộ? Chung quanh toàn là dấu giày dép, rác rưởi, vết bẩn!
Rona cười mát và trấn an bà góa đang nổi giận:
- Bây giờ chúng tôi đang phải lo dọn dẹp cái ghê tởm nhất, phần còn lại thì bà hãy lo mà dọn dẹp lấy!