Chiến Dịch “Cặp Bài Trùng”

Lượt đọc: 360 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Xix

❊ ❊ ❊

- Cái chết xảy ra ở khoảng giữa 6 đến 8 giờ sáng. – Kuty báo cáo cho trung tá kết quả khám nghiệm xác chết của nhóm nghiệp vụ. – Người lái tàu lượn đang tập dượt, bay ngang qua đã nhìn thấy xác chết từ trên cao. Anh ta đã báo cho công an khu vực. Khám xét xác chết, người ta đã tìm thấy hai hộ chiếu. Hộ chiếu thứ nhất của Venezuela, cấp cho hắn bằng tên riêng, còn chiếc thứ hai, của Argentina, mang tên Amadeo Zecko. Những bức ảnh trong cả hai hộ chiếu đều giống nhau mà cả hai hộ chiếu đều là thứ giả mạo nhưng đúng là sự giả mạo theo lối cổ điển! Từ chỗ đó họ đã báo cho chúng ta biết như vậy.

Rona cất cả hai tấm hộ chiếu vào hộc bàn.

- Chúng đang bắt đầu làm những trò xuẩn ngốc. – Shalai đăm chiêu nói.

- Cậu kết luận từ nguyên nhân nào thế ? – Kuty liếc nhìn bạn đồng nghiệp.

- Ở lần này chúng cũng cố dựng lên hình thức tự sát. Nhưng so với cách sắp xếp ở ngôi nhà trong rừng thì rõ ràng ở đây có vẻ thô thiển hơn nhiều. Nếu xét đoán theo những dấu vết để lại, “ứng cử viên cái chết” đã đi đến bằng xe hơi, sau đó tự kết liễu cuộc đời mình và lại ngồi vào sau tay lái vọt đi, đồng thời cũng lại tắt thở trong khe núi.

- Cậu giải thích thật quá rắc rối, nhưng nếu muốn hiểu thì cũng có thể hiểu nổi. – Đại úy vỗ vai Shalai. – Nhân tiện nói thêm, ban kỹ thuật nghiệp vụ vừa mới gọi dây nói. Họ xác nhận rằng những dấu vết của vỏ xe hơi, chiếc xe mà cậu đang nói ấy, trùng với những dấu vết của chiếc juyguli từng đậu trong rừng, cách ngôi nhà của Dodek không xa, lúc xảy ra vụ án mạng.

- Chúng ta đã biết ba tên điệp viên của chúng đang có mặt ở Budapest. – Rona nói thành lời những suy nghĩ của mình. – Saad thì đã chết. Phoster đang bị chúng ta theo dõi thường xuyên, điều này có nghĩa là không phải hắn. Nhưng tại sao hắn ta lại làm việc này? Theo lệnh của trung tâm hay vì một nguyên nhân nào khác?

- Cũng có thể Saad không muốn thực hiện một mệnh lệnh nào đó chăng? – Shalai nêu giả thiết.

- Hoặc hắn ta sợ thất bại? – Kuty bổ sung.

- Có thể cả hai cậu đều nói đúng cả, – Rona gật đầu. – Không muốn thực hiện mệnh lệnh vì sợ hãi. Nhưng mà mệnh lệnh có mức độ khẩn cấp như thế chứng tỏ trong mối quan hệ với Imre có thể đã nảy sinh chuyện nghiêm trọng nào đó rồi.

Rona không thể hiểu được nguyên nhân thực sự đã thúc đẩy Mills bắn chết Saad, nhưng kết luận của ông về sự đe dọa sinh mạng của Imre là đúng. Chính những suy nghĩ của Shalai đã khiến ông đưa ra những kết luận đó.

- Anh muốn nói rằng sinh mạng của Imre hiện đang bị nguy hiểm?

- Phải, hiện thời là như vậy. Cho đến bây giờ tôi vẫn tưởng rằng sự đợi chờ trong suốt 32 năm, toàn bộ công việc chuẩn bị quy mô và các khoản chi phí lớn lao cũng như mọi thứ khác đã là một sự bảo đảm rằng chúng cần một “Imre sống” kia. Nhưng lúc này hình như đã có một cái gì đó làm cho bộ máy vốn đã hoàn chỉnh bị dừng lại, dường như một chiếc đinh vít đã bị hư và mọi chuyển động dường như đã mất thăng bằng. Hiện thời rất khó có thể nói trước được rằng bọn chúng đang tập trung hành động.

- Chúng ta đã tăng cường lực lượng bảo vệ cho Imre từ hôm qua rồi.

- Tôi biết. – Rona chuyển đề tài câu chuyện. – Đã biết được gì về họ hàng thân quyến của những tên gián điệp đang sống tại đất nước ta chưa?

- Hiện thời chỉ biết được mỗi người. – Shalai sôi nổi. – Bà này là bà dì của Robert Haber hiện sống ở đường Vallenberg ngay tại Budapest này.. – Dừng lại một lát để gây ấn tượng, anh ta báo cáo tiếp. – Thomas Phoster hiện đang trú ngụ ở chỗ bà ta.

- Tin tức quả là không tồi! – Kuty đánh giá việc làm của anh bạn đồng nghiệp bằng cách reo lên.

- Bà ấy bao nhiêu tuổi rồi? – Rona hỏi với vẻ quan tâm.

- Tám mươi tuổi.

- Quá cao.

- Chúng ta phải làm gì tiếp đây? – Đại úy hỏi.

- Bảo vệ và giữ gìn cho Imre như con ngươi của tròng mắt vậy! – Im lặng khoảng một phút, trung tá thở dài. – Tôi có thể nói sơ qua rằng tôi đã chuẩn bị một trận đấu lớn, nhưng sợ rằng nói đến chuyện ấy bây giờ thì còn quá sớm.

Tòa nhà xây cất để cho thuê màu xám xịt, loại nhà quen thuộc đối với nhiều người có từ đầu thế kỷ, kiểu như tòa nhà Phượng hoàng này, cho đến nay vẫn cứ nhô lên lù lù một khối trông rất dị hợm chen giữa những ngôi nhà nhỏ một tầng ở quận Lipotvaros của thủ đô.

Mãi tận tầng bốn, trên một cánh cửa dẫn vào trong phòng có treo một tấm biển nhỏ bằng đồng đã ngả màu: “Kerekes Balintner, quả phụ”.

Thomas Phoster bước đến đúng chiếc cửa này, mở khóa rồi khóa cửa lại bằng chìa khóa riêng. Hắn buộc sợi xích bằng thép và quay người lại – một bà già khô đét vừa bước từ nhà bếp ra đang đứng trước mặt hắn.

- Anh đấy ư, anh bạn thân mến? Cuối cùng rồi anh bạn cũng đã về. – Bà già nói giọng đớt. – Thế mà tôi cứ đợi mãi. Anh nhìn xem, tôi đã nhìn thấy cái gì ở dưới cửa này. – Bà già rút từ trong túi tạp –dề ra một chiếc phong bì. – Tôi đã định bóc nó ra nhưng bỗng nhận ra rằng bức thư không phải gửi cho tôi mà là gửi cho anh bạn. May mà tôi có kính để đọc. Tôi cũng thường hay nhận được những bức thư từ dưới khe cửa. Thằng cháu Robert của tôi bao giờ cũng gửi tiền cho tôi theo cách thức ấy. Còn ai đem chúng đến thì hình như nó không muốn để lộ ra cho tôi biết, mà tôi thấy như vậy có lẽ lại tiện hơn. Tôi khỏi cần phải chầu chực ở ngân hàng làm thủ tục chuyển tiền. Mong sao Chúa trời giữ trọn cái thói quen tốt này của nó.

Bà già vung vẩy chiếc phong bì trong tay, quên hẳn mình cần phải trao nó cho người nhận.

- Rốt cuộc, tôi có thể nhận bức thư ấy chứ? – Hắn trâng tráo giật chiếc phong bì trên tay bà lão và đi thẳng vào phòng riêng của mình.

- Lúc nào anh bạn cũng cáu kỉnh như thế. – Bà già phật ý. – Hãy coi chừng, tính khí như vậy dễ chết sớm lắm đấy. – Bà già khịt mũi, quay lưng trở vào nhà bếp.

Phoster mở phong bì. Bên trong chiếc phong bì này lại có một chiếc phong bì khác nhỏ hơn đã được dán kín và một mẩu thư đánh máy.

“Hãy cất kỹ chiếc phong bì này, không được mở ra và hãy lên đường ngay lập tức”. – Hắn bắt đầu đọc từ dòng cuối cùng rồi đưa mắt liếc nhìn phía trên, chỗ đầu tiên của bản mệnh lệnh. Mệnh lệnh chỉ rõ: “Trong chiếc phong bì dán kín là thông báo về việc B.I đã chấp thuận ra đi đúng kỳ hạn, nhưng lão ta có đưa ra một số điều kiện. Hãy thỏa thuận những việc ấy với sếp. B.I đang lo lắng đến cực độ. Nếu chúng ta muốn đạt được nhiều kết quả, nên nhượng bộ lão một vài điều thích hợp. Chiều ngày mai anh cần phải có mặt ở đây. Tôi bố trí như vậy để anh nhận được câu trả lời của B.I không phải vào sáng ngày mai mà là vào buổi chiều, nếu như chúng ta chấp nhận điều kiện của lão. Tôi sẽ gọi dây nói cho anh sau khi đi về. Mật hiệu – hai tiếng chuông. Mật hiệu này cũng sẽ là quy ước để tôi nhận ra anh ở chỗ gặp. Thứ Sáu”.

Phoster nhìn đồng hồ: 17 giờ 40 phút. Để kịp trở về sau một ngày một đêm, phải vắt giò lên cổ mới được. Vớ lấy chiếc túi nhỏ dùng đi đường, hắn rời khỏi căn hộ của bà quả phụ Kerekes Balintner, không kịp tìm chủ nhà để từ biệt.

Tại một nơi trên đường Vallenberg cách cổng của tòa nhà Phượng hoàng không bao xa có một chiếc xe hơi mang biển số nước ngoài nhãn hiệu Audi đang đậu. Cả hai người đi trên xe đều tỏ vẻ đang chăm chú đọc tạp chí Ventvose của Tây Đức.

Phoster hiện ra ở vòm cổng. Đảo mắt nhìn một vòng, hắn nhận thấy không có gì đáng để nghi vấn, liền rảo bước đi về chiếc Ostin của mình và nổ máy, rời khỏi chỗ đậu.

Một trong hai người ngồi trên chiếc Audi đặt tờ báo xuống đầu gối.

- Hãy ra lệnh cho người của chúng ta theo dõi hắn. – Người đó nói với Shalai đang ngồi bên cạnh. – Và hãy bảo họ lưu lại trên KPP tại Kedieshalum và ở đấy đợi hắn quay trở về. Ngày mai, lúc hừng đông, hắn sẽ trở lại. Ngay sau khi hắn xuất hiện, báo cáo cho tôi biết.

Shalai cúi xuống chiếc microphone:

- “Chim sẻ” chú ý! Hãy tiếp nhận nhiệm vụ… – Truyền đạt xong nhiệm vụ, anh ta quay về phía trung tá. – Do đâu mà trung tá có thể biết hắn ra đi và ngày mai sẽ quay trở lại?

Rona không có thói quen che giấu bất cứ việc gì đối với các nhân viên thân cận của mình. Nhưng lần này ông bắt buộc phải né tránh, không muốn trả lời thẳng vào câu hỏi.

- Tôi đã nói rằng một cuộc đấu lớn đang được dự tính. Nhưng bây giờ quả thật tôi chưa được phép nói về nó.

Shalai gật đầu tỏ ý đã hiểu.

- Thế bây giờ trung tá đi đâu? Hay là về nhà chăng? – Anh ta hỏi, cố tránh làm trung tá phật lòng.

- Không. Tôi cần phải đến gặp Kuty. Tôi muốn cậu liên lạc với cậu ấy để cậu ấy thu xếp thì giờ gặp tôi. Đi nào…

- Chúng ta cần phải biết chiếc xe hơi mà Mills đã đi.

- Có lẽ, đó chính là chiếc Juyguli, – Kuty vội vàng trả lời. – Những dấu vết của vỏ xe ở chỗ ngôi nhà gác rừng và ở phía mặt đường tại thung lũng Sói – nơi Saad đã bị giết chết – đều là của chiếc Juyguli.

- Phải, có thể lắm. – Rona thận trọng. – Nhưng chúng ta không có những bằng chứng cụ thể xác nhận rằng chính Mills là tên đã cùng đi với Saad đến chỗ mà Saad đã bị giết chết.

- Có chứ! – Kuty đặt trước mặt trung tá bản kết luận của ban kỹ thuật nghiệp vụ. – Đây là một. Các nhân viên bên ban kỹ thuật đã xác minh rằng những dấu chân của người “thứ ba” ở bên cạnh ngôi nhà gác rừng và ở cạnh xác chết của Saad chỉ là một.

- Một tang chứng quan trọng, nhưng hẵng để đấy đã. Hiện giờ chúng ta cần phải biết chiếc xe Mills đang sử dụng và chỗ ở của hắn. – Rona đột ngột nhân nhượng. – Thôi được, tôi đồng ý, hãy tìm chiếc Juyguli đi. Hãy để mắt đến hãng Volan , chắc là xe thuê ở đó đấy.

- Cố nhiên, thưa thủ trưởng.

- Con đường chắc chắn nhất để phát hiện ra chiếc xe hơi này là căn cứ vào chiếc máy phát sóng trong chiếc samsonite của Imre. Theo ý kiến của Ladani, nó hoạt động trong phạm vi 400 mét, trong những điều kiện đặc biệt thuận tiện có thể lên đến 1000 mét. Nhưng tất cả những cuộc nói chuyện của Imre đều đã được ghi âm một cách tuyệt vời, vì vậy cần phải nghĩ rằng máy hoạt động ở khoảng cách gần hơn trong giới hạn 400 mét này.

- Điều ấy có nghĩa là tên gián điệp đã tiến hành công việc ở ngay trên xe hơi?

- Chắc chắn kết luận rút ra phải là như vậy. Việc phát hiện ra chiếc đài vô tuyến giấu trong chiếc Ostin nói lên rằng cách thức ấy được bọn chúng cho là chắc chắn và đáng tin cậy.

Đại úy thở dài buồn bã:

- Thôi đành, cuộc hẹn ngày hôm nay của tôi thế là đi tong. Tuy nhiên cũng chẳng có gì đặc biệt: một cô gái nhỏ nhắn và mũm mĩm. Thôi để lần sau vậy. Bây giờ tôi đem theo một người nào đấy để giúp ghi chép bảng số của tất cả xe hơi đậu trong phạm vi chung quanh căn hộ của Imre. Còn ngày mai, ngay từ sáng là chung quanh khu vực của Viện năng lượng. Nếu hai số xe trùng với số xe chiếc Juyguli, vấn đề kể như đã được giải quyết.

- Tôi không hiểu. Tại sao đối với cậu thì đó chính là chiếc Juyguli?

- Thứ nhất, đó là loại xe hơi ngon lành. Và thứ hai, chính người lái tàu lượn từ bên trên đã nhìn thấy chiếc Juyguli màu Bordeaux lúc phát hiện ra xác chết của Saad.

- Hãy xuất phát đi! Chỉ có điều đây hoàn toàn không phải là kịch nghệ, rõ chưa? – Đại úy đã đi ra đến cửa trong khi Rona còn dặn với: – Hãy bảo Klara đến chỗ tôi.

Đúng lúc ấy, người nữ thư ký ló đầu ra ngay bên cửa.

- Anh sẽ đọc cho tôi viết chứ? Lấy quyển sổ để ghi tốc ký phải không?

- Sao lại thế? Ai lại đi sử dụng một nhân viên có nghiệp vụ như một nữ tốc ký kia chứ!

- Thế nào, lại sắm vai một lần nữa à? Nhưng mà tôi trả chiếc khăn choàng đen và các thứ dụng cụ dùng để làm vườn rồi.

- Nhưng lần này không đòi hỏi chị phải có quần áo hóa trang cũng như ba cái thứ đạo cụ của nhà hát. – Rona ra dấu mời Klara lại đứng gần bên bàn làm việc của mình. – Chỉ cần một chiếc cặp, mà chị cứ cầm luôn chiếc cặp của tôi đây cũng được. Một chiếc bút bi và giấy đựng trong đó…

Klara nhìn thủ trưởng tỏ vẻ hoài nghi, sau đó phì cười:

- Anh biết không, tôi đã gặp may khi anh giao cho tôi đóng vai một người đi thăm nghĩa trang. Còn bây giờ thì tim tôi đã đập rộn lên rồi…Nhiệm vụ mới phải không?

Rona nhìn người nữ thư ký và mỉm cười:

- Chị là một người tuyệt diệu, Klara ạ! Chị hãy ngồi xuống đi…

Tại tòa nhà của Viện năng lượng chỉ có hai cửa sổ là còn ánh sáng đèn – một ở văn phòng của viện trưởng và một ở phòng tiếp khách.

Tài liệu về chương trình “Mặt trời” mà Imre đang nghiên cứu được bố trí bên cạnh chiếc bàn dài dùng để hội họp, trên đó bày ra các bản vẽ, đồ án, biểu đồ và các loại tài liệu khác, liên quan đến biện pháp thực hiện của những cuộc thí nghiệm.

Tereza Kintres, với quyển sổ ghi chép trong tay, ngồi ở phía đối diện để ghi tốc ký và ghi chép những điều chỉ dẫn của trưởng ban kỹ thuật, đồng thời chuẩn bị các tài liệu.

-…Cần chú ý rằng hình tam giác OAC không phải được chế tạo từ tấm kim loại cùng loại, bởi vậy tọa độ được tính toán không đúng trọng tâm của toàn bộ cấu trúc. Những vận tốc của từng phần nhỏ được tính toán trong bản phụ lục số 12 không ăn khớp với dẫn liệu thí nghệm trong máy gia tốc đã nêu rõ ở bảng phụ lục trước đó. Xuống dòng, Tereza! Trên cơ sở này tôi yêu cầu từ nay về sau chỉ được trình lên cho tôi những số liệu đã được kiểm tra đầy đủ, và tôi cũng xin báo trước rằng các anh phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về những lỗi lầm đã phạm phải này. Độ sai lệch nhỏ nhất của thiết kế sơ bộ sẽ được đặt dưới vấn đề doanh lợi và hiệu quả của toàn bộ công trình. Soát xét lại và xác định thêm toàn bộ các tài liệu, trình cho tôi lần nữa vào lúc 16 giờ ngày 26 tháng 6. Ngày tháng, chữ ký của tôi.

- Tôi giải mã và đánh máy lại ngay bây giờ. – Tereza nói, gấp cuốn sổ ghi chép lại.

Imre nhìn đồng hồ trên tường.

- Tôi lấy làm tiếc vì đã giữ cô ở lại khá muộn, nhưng chiều ngày mai tôi đã cần đến tài liệu này rồi. Và điều này rất quan trọng !

- Sáng mai, đích thân tôi sẽ trao phong bì tài liệu cho viện trưởng. Còn sau đó viện trưởng có thể giải quyết cho tôi tạm vắng một lúc được không? – Cô gái hỏi, hơi đỏ mặt.

- Xin cứ tự nhiên, tôi không hề phản đối.

- Mong anh hiểu cho, ở chỗ bán phụ tùng xe hơi vừa bán một loại tấm chắn để bảo vệ hai bên hông xe. Tôi muốn mua chúng ngay kẻo hết…

- Không cần phải giải thích gì cả, Teri ạ. Chỉ có điều tôi sợ rằng tất cả những cuộc đua xe này của cô sẽ không dẫn tới điều gì tốt đẹp đâu.

Trong phòng tiếp khách vang lên tiếng chuông điện thoại thành phố. Tereza chạy đến máy điện thoại nhưng sau đó ra hiệu cho viện trưởng để ông nhấc ống nghe ngay trên bàn làm việc của ông.

- Không cần, tôi sẽ đến chỗ anh. – Trước khi khép cửa phòng làm việc lại, ông đưa mắt nhìn chiếc samsonite vẫn được để ở chỗ cũ.

- Xin chào, Balint! – Ông nói vào ống nghe. – Phải, từ phòng tiếp khách, như chúng ta đã quy định…Hiểu rồi, tôi sẽ cố để tỏ ra không ngạc nhiên. Thời gian gần đây cậu đã tập cho tôi quen với những chuyện bất ngờ. Trong tôi sức dẻo dai cũng đã bắt đầu xuất hiện. – Qua lại mấy câu nữa, Imre chợt hất đôi kính lên trán và nắm chặt lấy ống nghe: – Cái gì thế ?…Tôi hiểu rồi…Nhưng để làm gì tất cả những chuyện ấy cơ chứ ? Được, tôi sẽ thận trọng…Phải, cố nhiên rồi…Nếu như có tin tức, hãy gọi điện thoại! – Như rơi vào trạng thái mê man, ông đánh rơi ống nghe và bần thần đứng mãi bên máy điện thoại của Tereza. Chừng một phút sau, phản ứng mới xuất hiện. Đầu óc choáng váng, mặt tái đi và ông lảo đảo dựa vào mép bàn.

Tereza kinh hãi giương mắt lên:

- Viện trưởng không được khỏe phải không? – Cô bưng ly nước đưa cho viện trưởng.

- Ngoài sức tưởng tượng… – Imre thì thầm và uống cạn ly nước.

- Có chuyện gì thế ?

- Một người quen cũ của tôi đã chết. Tên anh ta là Naldor Saad! Cô không biết anh ta đâu.

- Đúng là tôi không biết thật. – Thấy giây phút yếu đuối của viện trưởng đã trôi qua, Tereza lại ngồi vào bàn máy chữ và bắt đầu gõ lách cách trên các phím.

Imre quay về phòng làm việc của mình.

Ladani không còn ở trong nhà của Imre, thay thế nhiệm vụ của thiếu tá bây giờ là Shalai. Trong phòng khách chỉ bật một ngọn đèn nhỏ, các cửa sổ được che kín bằng những tấm mành rất dày.

Imre lấy chai rượu vang trắng nhãn hiệu “Người tu sĩ áo xám” và hai chiếc ly đặt lên bàn. Lặng lẽ, ông rót đầy chất nước giải khát tao nhã vào hai chiếc ly khéo léo tới mức không hề phát ra một tiếng động nhỏ. Ông nâng ly của mình lên và đưa mắt ra hiệu mời Shalai. Hai người uống một cách lặng lẽ, không ai chạm ly với ai.

Chiếc samsonite được đặt bên cạnh, trên chiếc bàn nước ở bộ salon.

Shalai nhìn chiếc cặp một cách bực tức. Nó đã làm cho hai người chán đến tận cổ vì phải im lặng cũng như phải dùng dấu hiệu mỗi khi muốn trao đổi với nhau. Imre nhìn Shalai ngụ ý muốn hỏi: hay là đem vất quách đi? Với nỗi bực bội hiện rõ trên nét mặt, thượng úy phẩy tay: không nên.

Tiếng chuông điện thoại vang lên.

- Bela Imre đây! – Viện trưởng nói vào ống nghe.

Ngay lúc ấy Shalai nhón chân đến đứng ngay bên cạnh ông để nghe điều mà người ở đầu dây bên kia đang nói.

- Chúng tôi không chịu để anh nói điện thoại từ văn phòng của anh mà nói từ một nơi khác, anh nghe chưa?

- Quỷ bắt các anh đi! – Imre quát lên. Shalai nắm chặt khuỷu tay của ông, tỏ dấu hiệu đồng tình. – Ngoài ra, tôi đã nói với các anh là ngày mai hãy gọi cho tôi. Hôm nay tôi không có hứng thú để chuyện trò, nhất là đối với anh.

- Không được đặt ống nghe xuống!

Shalai ra dấu cho viện trưởng hãy nghe tiếp.

- Được, tôi nghe đây.

- Chúng tôi đã nhận được tin báo là anh đã chuẩn bị tài liệu cho chúng tôi và yêu cầu cấp dưới về mặt chất lượng của những tài liệu ấy, nhưng tôi không muốn để anh nói qua điện thoại vào lúc khác và ấn định kỳ hạn cho tôi.

- Tôi không cần biết anh có chịu hay không chịu! – Imre lại nổi khùng.

- Ngài lên mặt quá rồi đấy, ngài viện trưởng ạ. Nếu không tỉnh ngộ, ngài có thể chịu số phận như ông bạn Saad của ngài.

Shalai đưa ngón tay lên môi, tỏ cho Imre biết chớ nên sa đà vào câu chuyện về Saad.

- Số phận về Saad ư? Tôi không biết điều gì đã xảy ra với ông ấy và hiện thời ông ấy ở đâu. – Imre điềm tĩnh nói.

- Saad đã chết sáng hôm nay! Chuyện ấy cũng rất có thể sẽ xảy ra đối với anh.

- Nghĩa là anh đã giết Saad và bây giờ sắp đến lượt tôi?

- Bây giờ thì chưa đến lượt, nhưng cũng sắp có thể đấy! Đặc biệt là nếu anh vi phạm những quy định của chúng tôi. Còn bây giờ anh hãy đi tắm nước lạnh và nằm ngủ để xả hơi đi. Còn về những điều kiện của anh, tôi sẽ gọi dây nói vào ngày mai nhưng không phải vào buổi sáng mà vào buổi chiều. Trong mọi trường hợp anh hãy chuẩn bị lên đường! – Trong ống nghe kêu lục bục và họ nghe thấy những tiếng tít tít ngắn ngủi.

Shalai nắm lấy chiếc samsonite đáng nguyền rủa và xách nó vào nhà tắm, mở vòi nước, vặn cho nước từ vòi tắm hoa sen chảy xuống và xoa xoa tay một cách khoái trá, quay trở vào phòng khách.

- Thằng cha đê tiện ấy đã cho chúng ta một cơ hội thuận tiện! – Anh ta nói một cách vui vẻ. – Chúng ta có thể điềm nhiên chuyện trò, ít nhất cũng được nửa giờ… Lúc này anh nên nhận lời đi tắm theo sự chỉ dẫn của hắn đi. Vì sức khỏe của Anh! – Anh ta nâng ly của mình và uống cạn đến tận đáy.

Lo lắng và hồi hộp như một nữ diễn viên mới vào nghề, Klara ấn nút chuông bên cạnh cánh cửa có tấm bảng đề dòng chữ “Kerekes Balintner, góa phụ” trong tòa nhà mà chúng ta đã có dịp làm quen ở phố Vallenberg. Klara đã biết trước có một bà già sống ở đây, chân tay không còn cử động nhanh nhẹn được nữa nhưng cô vẫn không chịu chờ đợi mà lại đưa tay ấn nút chuông gọi cửa một lần nữa.

- Tôi ra đây, ra đây! Ra ngay bây giờ! – Klara đã nghe thấy giọng nói yếu ớt ở phía sau cánh cửa, và tại cái cửa bé tí tẹo dành cho khách đến thăm, hiện ra bộ mặt nhăn nheo của bà góa.

- Xin chào bà Kerekesner! – Klara cố nói với giọng thật nhã nhặn. – Tôi đến bà vì một công việc quan trọng!

- Chắc là cô ở chỗ Robert đến? Về việc tạm trú phải không? – Bà già sốt sắng. – Đáng tiếc là không còn chỗ. Cô lại đến bất ngờ thế này. Người thuê nhà của tôi vẫn chưa dời chỗ.

- Tôi ở công ty bảo hiểm, bảo hiểm tài sản. – Klara giải thích. – Bà mời tôi vào nhà chứ? Tôi có thể cho bà biết vài điều thú vị…

Bà già do dự. Qua cái cửa tò vò, bà lại nhìn người khách lạ từ đầu đến chân một lần nữa và nhận thấy có thiện cảm với người phụ nữ đứng trước cửa này. Bà già bèn mở khóa và mời Klara vào phòng khách.

Vừa mới bước qua ngưỡng cửa, người khách đã tỏ vẻ tán dương sự bài trí của căn phòng.

- Đồ đạc ở chỗ bà mới tuyệt diệu làm sao! – Klara nói. – Ví như các loại đồ gỗ này, toàn là đồ cổ cả. Bây giờ thì không thể nào tìm mua được loại đồ gỗ như thế!

- Đúng đấy, cô bạn đáng yêu, đúng đấy! – Bà già lúc lắc đầu.

- Những người thợ lành nghề như vậy hiện nay không còn nữa. Tất cả họ đều đã qua đời. – Klara tiếp tục bốc thơm bà chủ nhà. Thực ra những thứ đồ gỗ ở đây đã cũ nát và thô kệch, không có một chút giá trị nào. Hơn nữa, sự bày biện vừa thiếu thẩm mỹ vừa chẳng theo một phong cách nào. – Tôi thấy cần phải nói với bà, đây đúng là một cơ ngơi hoàn chỉnh.

Bà già tám mươi tuổi Kerekesner cảm thấy sung sướng đến cực điểm.

- Ông chồng quá cố của tôi đã giữ lại được toàn bộ số đồ gỗ này trong thời gian chiến tranh. Tôi rất quý chúng và giữ gìn cho đến ngày nay.

- Còn bao nhiêu thứ khác nữa này! Chỗ của bà đây đúng là một viện bảo tàng thật sự, là báu vật của mọi báu vật. – Đi vòng quanh căn phòng, Klara xem xét các giá để đồ, dán mắt vào nồi niu bát đĩa và các thứ đồ trang sức, những bức tranh của các họa sĩ không tên tuổi bám đầy bụi, những chiếc bình hoa sứt mẻ và những thứ đồ cũ kỹ khác. – Đúng! Đúng, đây quả thật là một tài sản! Đã có lúc nào bà bảo hiểm cho tài sản của bà chưa? Chúng ta ký kết hợp đồng chứ?

- Tôi ký kết cái gì? – Không nghe rõ, bà lão hỏi lại.

- Tôi hỏi, bà có đồng ý ký giấy bảo hiểm không? Một tài sản quý giá đến như vậy cơ mà! Sẽ rất đáng tiếc nếu như đột nhiên xảy ra chuyện gì đó đối với số tài sản ấy.

Lời nói của Klara giáng xuống người tiếp chuyện như một tiếng sét.

- Bốn mươi năm tôi sống ở đây, chưa hề thấy xảy ra chuyện gì cả. – Bà già cam đoan với Klara. – Vì vậy cô chớ nên lo lắng gì cho tôi cả, cô bạn đáng yêu ạ.

- Hiện giờ, bà biết không, tất cả mọi người thuê nhà đều phải ký hợp đồng. Tất cả mọi người, không trừ một ai hết! – Klara càng ngày càng nhập sâu vào vai của mình. – Và chuyện này tốn rất ít tiền. Với giá 24 forint mỗi tháng, chúng tôi sẵn sàng bảo trợ cho 10 món đồ khác nhau.

Sau đó cuộc nói chuyện của hai người đang từ phòng khách được chuyển vào phòng ngủ của bà già.

- Các bảng mẫu tôi có đem theo đây, chúng ta có thể ký hợp đồng ngay bây giờ, – Klara tiếp tục bao vây.

- Bao nhiêu, cô nói cần phải trả bao nhiêu một tháng?

- Cả thảy chỉ có 24 forint, rẻ bỏ! – Klara gần như hét vào tai bà già.

- Thôi được, vậy thì chúng ta ký nào. – Bà lão vui vẻ vỗ vỗ vào tay khách. – Tôi thì chẳng bao giờ tính đến chuyện hợp đồng hợp điếc gì sất. Thế mà cô bạn nhỏ đáng yêu ạ, cô đã làm cho tôi không còn đủ can đảm để từ chối nữa. Tôi chỉ có một điều kiện: hàng tháng đích thân cô sẽ đến đây thu tiền. Chuyện trò với cô quả là thú vị. Cô hứa chứ?

- Tôi xin hứa! – Klara kêu lên, cảm thấy hơi mắc cỡ và lấy làm thương hại cho bà góa cô đơn. – Vậy xin bà hãy cho phép tôi lập sơ đồ căn hộ và ghi chép các món đồ để kê khai chúng trong hợp đồng.

Klara ngồi ghé vào bàn, nhanh nhẹn phác thảo sơ đồ hành lang, phòng khách và phòng ngủ, kê khai những món đồ gỗ, v.v và v.v…Xong việc ở đây, Klara tiến về phía cửa của căn phòng thứ hai và xoay nắm đấm cánh cửa. Cửa bị khóa.

- Cô thử nghĩ xem, ông khách mới kỳ lạ làm sao! – Bà lão phàn nàn. – Lúc nào cũng khóa.

- Thật đáng tiếc! Quả là tôi cần phải xem xét căn phòng và ghi chép các thứ đồ gỗ trong đó.

- Thằng cháu Robert gửi gắm người thuê nhà cho tôi, trước đây nó đã từng làm việc này rồi. Nhưng chưa từng có ai như cái nhà ông này, lúc nào cũng cau cau có có, lầm lầm lì lì và hơi một chút là lại nổi sùng lên. Hôm nay tôi đã nói với hắn: càng sùng cho lắm thì càng chóng xuống mồ đấy!

- Ái chà, bà ơi là bà! – Klara phì cười. – Bà đã nói đến thế kia ư?

- Tôi đã nói như thế. Lại còn hay nghi nghi hoặc hoặc nữa chứ. Bao giờ hắn cũng khóa cửa lại, thậm chí ngay cả khi hắn ngồi ở nhà.. Khóa cửa rồi cứ ngồi thu lu một mình như con cú mèo ấy. Đến việc dọn dẹp cho có ngăn có nắp hắn cũng không làm, kể cả cái máy điện thoại của hắn trong đó. – Bà lão nói, không ra ý đùa cợt.

- Thế thì chúng ta làm thế nào? – Nỗi thất vọng hiện lên trên nét mặt Klara.

- Làm thế nào ấy à? Cứ xông vào, thế là xong. – Láu lỉnh nháy mắt ra hiệu cho Klara, bà lão thò tay vào túi. – Đây là chiếc chìa khóa thứ hai. Chỉ có điều ta phải nhanh lên, cô bạn đáng yêu ạ! Hắn ta có thể sắp quay về đấy.

Klara vội vàng vẽ phác sơ đồ căn phòng, cách bố trí các cửa sổ, các loại đồ đạc, tất nhiên là cả những đồ đạc bằng gỗ, khoảng cách giữa chúng với nhau.

Xong xuôi, Klara nhét quyển sổ ghi chép vào trong cặp và nhìn đồng hồ:

- Lạy Chúa tôi! Chúng ta mải tán gẫu một chút mà đã đến lúc tôi phải đi rồi. – Klara nói một cách dịu dàng. – Tôi đem về làm lại tất cả cho thật sạch sẽ và một ngày gần đây tôi sẽ lại đem đến chỗ bà. Lúc ấy chúng ta sẽ ký, được không ạ?

- Được, cô bạn đáng yêu ạ. Được. Tôi sẽ chờ cô đấy nhé !

Bà lão gật đầu bằng lòng, tiễn khách ra tận ngoài hành lang. Khi cánh cửa sau lưng Klara đóng sầm một tiếng, bà già đáng kính khẽ thở dài. – Cô ấy mới đáng yêu làm sao! – Bà lẩm bẩm một mình và lập cập bước vào phòng.

Thái Thành Đức Phổ dịch từ bản tiếng Nga Nhà xuất bản Long An 1986
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.