Chúa Tể Đầm Lầy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1

❊ ❊ ❊

3.1.1938. Anh là một hung thần, đôi khi Rachel bảo tôi vậy. Một tên hung thần ư? Nghĩa là một con quỷ trong truyện thần kỳ, xuất hiện từ trong bóng đêm của thời gian? Phải, tôi tin ở bản chất thần kỳ của mình, nghĩa là sự a tòn bí ẩn ngấm trộn lẫn dòng đời tôi với dòng đời sự vật, và cho phép đời tôi uốn sự vật theo chiều của nó.

Tôi cũng tin rằng mình xuất thân từ bóng đêm của thời gian. Tôi luôn luôn khó cảm thông với sự nhẹ dạ của những ai miệt mài băn khoăn đến những gì xảy ra sau khi chết đi, mà lại chẳng buồn để ý đến những gì trước khi mình sinh ra. Đời trước cũng như đời sau. Mà tôi thì đã có mặt từ lâu, từ nghìn năm, trăm nghìn năm khi trái đất mới còn là một hòn lửa quay quay giữa một bầu trời bằng chết ê-li-com, thì cái linh hồn giúp cho nó phân phật lửa và quay quay là linh hồn của tôi. Và vả lại cái thời xa lơ xa lắc ngờm ngợp của căn nguyên tôi cũng đủ để giải thích cái quyền năng siêu nhiên của tôi: bản thể và tôi, cả hai xưa nay đi bên nhau, cùng là bạn cố tri, đến nỗi, dù chẳng cảm tình đặc biệt với nhau, nhưng vốn quen hơi nhau già năm như trái đất, chúng tôi hiểu nhau, chẳng khước từ gì nhau.

Còn như cái chất quỷ…

Mà trước hết quỷ là gì? Quỷ là quái, quái là quỷ, quái quỷ quái kiệt…, là cái trưng bày ra, phô diễn ra[1]. Quỷ là cái gì được người ta chỉ trỏ - bằng ngón tay, trong hội chợ, vv. Và do đó một sinh vật càng quái quỷ, nó càng được trưng bày. Đó là cái khiến tôi dựng tóc gáy, tôi vốn chỉ sống nổi trong bóng tối và vốn tin rằng đám đồng loại của tôi sở dĩ để cho tôi sống là nhờ họ chẳng hiểu tôi, chẳng biết tôi.

Muốn đừng là quỷ, thì phải giống như đồng loại, cùng khuôn mẫu với chủng loại, hoặc là cha mẹ sao thì mình vậy. Hoặc là có một dây tua con cái mà ta là cái mắc xích đầu tiên của một chủng loại mới mẻ. Chẳng qua loài quỷ không phải là loài sinh con đẻ cái. Con bê sáu chân làm sao sống lâu được. Con vật sinh ra từ cha lừa mẹ ngựa hoặc mẹ lừa cha ngựa thì có ra đời cũng chẳng sinh sôi, chẳng khác nào tạo hóa muốn xóa bỏ một thử nghiệm xét thấy vô lối. Và tôi tìm lại được cái lý do vĩnh cửu của mình, do cha mẹ cũng có mà do con cái cũng có. Tôi già như trái đất, tôi bất tử như trái đất, tôi chỉ có thể có cha và mẹ tinh thần, và chỉ có thể có con nuôi thôi.

Tôi đọc lại mấy dòng trên đây. Tôi tên là Abel Tiffauges, tôi trông coi một cửa hiệu sửa xe ở quảng trường Porte - des - Ternes, và tôi không điên. Tuy nhiên những gì tôi vừa viết ra đều nên được xem xét một cách đầy đủ nghiêm túc. Rồi sao nữa? Rồi tương lai sẽ có nhiệm vụ thiết yếu là chứng minh – hay nói cho đúng hơi, là minh họa – tính cách nghiêm túc của những dòng trên đây.

6.1.1938. Hình con ngựa mọc cánh của hãng ét-xăng Mobilgas sáng lên bằng đèn nê-ông trong bầu trời tối ẩm, rọi xuống tay tôi, và tắt ngấm ngay. Ánh chớp đỏ ấy cùng với mùi mỡ thiu thấm nhập vào mọi thứ ở nơi này tạo nên một không khí mà tôi ghét nhưng hóa ra lại quen hơi mà không nói ra. Nói rằng tôi đã quen sống là chưa đúng: không khí này thân thuộc với tôi như hơi hám chỗ nằm hay là như cái khuôn mặt mỗi buổi sang tôi thấy lại trong gương. Nhưng nếu như lần thứ hai tôi ngồi xuống với cây bút trong bàn tay trái trước trang giấy trắng – trang thứ ba của Những trang viết bằng tay trái -, là vì tôi tin chắc, như người ta thường nói, mình đang ở vào một khúc ngoặt của đời sống, và vì tôi có phần trông cậy vào tập nhật ký này để thoát khỏi cửa hiệu sửa xe, khỏi những tính toán hèn mọn trói buộc tôi chốn này, và trong một ý nghĩa nào đó là để thoát khỏi chính tôi.

Mọi thứ đều là ký hiệu. Nhưng cần có một thứ ánh sáng hay âm thanh chói lọi mới chọc thủng tình trạng đui điếc của ta. Kể từ những năm học vỡ lòng tại trường cấp hai Saint - Christophe, tôi không ngừng quan sát những nét chữ dọc ngang nguệch ngoạc trên đường tôi đi và nghe ngóng những lời nhỏ to vo ve bên tai mà chẳng hiểu gì, chẳng rút tỉa được gì ngoài một nỗi ngờ vực gia tăng phủ lên lối sống của mình, nhưng thật sự cũng có thêm cái bằng chứng, một lần nữa, rằng bầu trời không trống rỗng. Còn cái thứ ánh sáng kia, những cảnh ngộ xoàng xĩnh nhất đã giúp nó lóe lên hôm qua, và nó không ngừng soi sáng con đường tôi đi.

Một sự cố vặt vãnh bắt tôi ngưng dùng tay mặt một thời gian. Tôi muốn sử dụng tay quay lột bỏ mấy miếng chằng nơi xác-măng của máy nổ bị yếu điện. Tay quay bật lại, nhưng may là cánh tay tôi để lỏng và vai để hờ. Chỉ có cổ tay là chịu sức bật, và chắc là có tiếng rắc trong gân. Thiếu đường ọc lên một tiếng, vì đau đớn, và dưới lớp vải cao su băng bó cồm cộm, tôi thấy mạch máu bùng nhùng nhức nhối. Không thể đến hiệu xe làm việc gì hết bằng mỗi một tay, tôi leo lên tầng hai lánh mình vào một phòng xép chứa sổ sách và báo cũ. Để khỏi rảnh trí, tôi dùng tay kia hí hoáy dăm ba chữ không đầu không đuôi trên lốc giấy.

Lúc ấy tôi bất ngờ phát hiện mình viết được bằng tay trái! Phải, chẳng cần tập trước, chẳng ngập ngừng chậm chạp, bàn tay trái của tôi vững vàng kẻ những nét chữ toàn vẹn, nét uốn lượn khác thường, lạ mắt, hơi co quắp, chẳng giống gì với chữ viết quen thuộc, chữ viết của bàn tay phải. Tôi sẽ trở lại biến cố đảo lộn này mà tôi chẳng dè nguồn gốc, nhưng trước hết phải ghi lại các cảnh xui khiến lần đầu tiên tôi cầm bút là chỉ để trút nỗi lòng và lớn tiếng nói lên sự thật. Liệu có nên nhắc nhở một hoàn cảnh khác nữa, một hoàn cảnh có lẽ không kém phần quyết định, là sự dứt đoạn của tôi với Rachel? Mà thế thì cả một câu chuyện phải đêm ra kể lể, một câu chuyện tình, câu chuyện tình của tôi vậy. Đương nhiên tôi không thích, có lẽ vì không quen thói. Đối với một kẻ kín miệng một cách tự nhiên như tôi, phơi ruột phơi gan trên giấy thì lúc đầu ngấy thật, nhưng bàn tay đưa đẩy, hình như đã trót kể thì không dừng được trước khi cạn lời. Cũng có thể biến cố đời tôi từ nay không thể nối đuôi nhau nếu không có sự phản chiếu của lời mà ta gọi là nhật ký?

Tôi đã mất Rachel. Nàng là người đàn bà của tôi. Không phải là vợ trước mặt Chúa và người đời, mà là người đàn bà của đời tôi, có nghĩa là – nói một cách không kiểu cách chút nào – con người nữ của vũ trụ riêng tôi. Tôi quen biết nàng cách đây mấy năm, như tôi quen biết mọi người, như khách hàng của cửa hiệu sửa xe. Nàng xuất hiện ngồi cầm tay lái một chiếc Peugeot tàn, lộ rõ nét hí hửng vì có người ngạc nhiên bắt gặp một phụ nữ lái xe, điều này có thật vào thời ấy hơn là ngày nay. Với tôi nàng làm ra vẻ thân quen ngay, mượn cớ chuyện xe cộ kết hợp qua lại, rồi vẻ thân quen nhanh chóng bắt quàng, thoắt một cái nàng lọt vào giường tôi.

Lúc đầu tôi ngẩn người theo dáng khỏa thân của nàng, khoả thân một cách dễ chịu, bình thường, mặc lớp da không hơn không kém mặc một thứ gì khác, áo quần du lịch hay là áo dạ hội. Cái tệ nhất của một người phụ nữ là không biết mình có thể khỏa thân, quả tình là thế, là không biết còn có những cái thói khoả thân và có luôn cả lớp vỏ khoả thân. Và tôi buộc lòng nhận ra được ngay hạng người phụ nữ ngu ngơ này do dáng vẻ khô khan thế nào ấy, do cái áo cái quần dính bám vào da họ một cách dị kỳ.

Mái đầu nhỏ sắc nét khi nhìn nghiêng, nón bảo hộ quai đen, Rache có một thân hình chắc nịch, tròn trĩnh, chất nữ khá bất ngờ với bắp về ấm áp, bộ ngực với đôi nuốm tím chài rộng, thắt lưng thóp sâu, và một loạt mum múp rắn chắc không tì vết, bao nhiêu thứ tràn trề khỏi năm ngón tay ôm và tạo chung thành một toàn thể không chiếm lĩnh nổi. Về mặt tinh thần, nàng thuộc loại “như con trai” không có nét gì độc đáo đáng kể, đó là loại phụ nữ rất ăn khách của một tiểu thuyết bán chạy nào đó.

Nàng bảo toàn tính độc lập của mình nhờ nghề kế toán tốc hành, đi tới các nghệ nhân, các nhà buôn hoặc cai quản các xí nghiệp nhỏ trình bày đầy đủ các con số. Nàng là người Do Thái, tôi có dịp nhận ra khách hàng của nàng toàn là Do Thái, do đó càng rõ thêm tính cách riêng tư của các giấy tờ dưới tay của nàng.

Kể ra tôi có thể không hợp với các óc người ngược đời của nàng, một cách nhìn làm tan tành sự vật, một tình trạng ngọ nguậy của não cân khiến nàng ngay ngáy sợ hãi buồn chán, thế nhưng cái óc dí dỏm của nàng, cái tài nhìn ra khía cạnh phi lý sâu xa của con người, của tình huống, cái vui tính có nồng độ mà nàng biết cách làm dậy lên từ cái xám xịt của cuộc sống, tất cả những thứ ấy đều gây ảnh hưởng tốt cho cái tính tự nhiên vốn lầm lì của tôi.

Viết mấy dòng này, tôi buộc mình lường xem nàng có ý nghĩa như thế nào đối với tôi, và cổ họng tôi nghèn nghẹn khi tôi lặp lại rằng tôi đã mất Rachel. Rachel ạ, anh không thể nói là chúng ta có yêu nhau không, nhưng có điều chắc chắn là chúng ta đã cười thỏa thích với nhau, và như thế cũng là một cái gì đấy chứ?

Dù sao nàng vẫn cười và không hề có ác ý gì khi đề ra những tiền đề để cho cả hai, từ đó, bằng con đương khác nhau, đi đến kết luận giống nhau, là chia tay nhau.

Có khi nàng vụt đến, giao chiếu xe con cho thợ của tôi sửa hoặc súc, thế là chúng tôi thừa cơ lên phòng tôi, và nàng không khỏi thốt lên một lời gì đó muôn thuở có ý đùa bỡn cớt nhã có vẻ như lẫn lộn số phận chiếc xe với số phận nữ chủ nhân chiếc xe. Hôm ấy, vừa mặc áo xống, nàng vừa vu vơ đưa ra nhận xét rằng tôi làm tình “y như chim hoàng anh” vậy. Thoạt tiên tôi ngỡ nàng bắt tội tôi không hiểu biết, không biết cách. Nàng bảo không phải vậy. Giai do cái hấp tấp của tôi mà ra cả, theo nàng thì nó giống như bọn chim đóng dấu vội cho nhau để hoàn thành bổn phận vợ chồng. Rồi nàng mơ màng gợi nhớ kỷ niệm một trong những người yêu ngày trước, chắc hẳn là người đáng nhớ hơn cả. Hắn hứa với nàng sẽ hú hí với nàng ngay khi vào ngủ và sẽ không chịu buông trước khi trời sáng. Và hắn giữ y như lời, hành nàng cho tới khi ngày rạng. “Thật ra, nàng thật thà chua thêm, hai đứa đi ngủ muộn, mà đêm mùa ấy thì ngắn”.

Câu chuyện làm tôi liên tưởng đến chuyện chú dê con của ông Seguin muốn bắt chước con dê già nên cứu vớt danh dự bằng cách cầm cự suốt đêm với sói và mãi đến đầu sáng mới chịu bó tay.

Cũng nên để cho anh nghĩ rằng em có thể vồ ngay khi anh ngừng nghỉ, lời kết của Rachel.

Và lập tức tôi trông thấy nàng có dáng dấp con sói thật, với đôi mày đen, mũi hếch và mồm rộng hau háu. Lại một phen chúng tôi cười. Phen cuối cùng. Bởi tôi hiểu rằng cái đầu óc kế toán tốc hành của nàng đã chối từ sự bất kham của tôi và truy tầm được một nơi ngả lưng khác để đặt mình.

Y như chim hoàng anh. Lời nói thốt ra đã sáu tháng nay cứ âm trầm trong tôi. Lâu nay tôi biết rằng một trong những dạng thường nói đến hơn cả trong sự thất bại nam nữ là tình trạng xuất tinh sớm, nói chung là tình dục không biết nương giữ, trì kéo. Sự kết tội của Rachel đi xa, vì nàng nhắm nhe liệt tôi ở mấp mé tình trạng bất lực, hơn thế nữa nàng khai diễn nỗi bất hòa hợp đậm nét của lứa đôi, sự truất hữu thấm thía của phụ nữa suốt đời thụ tinh mà chẳng đời nào thoả dạ.

- Em sung sướng hay không, anh cóc cần mà.

Tôi phải chịu là đúng. Phủ trọn người Rachel để chiếm hữu, những gì có thể diễn ra sau đôi mắt nhắm tít, bên trong chiếc đầu nho nhỏ như gã chăn cừu Do Thái kia, đúng là những cái tôi ít quan tâm hơn cả.

- Anh ăn thịt sống cho đã rồi quay về với mớ sắt mớ tôn.

Đúng như thế. Và điều này cũng đúng luôn: kẻ ăn bánh mì hơi đâu mà lo nghĩ xem chiếc bánh mì được ăn như thế có thích thú hay không.

- Anh hạ thấp em xuống ngang tầm một miếng bít tết.

Có lẽ, nếu quả người ta khư khư bám víu vào cái “thước đo nam tính” như thế kia vốn là sản phẩm của giới phụ nữ vừa là khí giới của phái yếu. Nhưng trước hết tình yêu có bình đồng hóa với hành vi dinh dưỡng thì chẳng có gì bại hoại, vì chính nhiều tôn giáo cũng cậy đến sự đồng hóa ấy, mà trước tiên là ki to giáo với bánh thánh và rượu tháng. Nhưng điều cần mổ xẻ chính là ý nghĩ về cái nam tính kia – khái niệm riêng biệt của phụ nữa. Có nghĩa là nam tính được đo bằng năng lực làm tình, và năng lực làm tình chung quy là kéo dài tối đa động tác tình dục. Đó là sự quên mình đi. Cái năng lực ấy phải được hiểu theo nghĩa của Aristote, như là ngược lại với cái hiện ra bên ngoài. Cái tiềm năng làm tình là hoàn toàn ngược lại với động tác tình dục và như thế là phủ định động tác tình dục. Tiềm năng là động tác hứa hẹn, không bao giờ thực thi, mãi mãi che phủ, cầm chừng, lơ lửng. Người nữ là ẩn, người nam là hiện. Và như thế người nam đương nhiên là bất lực, đương nhiên là chệch choạc với độ chín muồi chậm và trầm của người nữ. Trừ phi hắn ngoan ngoãn theo khuôn phép của nàng, theo tiết nhịp của nàng, hùng hục lấy cho ra tia lạc thú nơi tòa thịt da trì hoãn dâng hiến cho hắn.

- Anh không phải là người tình, anh là hung thần.

Hỡi ôi năm tháng! Bằng mỗi câu ấy, Rachel làm đột hiện bóng ma của một tên thiếu niên kỳ quái, một tên khôn sớm đến lạnh người, mà lại ấu trĩ đến bàng hoàng, hình ảnh của nó đột nhập vào người tôi một cách vô cùng độc đoán. Tên Nestor. Tôi vẫn linh cảm nó đã đùng đùng tái hiện trong đời mình. Thật ra nó chưa hề rời bỏ tôi, nhưng kể từ khi nó chết đi, nó buông tha tôi, thỉnh thoảng lấp ló mơ hồ đâu đó không đáng kể - có khi khiến thôi thấy hay hay – cố sao tôi không quên bẵng. Lối viết chuyển sang tay trái của tôi và bước chân ra đi của Rachel báo trước cho tôi biết cái uy của Nestor sẽ được phục hồi sắp tới đây.

10.1.1938. Mới đây tôi nhìn lại một tấm hình chụp lớp học, loại hình sang hàng loạt dịp tháng sáu một thời gian ngắn trước ngày phát phần thưởng. Giữa bao nhiêu mặt mày trân trân trong điệu bộ đưa đám ma kia, cái mặt mỏng nhất, thảm thương nhất là tôi. Hai thằng Champdavoine và Lutigneaux có mặt, tên thứ nhất nhăn nhở trong bộ tóc giả của vai hề cắt theo đường nét cây ac-ti-sô, tên thứ hai nhắm tít mắt với bộ mặt ma mãnh, như thể đang nghĩ một trò trống gì đó khi vờ vịt ngủ trưa. Chẳng có gì về Nestor, mặc dù hình chụp chắc chắn đúng vào lúc nó còn sống. Nhưng tựu trung đây cũng chính do nó mà ra cả, nó không có mặt trong các buổi lề nhì nhằng nhí nhố này, và nhất là không để lưu lại một vết tích trời ơi đất hỡi nào của mình trước khi mất hút.

Dễ thường tôi đã được mười một tuổi và không còn là một con cừu non tại trường Saint – Christophe nữa, tại đây tôi bắt đầu học năm thứ hai. Nhưng nếu như tôi chẳng còn phải sợ nỗi mất gốc và lạc lõng giữa cõi xa lạ, thì đằng khác nỗi niềm ấy lắng sâu dưới vẻ bề ngoài trầm lặng và như thể không vãn hồi. Cái lúc ấy, ngồi nhớ lại, tôi kiểm điểm lại bao nhiêu nỗi khổ của mình và chẳng mong đợi hy vọng nào lóe lên ở chân trời. Tôi đã kẻ một dòng gạch ngang dứt tuyệt với các ông thầy và dứt tuyệt với cái thế giới tinh thần mà những nổi khổ kia như tuồng khai mở cho ta. Tôi đi đến bước đường - nhưng tôi có bao giờ rời bỏ thái độ này đâu nhỉ? – xem mọi tác giả, mọi nhân vật lịch sử, mọi tác phẩm, mọi môn học bất kỳ nào đều là con số không, là triệt để không xứng đáng, ngay từ lúc đám người lớn tiếng tiếp thu rồi ban phát cho chúng tôi làm món ăn tinh thần. Từng miếng từng mẩu một, tôi lục lọi từ điển, tôi sàn sảy theo khả năng mình trong các tuyển tập ở trường, tôi chớp bắt trong giờ sử hay giờ Pháp một ngụ ý thoáng qua nào đó đến điều gì tôi lưu tâm bậc nhất và bắt đầu cấu tạo cho mình một nền văn hóa đứng bên lề, một tòa bảo tàng cá nhân trong ấy sát cách bên nhau những người như Alcibiade, Ponce Pilate, Caligua và Hadrien, Frédéric – Guillaume đệ nhất và Barras, Talleyrand và Raspoutine. Người ta có một lối nói về một chính khách hoặc một nhà văn – với thái độ lên án thật đấy nhưng như thế chưa đủ, cần có cái gì khác nữa kia – một lối nói thế nào khiến tôi chỏng tai ngờ ngợ như đang nghe nói đến một ai họ hàng với mình không bằng. Lập tức tôi mở một cuộc điều tra, một loại so đo để phong thánh, với những phương tiện trong tầm tay, để cuối cùng tùy theo trường hợp tòa bảo tàng của tôi mở rộng cửa hay khép chặt.

Con người tôi khẳng khiu, xấu xí, màu đen ôm sát khuôn mặt xám xám vàng vàng có nét Ảrập vừa có nét anh chàng gi-tăng hát dạo, thân hình lờ quờ xương xẩu, cử động hấp tấp không đẹp. Nhưng trên hết mọi thứ là có nét gì đó hẳn nhiên nghiệt ngã ở con người tôi xúi cho kẻ nhát nhất cũng tấn công tôi, kẻ yếu nhất cũng hành hạ tôi. Tôi là bằng chứng bất ngờ cho chúng nó thấy rằng ngày nay chúng nó vẫn có khả năng khống chế và làm nhục. Chuông ra chơi vừa lanh lảnh, tôi đã sóng soài ngã lăn, và ít khi lồm cồm đứng lên được trước khi trở vào lớp.

Thằng Pelsenaire là học sinh mới vào học, nhưng sức mạnh thể chất và các tính đơn giản của hắn lập tức mang lại cho hắn một chỗ đứng trọng vọng trong hàng ngũ của lớp. Uy danh của hắn phần lớn nhờ chiếc nịt da to tướng – sau này tôi biết nịt được cắt ra từ một sợi dây buộc bụng ngựa – ràng rịt phía ngoài áo tạp dề đen, khâu nịt bằng thép chằng chịt ít nhất bằng ba mũi đinh. Đầu hắt vuông, phất phơ một gié tóc vàng, khuôn mặt đều đặn, vô cảm, mắt sáng, nhìn thẳng, và khi nào đi giữa các bạn, hai ngón cái đút vào nịt, hắn nện đôi giày đinh bảnh chọe làm xẹt lửa trên nền hoa cương sân trường trong những dịp lễ lớn. Hắn là một tên trong sáng, không ma mãnh, nhưng cũng không phòng bị đối với điều ác, và cũng giống như bọn người man dã của Thái Bình Dương ngã gục ngay buổi tiếp xúc đầu tiên với những mầm mống do người da trắng mang lại một cách vô tội vạ, hắn tiêm nhiễm ngay cái ác, cái độc và sự hận thù ngày tôi bộc lộ cho hắn biết cái phức tạp trong tim tôi.

Cái “mốt” “xăm mình” bỗng đâu rộ lên trong trường. Một đứa ngoại trú bán mực Tàu dùng ngòi bút sứt mũi để đâm sâu vào da mà không chảy máu. Chúng tôi đổ ra hàng giờ xăm cho nhau trong những chữ cái, tên và hình vẽ trong lòng bàn tay, trên cổ tay, đầu gối, và bao giờ cũng toàn những cái nhảm nhí, những biểu tượng mơ hồ với mẫu mã bắt gặp ở những thứ nguệch ngoạc trên tường và trong các nhà xí.

Thằng Pelsenaire hiển nhiên không thờ ơ với trò tiêu khiển mê tơi này, nhưng rõ ràng hắn thiếu óc tưởng tượng, thiếu hoa tay cần thiết để trang sức xứng đáng với vai vế của hắn. Vì thế hắn bị hớp hồn ngay, cái hôm tôi làm ra vẻ hờ hững đưa ra tấm giấy trên đó tôi cố công vẽ một trái tim với mũi tên xinh ngang – giọt má ròng ròng – chung quanh có hàng chữ: Anh tặng suốt đời. Để lòe hắn rốt ráo, tôi phao là đã cóp hàng chữ tuyệt kỹ ấy trên ngực một gã hạ sĩ quan đạo quân lê dương của bạn tôi. Kế đó tôi tình nguyện cầm bút xăm, nếu như hắn thích mang hàng chữ trang trọng ấy phía trong đùi bên trái, một nơi kín đáo nhưng lúc nào cũng hé lộ.

Công phu đòi hỏi suốt một buổi học đêm, không kém. Tôi ngồi dưới đất, dưới hộc bàn của Pelsenaire, và tôi kỳ cọ trau tria, nhờ vào sự toa rập của chúng bạn ngồi quanh đem lưng ra che chắn, đem sách cặp dựng lên ngăn đón ánh mắt xoi mói của giám thị. Công việc của tôi gặp trở ngại vì chiếc đùi dí xuống ghế làm cho nó bạnh ra và bầu lên.

Pelsenaire tỏ ra rất hài lòng với kết quả, nhưng vẫn phần nào ngạc nhiên vì dòng chữ bọc trái tim xiên ngang nhỏ máu trở thành A T suốt đời. Tôi lầm lì giải thích rằng lính lê dương dùng mẫu tự như vậy để viết tắt, hoặc có nghĩa là Anh tặng, hoặc có nghĩa chống lại Chúa (A T suốt đời = Athée suốt đời = vô đạo suốt đời) hoặc có nghĩa hàm hỗn vừa cái này vừa cái kia. Pelsenaire tỏ ra không hiểu những dẫn giải rối rắm của tôi đành xuôi theo.

Nhưng tối hôm sau, hắn kêu riêng tôi trong buổi ra chơi lúc sáu giờ với cái vẻ mặt không hứa hẹn điều gì là lành. Có đứa nào mách nước cho nó, bởi nó chìa ngay vào mấy mẫu tự bí hiểm kia. Nó nói:

- A T là tên mày. Abel Tiffauges suốt đời. Mày xóa cái thối tha ấy ngay đi.

Tôi bị lật tẩy và, vì đằng nào cũng đã lỡ, tôi quyết làm một động tác mà tôi thiết tha mơ ước từ nhiều tuần nay. Tôi bước tới hắn, đặt hai tay lên chiếc nịt kiêu hùng, phía trên đùi, rồi chậm rãi mê mẩn nhích người tới, để tôi tay lưới lên mặt da cho đến lúc hai tay giáp nhau sau lưng hắn. Tôi áp đầu mình vào ngực hắn trên trái tim.

Chắc hẳn Pelsenaire tự hỏi có chuyện gì đây, bởi ngay lúc ấy hắn chẳng cục cựa. Nhưng tiếp theo bàn tay mặt của hắn đưa lên chậm rãi – cùng một tiết nhịp như tôi - bàn tay bép lên mặt tôi, rồi một cái ẩy tay hung bạo, người vụt vùng lên tách tôi ra và xô ngã ngửa tôi ra mấy thước. Rồi hắn trở bộ, bỏ đi làm tung tóe sao xẹt dưới đinh giày.

Từ đó, khám phá ra những khoái cảm chủ nô, hắn tới tấp làm nhục và hành hạ tôi, tôi quy phục theo một cách ngu ngốc. Tôi hoàn toàn vui lòng nhường phần nửa thức ăn của tôi cho hắn tại phòng ăn vì tôi chẳng bao giờ ngon miệng, và tôi gần như âm thầm vui sướng được tẩy bẩn và đánh đôi giày đẹp của hắn mỗi buổi sáng, vì tôi vốn thích mó tay vào giày.

Nhưng bấy nhiêu ép buộc, vẫn còn là phải chăng, đối với hắn chưa đủ, tâm hồn hư hỏng của hắn cần được thỏa mãn gay gắt hơn. Thế là hắn quyết định bắt tôi hàng ngày phải ăn cỏ. Ngay vào đầu buổi giải lao giữa trưa, hắn đẩy tôi vào bãi cỏ lơ thơ bao quanh bức tượng thánh hộ mạng, hắn nhảy phóc lên lưng tôi, cằm nghếch lên theo phản xạ của đứa lỗ mãng, hắn nhét vào mồm tôi từng nắm cỏ gà, tôi nhai nhai tận tình để khỏi ngạt thở. Một đám hiếu kỳ đứng chứng kiến sự thể, ngày nay hồi tưởng tôi không khỏi căm hận ức tình vì bọn giám thị – vốn mau mắn bắt lỗi và trừng phạt tôi – lại chẳng có lấy một lần nào can thiệp để chấm dứt cảnh ấy.

Tình cảnh tôi đòi này chỉ chấm dứt khi đã lên đến cực độ. Bấy giờ là đầu thu, sau nhiều ngày đêm trời mưa biến sân chơi thành vũng lội. Bao nhiêu sỏi và đá than bị vùi dưới một lớp bùn và lá rụng có vẻ dịu mắt. Không gian ẩm thấp tẩm đầy cảnh sống thảm hại của bầy trẻ không cha không mẹ, sống không đủ ấm, ăn uống được chăng hay chớ, không hề tắm rửa, áo quần cứ rít vào da như thể đó cũng là lớp da trời sinh, là lớp vảy, là lớp mai, nếu bóc ra thì ghê cho con mắt, buổi tối khi thay quần ào, hoặc mỗi lúc đều như thế khi chúng nó co rúm lại từ bên trong, da dẻ ớn lạnh, cơ bắp co thắt, dương vật teo tóp. Hồi ấy chúng tôi chơi dữ dội khác thường, hầu như chơi cạn tàu ráo máng, như thể để ứng đối số phận hẩm hiu nghiệt ngã của mình, chúng tôi muốn khẳng định mình giống như chiến sĩ hay như thú dữ. Những nắm tay phóng ra bôm bốp lên mặt, những cái khèo chân kết thúc bằng những cú ngã lộn vòng tròn trong bùn, mấy đứa vật lộn xoắn vào nhau lăn hổn hển lên đất. Ít nghe la lối, không nghe chửi qua chửi lại, nhưng đứa nào một mình ngã xuống gì không khỏi nạm từng nắm tay bùn vụt vào đối phương để cho thằng này ăn bùn theo luôn. Tôi thì né mình sau mấy cột trong nhà chơi, tìm cách tránh mọi đụng chạm – mà đụng chạm thì lắm – vì đụng chạm dễ nguy khốn cho tôi. Tôi không hề có ý lo sợ Pelsenaire vì trong cõi hỗn loạn tầm cỡ thế này hắn sẽ không buồn để ý tới một đối phương quá khẳng khiu. Thế cho nên khi tránh né quả bóng bay tới tôi như hòn đạn đại bác, tôi đâm sầm vào người hắn, tôi vẫn không đến nỗi quả hoảng hốt. Hắn ngã xuống một cách kỳ quặc, khuỵu một đầu gối xuống, vì lấm phần chân dưới một bên thôi, ngoài ra không xem như không hề hấn gì. Tôi tìm cách né tránh thì hắn chụp tay tôi và co đầu gối ra lệnh “Chùi sạch cho tao!”. Lập tức ngồi lum khum dưới chân hắn, tôi rút chiếc khăn bẩn kỳ cộ. Pelsenaire sốt ruột:

- Mày không có khăn khác à? Thì thè lưỡi ra!

Bắp đùi, gối và phần trên chân tuyền một màu đất đen, bóng lóng, lớp đất này có thể nhẵn đều nếu như không có một vết trầy ở giữa, vết này tù mù màu tím, loét bên dưới xương bánh chè. Từ đó ứa ra vết đỏ chuyển sang màu đất, rồi thành nâu sẫm khi lẫn vào với bùn. Lưỡi của tôi liếm quanh vết thương làm thành vòng tròn xám. Mấy lần tôi nhổ ra từng bủng đát lẫn mảnh than đen. Vết thương vẫn ứa máu bày ra sát mắt tôi một họa đồ không rõ nét với phần thịt phồng lên, mẫu vỏ trăng trắng của da trầy và miệng vết thương lật vào trong. Tôi đưa lưỡi liếm nhanh lần đầu, liếm không được nhẹ nhàng nên không khỏi gây nên giật thót làm rúm thớ thịt trên xương bánh chè. Liếm lần thứ hai lâu hơn. Cuối cùng môi tôi đặt lên miệng vết thương và dừng lại một thời gian bao lâu không rõ.

Tôi không thể nói rõ chuyện gì xảy ra sau đó. Hình như tôi bị rùng mình, bị co giật nữa thì phải, và người ta đưa tôi đến trạm y tế. Hình như tôi nằm bệnh mất mấy ngày ở đây. Kỷ niệm về đoạn đời này của tôi tại trường Saint – Christophe khá tù mù. Trái lại, chắc chắn một điều là các thầy giáo thấy nên báo cho bố tôi biết tôi khó ở và viện dẫn đủ thứ chuyện, kèm theo một chuyện khôi hài quá cỡ mà họ không dè, là bảo tôi bị trúng thực do ham ăn kẹo.

13.1.1938. Tôi từng bảo Rachel: “Có hai loại đàn bà. Loại đàn bà đồ chơi để cầm, để vặn, để nhìn, trang trí cho đời sống thằng đàn ông. Và loại đàn bà phong cảnh để người ta đi đến, có thể mất hút vào đó. Loại thứ nhất thì đứng, loại thứ hai thì nằm. Loại thứ nhất thì liến thoắng, trở chứng, đòi hỏi, nhỏng nhẻo. Loại thứ hai lầm lì, bướng bỉnh, muốn tư hữu, sống bằng kí ức, mơ mộng”.

Nàng lắng nghe tôi, mày chau lại, tìm xem trong lời lẽ của tôi có cái gì chạm đến nàng. Thế là để cho nàng cười chơi, tôi vờ lặp lại dưới một dạng khác: “Có hai loại đàn bà, loại có cái mông cỡ lòng chảo Paris và loại có cái mông cỡ lòng chảo Địa Trung Hải”, tôi đưa tay ra làm hình nhỏ và hình lớn. Nàng mỉm cười, ngờ ngợ tự hỏi chắc tôi không xếp nàng vào loại cỡ lớn – nàng thì tất nhiên thuộc vào cỡ lớn rồi còn gì.

Bởi lẽ cái cô “con trai” này, cái cô xoay xở tài giỏi này mười mươi là loại đàn bà phong cảnh, và mông thuộc cỡ lòng chảo Địa Trung Hải (vả chăng gia đình nàng gốc ở Salonique). Thân hình bề thế, mời gọi, có nét mẹ hiền. Tôi không nói ra sợ chọc giận – vì đối với nàng lời nói bao giờ cũng là vỗ về hoặc gây hấn, chứ không bao giờ là phản ánh sự thật – và tôi càng không nói ra những suy nghĩ nảy ra trong tôi khi tôi đặt tay lên xương đùi nàng, bắp đùi nở rộng như dáng ghềnh đá nhìn xuống bao quát toàn cảnh. Giữa hai ngọn đùi, bụng thóp lại, lòng thung lũng se sắt và hun hút ngóng trông… Tôi tự hỏi mình về cái khái niệm huyền bí này: cái giống của người đàn bà. Tất nhiên không phải là phần bụng cụt lủn này lại làm nên đàn bà nếu không phải là nhờ sự đối xứng thô thiển của thân thể nữ và nam. Cái giống của người đàn bà. Có lẽ ta có cảm hứng hơn về cái giống này ở phần ngực hiên ngang nở ra hai chiếc bầu trù mật…

Thánh Kinh rọi vào vấn nạn này một luồng ánh sáng kỳ dị. Khi ta đọc đoạn đầu của Kinh Sáng Thế, ta đâm hoảng vì một điều mâu thuẫn lồ lộ làm xô lệch cái văn bản đáng tôn kính này. Chúa tạo ra con người theo hình ảnh mình, Chúa tạo ra nó theo hình ảnh của Chúa, Chúa tạo chúng nó giống đực và giống cái. Và Chúa ban ân huệ cho chúng nó, và bảo chúng nó: “Chúng con hãy sinh sôi, lớn lên, nảy nở, đầy lên trên trái đất và thu phục trái đất…”. Sự chuyển đổi đột ngột từ số ít sang số nhiều rõ ràng là khó hiểu, nhất là sự tạo lập người đàn bà từ mẩu xương sườn của Adam xảy ra mãi về sau, ở chương II của Kinh Sáng Thế. Trái lại sẽ rõ nghĩa nếu vẫn giữ số ít trong câu vừa trích dẫn. Chúa tạo ra con người theo hình ảnh mình, có nghĩa là vừa giống đực vừa giống cái. Chúa bảo nó: “Ngươi hãy lớn lên, nảy nở” vv. Về sau, Chúa nhận ra sự đơn độc của tình trạng lưỡng tính không được tốt. Chúa cho Adam ngủ vùi rồi tỉa ra, không phải mẩu xương sườn, mà là “mạn sườn”, hông, tức là phần nữ giới tính để làm nên hình người độc lập.

Từ đó ta hiểu tại sao người đàn bà thực chất không có phần âm, là vì người đàn bà phần âm của người đàn ông, mang theo thường trực thì kềnh càng, và vì thế thường thường phải bỏ ra, và cần thì đeo lại. Có thế thì đó mới là cái riêng biệt của con người – trái với con vật – bất cứ lúc nào cũng có thể dính vào người một món đồ, một dụng cụ, một khí giới phải nói ngay là cần dùng, nhưng có thể cởi bỏ ngay, thay vì như con tôm càng chịu phép suốt đời kéo lê đôi càng trên thân. Và cũng như bàn tay là cơ quan móc nối cho phép con người tùy theo nhu cầu chụp lấy cái búa, cây kiếm hay cây bút, thì cũng vậy, dương vật là cơ quan móc nối với phần giới tính, chứ tự nó không hẳn là phần giới tính.

Nếu quả như thế, thì phải phán xét nghiêm khắc sự kết hôn vốn có cao vọng hàn gắn lại chặt chẽ tối đa và bất khả phân ly tối đa những gì đã tách rời. Đừng kết nối cái Chúa đã phân! Cầu khẩn mà làm gì. Ta không khỏi bị hấp dẫn một cách có ý thức, không nhiều thì ít, vì hình ảnh Adam cổ sơ, khệnh khạng mang đủ các bộ phận sinh sản, sống trong tư thế nằm, có thể không có khả năng cất bước, chắc chắn là không có khả năng lao động, liên miên quay quắt động tình một cách hoàn hảo lạ thường – vừa là kẻ chiếm đoạt vừa là kẻ bị chiếm đoạt trong phút lên cơn, nếu không phải là – biết đâu? – trong những thời kỳ chính mình mang thai cái mình tác tạo. Thế thì vị tổ tiên thần diệu có cái gì mà chẳng cưu mang, nam đèo nữ, rồi lại đèo con, mang nặng và quá tải, như mấy con búp bê to nhỏ chứa đựng nhau.

Hình ảnh có thể xem ra buồn cười. Tôi là người sáng suốt đứng trước mớ bòng bong của đời sống vợ chồng, hình ảnh ấy gây động tâm cho tôi, nó làm dậy lên trong tôi một nỗi u hoài về huyết thống như thế nào đó về một đời sống siêu nhân vì quá tràn đầy mà vượt mọi thăng trầm của thời gian và sự già cỗi. Bởi lẽ nếu như trong Kinh Sáng Thế có sự sa đọa của con người thì không phải ở đoạn trái táo – đoạn này trái lại ghi dấu một bước thăng tiến, vươn đến trình độ hiểu biết điều thiện điều ác – mà chính trong giai đoạn Adam nguyên thủy đứt làm ba đoạn, bắt người đàn bà rơi rụng từ người đàn ông, kế đó là đứa con, một lúc tạo thành ba kẻ khốn đốn, đứa con suốt đời côi cút, người đàn bà bị bỏ rơi, thấp thỏm, suốt đời đi tìm kiếm kể bao bọc, người đàn ông nhẹ thênh, thong dong, nhưng giống như một ông vua bị lột hết chức quyền để khép mình vào những việc mọn hèn.

Ngược lên triền dốc, phục hưng con người Adam nguyên thủy, việc hôn nhân không có ý nghĩa nào ngoài ý nghĩa ấy. Nhưng chỉ có giải pháp sơ sài ấy thôi sao?

10.1.1938. Khi tôi giã biệt trường Saint – Christophe linh hồn của ngôi trường cũ đã mất hẳn kể từ bốn năm trước đó, và cả vũ trụ học đường này, vừa có tính tôn giáo vừa có nét tù tội, chỉ còn thấp thoáng những hình bóng trẻ con, tu sĩ chập chờn. Nestor đã bị chết ngột dưới hầm trường, chết do bọn khác, còn đối với tôi vẫn còn sống hơn bao giờ hết.

Nestor là con một của bác gác cổng trường. Ai từng hiểu loại trường này tức rõ tầm mức khả năng của hắn trong trường hợp này. Vừa ở với bố mẹ, vừa ở trong trường, hắn gom thu những lợi thế của bọn nội trú và luôn cả ngoại trú. Thường được bố mẹ giao lắm việc vặt trong nhà, hắn thong dong len lỏi trong mọi dãy nhà và có chìa khoá của hầu hết các cửa, trong khi vẫn thoải mái “ra phố”, ngoài những giờ học trong lớp và học nội trú.

Nhưng lẽ ra chẳng có chuyện gì, nếu trường hợp này chẳng phải là Nestor. Với khoảng cách của năm tháng, ngày nay nghĩ đến Nestor tôi đặt ra cho mình những câu hỏi trước đây không hề gợn lên hồi tôi còn là bạn hắn. Một tên kỳ quái, tài tình, thần kỳ, một kẻ trưởng thành tí hon chăng, bị còi cọt thành đứa bé, hay trái lại là một thằng bé khổng lồ, nhưng dáng dấp hắn gợi cho ta nghĩ như vậy chăng? Thật khó nói. Một số lời lẽ của hắn mà ký ức tôi ghi lại – có thể là ít nhiều trung thực - chứng tỏ hắn khôn sớm vô cùng, nếu chứng thực được Nestor cùng tuổi với chúng bạn. Nhưng điều này chẳng chắn chắn gì, huống chi ngược lại hắn vẫn có thể là một thằng chậm lớn, không lớn nổi, một thằng lẩn quẩn xó nhà thuở nhỏ, sinh ra ở tại trường và chỉ một phép lưu ngụ tại đó thôi. Giữa bao nhiêu điều bất quyết, một từ hiện rõ rệt mà tôi không thể giữ lại lâu hơn dưới ngòi bút của tôi: không tuổi tác. Tôi có nói về tình vĩnh cửu của tôi. Nếu thế thì chẳng có gì là lạ nếu Nestor – mà rõ ràng là tôi chịu ảnh hưởng – cũng giống như tôi thoát ra ngoài vòng thời gian…

Hắn cực mập, bụng phệ thì đúng hơn, do đó mọi động tác, luôn cả dáng đi, đều chậm rãi bệ vệ, và khối thịt của hắn trở nên đáng gờm trong những lúc đụng độ. Hắn không kham được nóng, khi trời lạnh gắt vẫn ăn mặc sơ sài và thời gian còn lại thì liên tục đổ mồ hôi. Hắn như thể bị lướng vướng theo trí thông minh và trí nhớ khác thường của mình, đâm ra nói năng chậm rãi, dáng bộ trịnh trọng bác học, có cân nhắc, tạo vẻ, không tự nhiên, sẵn chực nhấc ngón tay trở lên mỗi khi thốt ra một công thức mà chúng tôi cùng nhận thấy là hay dù chẳng hiểu gì ráo. Lúc đầu tôi cứ tưởng hắn nói năng toàn những lời trích dẫn gạn lọc trong sách ra, sau đó tôi lọt vào quỹ đạo của hắn mới hiểu là mình nhầm. Quyền uy của hắn đối với mọi học sinh là điều không thể chối cãi, ngay các thầy cô cũng có vẻ ngại hắn và ban cho hắn nhiều đặc quyền đặc lợi lúc đầu tôi nghĩ là quá đáng, hồi tôi chưa rõ hắn là ai.

Lần đầu tiên chứng kiến sự thể hiện tình huống đặc cách ấy quả tình quá sức buồn cười, vì tôi chưa cảm nhận ra vòng hào quang đáng nể chung quanh con người hắn. Trong mỗi lớp học, có một cái thùng sơn đen đặt dưới chỗ thầy ngồi, dùng làm thùng bỏ giấy. Học sinh nào muốn đi ngoài thì xin phép bằng cách đưa hai ngón tay thành hình chữ V. Giám thị hoặc thầy giáo gật đầu, hắn đến chỗ thùng thọc tay xuống nhanh và đi ra cửa, tay nắm một búng giấy.

Sự việc Nestor tự tiện miễn làm chữ V như quy định lúc đầu tôi không rõ vì hắn ngồi phía cuối lớp. Nhưng tôi sinh lòng nể nang hắn ngay do bước chân lừng khừng của hắn khi tiến lại chiếc thùng và do cái màn diễn tiếp theo. Với một kẻ chăm chú lẩm cẩm, hắn đi một bài khám xét các mẫu giấy vụn bày lên trên mặt, kế đó có vẻ chọn chưa được gì, hắn khoắng ào ào trong thùng bày ra các quả cầu hoặc những mẩu giấy vụn lâu ngày mà hắn trầm ngâm xét nét, đến độ hình như đọc luôn trên ấy viết gì. Toàn bộ học sinh bị chăm chú thu hút vào cái trò ấy, ngay thầy cũng chỉ tiếp tục giảng bài địa lý bằng một giọng chậm lại, máy móc, điểm bằng những khoảng im lặng dài thêm ra. Lẽ ra tôi phải thót người vì cái im lặng phập phồng đang đè nặng cả lớp, vì một đứa khác giở trò như vậy thì sẽ được la ó ầm ĩ ngay. Nhưng, một lần nữa, tôi mới chân ướt chân ráo vào trường, và tôi cười chảy nước mắt, tay bấu vào hộc bàn, lúc này cuối cùng thằng bạn ngồi cạnh gay gắt thúc cùi chỏ vào mạn sườn tôi, tôi chẳng hiểu vì sao, cũng không hiểu lời bình luận khe khẽ tiếp theo của hắn khi Nestor quyết định chọn cuốn vở nháp đầy hình vẽ: “Hắn chọn, không phải là chọn lấy giấy, mà chọn cái gì viết trong đó, vào chọn đứa nào viết ra”. Câu nói này – và rất nhiều câu khác mà tôi sau đó cố nhớ ra – bao trùm cái bí ẩn về Nestor chứ không làm sáng rõ.

Hắn ăn bạo tợn và hàng ngày tôi chứng kiến điều này, bởi lẽ dẫu đêm về hắn ăn tại nhà thì bữa trưa hắn ăn tại nhà ăn. Mỗi bàn gồm tám phần ăn và đặt dưới quyền trách nhiệm của một người “đầu bàn” có nhiệm vụ trông chừng phần ăn cho công bằng. Có một trong những nghịch lý làm cho tôi không ngớt ngạc nhiên là suốt mấy tháng nhập môn, là Nestor không làm đầu bàn. Nhưng nhờ thế hắn lợi hơn, là vì đứa nào giữ chức vụ ấy – mà kể ra đứa nào trong bàn cũng vậy thôi – không những điềm nhiên để mặc tình cho hắn trút một phần tư các món ăn vào đĩa riêng, mà còn xoắn vồ nhường thức ăn, như thể hắn là ông thần thời cổ xưa.

Nestor ăn nhanh, kỹ lưỡng, chăm chỉ, chỉ ngưng lại để lau mồ hôi chảy từ trán xuống mắt kính. Hắn có cái điệu giống như nhân vật Silène trong sử xưa, má thụng, bụng tròn, mông núng nính. Ba khâu ăn-tiêu- ỉa tạo tiết nhịp cho đời hắn, và cả ba thao tác đều được toàn thể trọng vọng. Nhưng đó mới chỉ là một mặt hiển hiện của Nestor. Bộ mặt ẩn kín của hắn, mà chỉ tôi dè chừng mà thôi, đó là những tín hiệu, là diễn giải các tín hiệu. Đó là điều sâu nặng của đời hắn, bên cạnh tính độc tài tuyệt đối mà hắn áp đặt nặng nề trên cả ngôi trường Saint – Christophe.

Tín hiệu, diễn giải tín hiệu… Tín hiệu gì đây? Diễn giải tín hiệu để lộ ra những gì chứ? Phải chi trả lời được câu hỏi này thì cả cuộc đời tôi đã thay đổi, và không những đời tôi - điều này tôi mạnh dạn viết ra vì tin chắc chẳng có ai đọc những dòng này – mà còn cả hướng đi của lịch sử cũng nên. Dễ thường Nestor đã dợm vài bước vào hướng này, nhưng hoài vọng duy nhất của tôi là nối gót chân hắn, và có thể là tiến xa hơn hắn, nhờ tôi sống dài ngày hơn và nhờ cảm hứng toả ra từ bóng âm của hắn.

❀ ❀ ❀

[1] Hai dòng này, người dịch mạn phép dịch ép uổng để lột nghĩa. Nguyên văn có ý nói: Từ nguyên của chữ “quỷ”(=monstre) có nghĩa là “bày ra, phô diễn ra” (=montrer).

Ể ĐẦM LẦY Nguyên tác: Les Rois des Aulnes ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 1997
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Michel Tournier

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.