Chúa Tể Đầm Lầy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 19 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

Ở bên cánh trái của lâu đài, tầng một, ba gian phòng làm thành khu vực của vị chỉ huy tình báo, Giáo sư Tiến sĩ Otto Blattchen, do hiệp hội Ahnerbe đặc phái công tác. Chòm râu dê đen vuốt nhọn, đôi mắt to mềm mại, trên đó là cặp lông mày màu mực tàu xoắn lại như rắn, sọ màu xám ngà, con người quỷ quyệt này với lớp áo bờ-lu trắng hiện thân trọn vẹn một cách đặc biệt cái loại đặc nhiệm ở phòng thí nghiệm. Sự nghiệp của ông đột nhiên được thăng tiến khi giáo sư August Hurt, giảng sư thực thụ bộ môn hình thể học đại học Strasbourg, cách đây một năm, trong khuôn khổ hiệp hội Ahnerbe, đã giao phó cho ông một nhiệm vụ đặc biệt khó khăn. Cấp lãnh đạo vừa mới nhận định rằng nếu như bọn Do Thái và bọn Bônsêvich tạo thành nguồn gốc của mọi tai họa đang hiện hữu, thì ta nên tìm cho ra điểm phát tích chung trong chủng tộc Do Thái – Bônsêvich với những tính cách cần minh định. Trong hướng ấy Giáo sư Tiến sĩ Blattchen được biệt phái đến các trại tù binh người Nga của Đức quốc xã nhằm tập họp các thành phần gốc Do Thái kiêm ủy viên nhân dân, một nghiệm vụ nghịch lý, vì quân lực Đức đã có huấn thị buộc phải hạ sát tại chỗ mọi ủy viên của nhân dân Xô viết bị tóm bắt.

Suốt trọn một mùa đông, không ai còn nghe nói tới Otto Blattchen, nhưng giáp ngày lễ Phục sinh, giới điều hành hiệp hội Ahnerbe mừng rỡ nhận được một trăm năm chục chiếc bình chai đánh số từ một đến một trăm năm mươi và được dán nhãn người Do Thái Bônsêvich. Trong mỗi bình, một đầu người được giữ gìn toàn vẹn nổi lên trong một hợp chất An-đê-hic-phoọc-mic.

Nhờ thành công này – ngoài mấy ngôi sao chỉ huy tình báo – ông nổi tiếng là chuyên gia lỗi lạc của các vùng đất miền Đông – Đông Phổ, Ba Lan và Liên Xô phần đất bị chiếm đóng – và hiệp hội Ahnerbe phái ông làm công vụ thường trực tại Kaltenborn, tại đây ông điều khiển – hoặc tự cho là mình điều khiển – việc tuyển chọn thí sinh. Bởi lẽ Tiffauges nhanh chóng nhận thấy rằng có một sự bất đồng lộ rõ giữa Blattchen và Stefan Raufeisen. Ông này xem vị chuyên gia chủng tộc như một nhà khoa học lơ mơ và vướng mắc, còn Blattchen thì cho Raufeisen là một gã thô lỗ vô học và nghiện rượu, nhưng vì cả hai cùng ngang cấp bậc trong quân giai của đặc nhiệm, họ buộc lòng dung nạp nhau. Tuy nhiên Raufeisen có lợi thế là trưng dụng được toàn bộ nhân sự của trường, trong khi Blattchen, biệt lập trong tòa tháp của mình đành phải cầu cạnh người ta hỗ trợ mình ở mọi giờ. Do đó ông mau mắn khám phá ra những lợi lộc có thể trông đợi ở anh chàng tù binh người Pháp mà ông tìm cách kéo về phía mình những lúc nào công tác quân nhu tạo điều kiện. Với thời gian, Tiffauges dần dà quen thuộc với ba gian phòng trưng dụng cho trung tâm chủng tộc ở Kaltenborn, tức là chiếc buồng nhỏ của Blattchen, gian văn phòng và nhất là phòng thí nghiệm lớn lát màu trắng mở ra sân thượng của toàn tháp phía tây, được trang điểm thêm, chẳng hiểu rõ vì sao, bằng một chiếc bể làm bằng đá giả cẩm thạch, nơi đây giáo sư thích thú nuôi một đàn cá thia khoảng trăm con.

- Đây là loại hoàng ngư, ông đưa ngón tay lên mà bảo, Tiffauges lần đầu tiên lân la đến chỗ này. Tuyệt tác của môn sinh học sáng tạo của Trung Hoa. Anh thấy không, Tiffauges ạ, đám sinh vật bé bỏng này có mặt đó để nhắc nhở cho tôi rằng nếu dân man rợ A châu, bằng con đường tuyển giống và giao giống, đã biết sản sinh ra con cá vàng, thì chúng ta cũng phải biết chế tạo ra con người vô song thống trị thế giới, là loại hoàng nhân, và tất cả những gì anh sẽ trông thấy tôi làm tại nơi đây rốt cuộc lai là trong đám trẻ được dẫn tới đây phải tìm ra cho cái vảy vàng biện minh cho cái động tác tuyển giống và sản sinh.

Thì ra, đến với Blattchen, giây phút trọng đại bao giờ cũng là lúc đoàn thí sinh mới được tuyển đến Kaltenborn mà ông nóng lòng hau háu chờ đợi. Một thời gian ngắn sau khi di dân, mỗi đứa trẻ được đưa đến ông để lập phiếu chủng tộc. Lập tức vị chỉ huy tình báo giáo sư tiến sĩ, từ nay được Tiffauges phụ tá, trăn trải ra đủ bộ sậu gồm có chiếc com-pa đo bề dày, máy đo nhịp thở của lồng phổi, những thước đếm sắc thể, các thứ thuốc thử dùng màu cùng kính hiển vi, và ông ra tay cân đo, lấy chiều cao, xếp loại, dán nhãn hiệu và xếp loại từng cá thể. Cuốn: “Nhân chủng học tinh yếu” của R. Martin có một trăm hai mươi dữ liệu cổ điển, ông không quên thêm vào đó một loạt các tính cách do mình sáng chế mà ông có phần đắc chí.

Nhờ thế Tiffauges học được rằng dưới góc độ sợi tóc con người, nhân loại được chia ra làm nhiều loại tóc khác nhau, về phương diện lớp da đầu ngón tay – hay là điểm chỉ - có ba loại chính: cuốn tròn, cuốn đầu gậy, hoặc cuốn hình cung, mặt khác con người có thể có đôi chân ngắn hay dài tính theo phần nửa người trên, lại còn có chiều cao dài hay ngắn của cái đầu hoặc đầu rộng đầu hẹp, và mũi thanh hoặc dày. Nhưng đến khi nói tới cái khoản mà ông gọi một cách xúc động và kính cẩn là huyết phổ của chủng tộc thì giọng ông Blattchen mới lên tới đỉnh cao của xúc động. Bốn nhóm máu - A, B, AB và O – do Landsteiner khám phá, thêm vào đó có hai hệ Rhésus – dương và âm – cho phép ông phối hợp nhiều thành phần tinh vi lại với nhau một cách rộng rãi. Với bao nhiêu dữ liệu, cân đo, cách phân chia lấy trung bình ấy, ta không thể lún sâu vào một tâm trạng khách quan vô tội vạ của kẻ ăn không ngồi rồi. Tất cả được trở nên sinh động vì một chủ nghĩa nhị nguyên gay gắt biến tất cả thành những biểu hiện của điều thiện hoặc điều ác. Như thế Blattchen, nhờ đo lường chỉ số hình thể não bộ theo chiều ngang, không phải chỉ có việc phân biệt đầu nào tròn, hoặc đầu nào bầu dục. Ông giải thích với Tiffauges rằng trí óc thông minh, nghị lực, trực giác là những của riêng của loại đầu bầu dục, và tất cả sự bất hạnh của nước Pháp là chịu sự cai trị của những người có đầu tròn, như Édouard Herriot, Albert Lebrun, hoặc Édouard Daladier, mặc dù sự tôn trọng chân lý buộc ông phải nhìn nhận có một số ngoại lệ cho quy luật này, chẳng hạn như con người nhiều ưu điểm như Pierre Laval – đầu tròn vô cùng – và con người tệ hại là León Blum – dù hình thể đầu quả là bầu dục.

Vậy cho nên ta không ngạc nhiên khi thấy rằng các bản nhân chủng tộc của Blattchen có ghi một số những con người bị trù dập tạo thành những di vết không thể tẩy xóa được. Chẳng hạn như cái “vết chủng tộc Mông cổ”, một loại vết bớt xanh ở sau đít, dễ thấy ở trẻ con hơn là người lớn. Vết này thường gặp ở các chủng tộc da vàng và da đen, gặp thưa thớt hơn ở người da trắng, và đối với những lý thuyết gia kỳ thị chủng tộc thì tạo thành một vết nhục, và giống như dấu vết của ma quỷ. Cũng giống như chiếc mũi hình số 6 của người Sesmite, bàn chân kẹp được đồ vật của người Ấn Độ, phần hậu chẫm mờ nhạt của người ở miền núi Dinarique ở Nam Tư và các nhóm người ở Arménie với mặt sau của chiếc đầu xuôi thẳng tuột xuống gáy, các dấu điểm chỉ hình cung – điểm dị biệt của các chủng tộc người lùn Pygmée -, chất dính agglutinogène B trong máu, thường bắt gặp ở các tộc di dân, các tộc Digan hoặc Do Thái. Bấy nhiêu dữ liệu được đánh số chờ chực để đưa vào những công thức đại số, vẫn không ngăn cản ông Blattchen dành riêng một phần cho trực giác trực tiếp, có tính bản năng, hầu như không bao giờ sai chạy mặc dù khó lòng biện giải bằng chứng cứ hoặc chứng minh. Con mắt đen của ông chằm chặp vào dáng đi của đám trẻ, nét mặt, vẻ bề ngoài tổng quát, và rút tỉa những kết luận bao giờ cũng khẳng quyết. Nhưng cái đắc thắng của ông, chính là sự đánh hơi về chủng tộc, vì ông dạy rằng mỗi chủng tộc có cái mùi riêng, và ông tự hào có thể nhắm mắt định rõ được người da đen, da vàng, người Sémite vùng Cận Đông hoặc người Bắc Âu có mùi a-mô-ni-ăc và mùi axít béo ngậy bốc hơi tiết ra từ các hạch mồ hôi và mỡ.

Tiffauges vừa lắng nghe vừa ghi chép những con số do ông tuôn ra, anh vừa quan sát ông vừa giúp ông cầm chiếc lực kế hoặc chiếc compa Broca, anh ghi chép, suy nghĩ. Đành rằng binh chủng đặc nhiệm làm anh ghê sợ hơn tất cả mọi thứ. Thế những trường chính trị quốc gia _ với kỷ luật, đồng phục và các bài hát vang vang không hợp với sở thích và niềm tin của kẻ vô chính phủ ở trong con người anh – trường này nó đã buộc anh phải nhượng bộ đủ thứ bởi vì hiển nhiên nó tỏ ra là một bộ máy nhằm quy phục và kích thích phần nhục thể non trẻ và vô tội. Thái độ phục tùng, nỗi phấn khích, cái uyên bác tật bệnh của Blattchen – luôn luôn mấp mé chủ trương khoái lạc trong sự hành xác và mấp mé với tội ác – được đẩy đến cùng độ, và trông tương tự như qua dương vật học của vụ chủ quản săn bắn hoặc những lý thuyết cỡi ngựa của Pressmar, tất cả cùng góp phần làm cho anh chàng thanh niên người Pháp phải nhẫn nhục và im lặng. Nhịp tiến triển của anh có mạch lạc, và nhất là anh đã có bước nhảy vọt tiến về phía trước khi chuyển từ con nai, con ngựa sang đến trẻ con, điều này đủ chứng tỏ rằng anh đang bước đi trên con đường thiên chức của mình. Vấn đề còn lại là làm thế nào để ta vượt lên hoàn cảnh và tìm phương cách tư hữu hóa lãnh vực của Blattchen để lèo lái theo ý của mình, cũng giống như trước đây ở Rominten anh từng biết cách thu lượm những kết quả bất ngờ và thuần túy mang tính cách của chính bản thân mình. Nói như vậy là vì, trong khi chia sớt lúc này lúc khác các công việc của Blattchen, anh đinh ninh rằng ông tiến sĩ đặc nhiệm chỉ là một bộ mặt phù du, sớm muộn gì cũng biến đi để nhường chỗ cho anh.

Chính vì suy nghĩ như thế mà lần đầu tiên kể từ mở màn cuộc chiến, anh được hưởng một vài giây lát nhàn rỗi và một đôi phần tiện nghi, kiếm ra một cuốn vở học trò và trở lại ghi chép Những trang viết bằng tay trái (NTVBTT).

—★—

NTVBTT. Sáng hôm nay đi Johannisburg để giao các tấm nệm. Chẳng rõ vì sao có diễn binh lớn tại đại lộ Adolf Hitler. Đông đặc. Một nửa đám đông mặc đồng phục – có nghĩa là đồng loạt, giống nhau, lẫn lộn nhau dưới cùng một lớp vải, cùng một lớp da cứng, cùng một loại thép - bước đi “từng bước” – nghĩa là bước đi giống nhau, như một con rết khổng lồ cuồn cuộn từng đợt màu xám sắc trên lòng đường. Đám đông kia tiến lên nhanh chóng trong công cuộc hóa thân nhằm biến nhiều triệu công dân Đức thành một sinh thể to lớn duy nhất vừa quờ quạng, vừa dũng mãnh, đó là Quân lực. Các cá nhân được gói lại trong sinh thể to lớn – như một đàn cá hồi trong bụng con cá voi – chúng nó chưa chi đã đeo lại với nhau, dính cứng như mủ, đang trên đường tan hòa vào với nhau.

Hiện tượng đang còn ở tình trạng chớm phát sinh trong một nửa số người kia của đám đông, tức là số người dân sự đang nhấp nhô không đều đặn và đủ màu sắc pha tạp trên lề đường và dưới hàng cây. Tuy nhiên con mãng xà màu lục đã phì phò gặm miếng mồi của mình thành từng luồng hôi hám nặng mùi lan tỏa tới những hình người nhỏ bé tạm thời hãy còn tự do. Cái điệu nhạc trầm buồn và dai dẳng, tiếng dậm chân âm trầm của đoàn người đang chuyển động, các toán người rùng lên đều đặn trong làn sóng, các cờ xí hình chữ thập ác mơn man mềm mại dưới làn gió thoảng – tất cả các hình thức mê hoặc này tác động sâu xa tới hệ thần kinh của họ. và làm tê liệt tinh thần tự quyết của họ. Một sự dị nhẹ giết người thấm vào ruột gan, làm mờ con mắt, ru họ vào tình trạng im lìm bằng một sự hớp hồn êm ái độc địa mệnh danh là tinh thần yêu nước. Một Dân, một Nước, một Đầu.

Nhưng cái khối nhất nguyên của Đức quốc xã đã nứt rạn toang hoác, và điều ngạc nhiên chờ đợi tôi trên con đường trở về đã cho tôi thấy hình ảnh minh họa của điều vừa nói một cách gần như khôi hài. Chuyện xảy ra tại Seegutten, một ngôi làng nhỏ tí, bên bờ Spirding. Tôi phải dừng lại đây để lấy sáu bao khoai tây ở chỗ một người làm ruộng. Nhưng gã này đâm ra làm khó và buộc tờ phiếu trưng thu của tôi phải được xác nhận tại sở hương trưởng. Được lắm. Sở hương trưởng, một ngôi nhà nhỏ mới xây theo kiểu tân cổ điển ngày nay. Tôi buộc dây ngựa và bước dọc theo bờ tường đến bậc cấp. Đúng lúc ấy tôi nghe từ cánh cửa mở một giọng nói không xa lạ đối với tôi và đang dùng những thổ ngữ bằng một thứ tiếng Đức chẳng ra làm sao cả và tràn đầy một thứ quyền hành dứt khoát. Tôi dừng lại nghe.

- Đồng ý, tàu khi nào chạy được thì chạy, còn xăng thì không có đâu, chiếc xe ca chạy bằng khí đốt đang nằm đám. Giọng nói oang oang. Phải thấy trước như thế, dễ mà! Quân nhân tiền tuyến các anh, bao giờ các anh cũng tưởng tượng rằng ở hậu phương chúng tôi đang phè phỡn! Nhưng chúng tôi cũng bị bom, rã đám, đói meo! Bây giờ anh lại muốn tôi chững thực trễ phép cho anh! Nói khác đi, tôi phải lo ký thêm hai mươi bốn giờ phép cho anh. Hương trưởng chẳng có quyền đâu, anh ạ!

Đáp lại những lời la lối ấy là những lời chống đỡ mỗi lúc một thêm rụt rè lắp bắp của một giọng nói có vẻ trẻ trung và nông dân, và lai làm gã chấp sự hương trưởng càng lớn lối thêm!

Bước lên mấy bậc cấp, tôi biết con người mình sắp gặp, và tôi đang suy ngẫm cái chuyện đời hài hước mà định mệnh sắp sẵn cho tôi sau màn diễn binh ở Johannisburg.

- Tiffauges đấy à! Có đâu chuyện lạ thế này!

Victor, gã điên của trại ở Moorhof, mừng rỡ ôm chầm lấy tôi, rồi khoách tay đánh bép một cái lên vai cậu lính nghỉ phép mặc áo màu xám sắc, nó vội vàng lỉnh mất. Tiếp đó, hắn lôi tôi vào một gian phòng làm việc, về phía một chiếc ghế phô-tơi. Tôi trả lời câu hỏi của hắn trước tiên là bằng một câu chuyện kể lại thời gian tôi ở Rominten kèm theo một số tình tiết. Nhưng lập tức tôi kể thu gọn lại khi nhận thấy rằng dù hắn có vẻ chăm chú, mắt sáng lên nhìn chòng chọc và miệng cười cứng khựng, tên Victor này vẫn không chú ý mảy may đến chuyện của tôi. Ngay cả cái tên Goring – thông thường có tác dụng phù phép – vẫn không đâm thủng được cái vẻ trơ trơ của bộ mặt làm ra vẻ chăm chú. Nhưng có hề gì đâu! Chính câu chuyện của riêng hắn mới là cái tôi quan tâm.

Victor đã lần lượt làm chú tiều phu ở rừng Altheider, đi câu ở bờ hồ Meuer, giữ ngựa ở trường ngựa Fravenfliess, cuối cùng là thợ cưa xẻ ở Seegutten. Nơi đây làm cá và cưa xẻ gỗ là những ngành nghề bất khả phân li, bởi vì có một xưởng mộc to lớn được dùng riêng vào việc chế tạo các thùng đựng cá bằng các phần vỏ cây. Hàng ngày, người ta tung ra từ Seegutten trung bình năm trăm ki-lô lươn, cá mang, cá măng, và nhất là cá mòi nước ngọt có xông khói một phần. Vụt cao hứng, Victor ôm lấy tôi và bóp mạnh tay tôi.

- Gỗ, cậu ạ, chỉ toàn gỗ với gỗ!

Và nó cho tôi biết rằng xí nghiệp có đến hai dây chuyền sản xuất, Kirchner được trang bị đến mười bốn lưỡi cưa, năm cây cưa tròn, một cưa tiện với máy đo, một máy đặt sàn và một xưởng mài giũa. Rồi nó kể cho tôi nghe những câu chuyện đánh cá diệu kỳ, đánh cá bằng lưới với hai, ba, bốn, và có khi năm chiếc tàu nội một ngày thu hoạch những mười ba tấn cá! Còn về phần nó, Victor, nếu ngày nay trở thành quan chức, chủ nhân thực thụ của Seegutten, là nhờ gỗ và cá mà nên cả.

Nhờ gỗ: mỗi đêm, trong trại tập thể, mặc cho người ta cười cợt châm chọc, nó miệt mài dốc sức vài một tuyệt tác trang trí bằng gỗ: đó là mô hình hoàn toàn rập khuôn với làng của Hindenburg ở Tannenberg. Victor nhờ vào một tình cờ nào chăng, nhờ một nguồn thông tin đích xác, hoặc nó có linh tính chăng? Tướng Oskar Vol Hindenburg, con trai của thống tướng Hindenburg, về, nghỉ ngơi tại Konigsberg, lưu lại một ngày ở Seegutten. Victor được phép đem tặng mô hình cho vị tướng và, lập tức, nó trở thành một con người khác.

Nhờ cá: mùa đông năm ngoái, nó làm cá trên băng, băng trở nên phi phỏng vì mới bị rã. Như thế là anh trở nên chững nhân người lớn duy nhất của một tai nạn suýt giết chết con bé Erika – mười một tuổi – đứa con gái của ông chủ, đến đó trượt băng với chúng bạn, không phòng bị. Băng vỡ dưới sức nặng của đứa bé, và Victor, có mặt ở đó, và sẵn trong tay một sợi thừng, đã cứu nó sống.

Cơ duyên của nó đã hình thành. Ông chủ xem nó là cánh tay mặt của mình, và vì ông là hương trưởng của Seegutten, Victor trở nên thư ký. Ngay từ đó, theo sự tiến triển cổ điển, tư cách độc lập và quyền hành của nó không ngừng lớn lên theo bước chân của người làng lên đường ra mặt trận và các điều kiện sinh sống trở nên khó khăn. Giờ đây chính nó là người phân phát phiếu lương thực, ghi chép sổ sinh, và – như tôi vừa mới chứng kiến – có dịp hống hách với những quân nhân trễ phép. Và nó phá lên cười oang oang khi gợi lại bao điều thần diệu ấy!

Theo đà kể chuyện của nó, tôi cảm thấy có hai điều khó chịu. Sự thành công ngang ngược ấy rõ ràng chính là điều tôi mong mỏi kể từ khi tôi đặt chân lên nước Đức, và cảnh tượng nó du vào lòng tôi một nỗi đố kị đắng cay. Nhưng tôi còn khổ tâm hơn khi thấy rằng Victor thành công chính là nhờ cái điên khùng của nó, và một lần nữa tôi nhớ lại lời phỏng đoán của Socrate trước đây đối với Victor đã từng gây ấn tượng mạnh cho tôi: một đất nước mà chiến tranh và sự thất trận làm cho điên đảo mới là chỗ đất duy nhất thuận lợi cho kẻ mất quân bình phát triển. Nói cho cùng tôi đây chẳng phải là một tên Victor khác hay sao, và tôi chẳng từng hy vọng định mệnh đem đặt Kaltenborn ngang tầm với cơn điên và phục vụ cho cơn điên vốn là thuộc tính của tôi đó sao!

—★—

Tướng Herbert Vol Kaltenborn, bá tước, có thể vì chống đối loại quân phục đặc nhiệm mà ông cho là tùy tiện, hoặc vì vai trò mờ nhạt phải chịu đựng trong phạm vi trường chính trị quốc gia, ông thường thường xuất hiện khoác thêm một tấm áo trùm vai bằng len xám không thấm nước và đội một chiếc mũ dạ mềm kiểu cùng Tyrol. Quả tình ông không bao giờ có dáng dấp quân nhân cho bằng khi ông làm ra vẻ ăn mặc theo dân sự. Ông có vẻ to lớn, mặc dù thực ra ông cao dưới mức trung bình, và khuôn mặt chữ điền của ông, bớt góc cạnh nhờ một bộ râu mép theo kiểu của Francois-Joseph, trông có vẻ là một con người dễ dàng thông cảm, hình ảnh ấy hoàn toàn xa lạ với những ý tưởng cứng cỏi và hạn hẹp đang nung nấu ông.

Lần đầu tiên bắt gặp ông, Tiffauges đang mải băng bó cho mấy con ngựa sát bờ tường của chuồng ngựa. Bá tước kêu anh bằng tiếng Pháp và trao đổi dăm câu với anh, ông lộ vẻ hả hê được dịp phơi bày sự việc biết tiếng Pháp của mình. Sau đó ông có vẻ quên bẵng anh cho đến một hôm, vào tháng chín, nhằm lúc Tiffauges đánh xe đi Lotzen nhận hàng nửa con bò tại một gã bán thịt.

Tại Lotzen, anh bắt gặp cửa tiệm đóng cửa, bị niêm phong. Theo lời người ta, gã bán thịt bị bắt vì bán chợ đen. Nhờ đi đi lại lại tuần này sang tuần khác, Tiffauges chứng kiến đất nước xuống dốc, bị chiến tranh tàn phá hủy hoại. Trong một thời gian dài, các vụ oanh tạc dội xuống riêng vùng Tây Đức đã biến vùng Đông Phổ thành một vùng ưu tiên được tổ chức K. L. V (Tổ chức biệt phái thiếu niên) trưng dụng nhiều đoàn tàu trở đám trẻ con từ những thành phố lớn đổ nát chuyển đến đây. Nhưng kể từ mùa xuân, một mối đe dọa trầm trọng hơn cả oanh tạc đã lộ rõ nét tại phía Đông, và vùng Đông Phổ cảm thấy nó dần dà, nhưng khó lòng tránh được, trở thành vùng đất bị trù dập của Đức quốc xã. Mặc dù bị tổng trấn ban bố tình trạng cấm di tản và cấm mọi hình thức chuẩn bị bỏ đi, những người dân giàu có hơn cả, dễ đi hơn cả, đều ùa sang phía Tây, và vì không thể nào mang theo đủ thứ, cho nên một cuộc bán buôn rầm rộ được phát động giữa những kẻ đánh liều và những kẻ theo đuổi hi vọng. Cảnh sát phản ứng một cách mù quáng và hỗn tạp, dựa trên những lời tố cáo, những đều đồn đãi hoặc những chiến dịch báo chí, các nhà tù nhung nhúc người, các vị tai mắt của trường học hô hào lớn tiếng trên bục giảng, nhưng không có gì có thể cưỡng lại làn sóng hoang mang nảy sinh từ sự rớt dài của Mussolini và sự đầu hàng của nước Ý tại miền Tây, từ sự tháo lui của quân lực Đức ở Ukraine phía Đông, và nhất là từ những mảng ô đen nho nhỏ hàng ngày loan dần những trang tử trận trên mấy tờ báo hàng ngày.

Tuy nhiên làng mạc vùng Mazurie chưa bao giờ rực rỡ như mùa hè tàn năm ấy. Coi như xong xuôi công vụ, Tiffauges về lại nẻo đường Kaltenborn, thơ thẩn dọc theo các bờ hồ Lowentin, Woynowo, và Martinshagen. Nước trong veo đến nỗi mấy con chim bắt cá lượn trên trời và đàn cá bạc quẫy mình dưới đáy hồ sâu tưởng như đang chuyển động trong cùng một môi trường. Các thuyền bè neo ở cầu phao lừng lững trong khoảng không, nhưng như khinh khí cầu bị dây buộc. Tiếng vù vù náo loạn của đàn ong ập xuống một cánh đồng cải dầu đương hoa, tiếng rùng rùng êm ái của một chiếc máy đập trong sân trại, tiếng lanh canh của chiếc đe thợ rèn, và luôn cả tiếng lốc cốc của con chim gõ mõ trên thân cây thông tạo thành một lớp lang khoái hoạt và êm ái sau lưng anh, chung quanh anh và trước mặt anh. Cái hào quang này vẫn không đi ngược lại với không khí tẩm độc mà anh nhận ra trước đây ở Lotzen. Nay nước Đức rõ ràng đang tàn lụi, anh cảm thấy trời đất chuẩn bị cho anh một cái đài cao cho kẻ thắng trận là điều hợp lẽ.

Chính trong tâm trạng đắc thắng ấy anh bỗng thoáng thấy, cách cổ thành chừng vài cây số, chiếc xe limousine, cổ lỗ, màu đen, của vị chỉ huy đỗ ở bên đường. Xe bị trục trặc và ông già, im lim hơn cả khúc gỗ, chờ đợi gã tài xế phục vụ đi tìm cách giải quyết trở về lại. Tiffauges mời ông lên xe ngựa ngồi bên cạnh mình, và đưa ông trở về lâu đài. Anh không nhớ mình nói gì để trả lời mấy câu hỏi vắn tắt của vị chỉ huy trên đoạn đường ngắn. Bởi thế, anh lấy làm ngạc nhiên khi vị tướng, vài hôm sau, gọi anh vào văn phòng, và sau khi hỏi một câu chiếu lệ, ông hỏi anh:

- Hôm nọ trở về lâu đài, tôi có hỏi anh về cảm tưởng chung chung của anh đối với đất Phổ, anh có nói: một xứ sở màu đen và màu trắng. Như thế nghĩa là sao?

Tiffauges do dự kể ra:

- Cây thông, bạch dương, mấy dải cát, than bùn.

Vị tướng cầm lấy tay anh và kéo anh đến một mảng tường treo đầy khí giới và cờ xí. Ông bảo:

- Đất đai nước Phổ màu đen và màu trắng, nhìn như thế là đúng. Bởi vậy cờ của Đông Phổ là đen với trắng, ám chỉ hiển nhiên đến các hiệp sĩ nước Đức cổ xưa, và ám chỉ tấm áo trắng có vạch đen của họ. Nhưng đừng quên bọn Đoản Kiếm, nếu không có bọn này thì nước Phổ là một nước lạnh lẽo, khô cằn. Tiffauges xuôi theo:

- Thưa vâng, họ là muối của đất!

Và anh tuôn một hơi cái bài giảng của ông chủ quán Albert d’Apeldom, Albert de Buxhowden, nói đến cái đế quốc ở địa đầu thế giới, vốn tập hợp dưới hai ngọn kiếm màu tía, các vùng đất Livonie, Courlande và Estonie, kế đó là Gothard Kettler hòa hợp với dân Đức cổ thời của Hermann Vol Salza, vị này sẽ củng cố uy thế của Đông Phổ.

Vị chỉ huy hả dạ. Ông kết luận:

- Do đó, bên cạnh màu đen và màu trắng của dân Đức cổ thời, ta không nên quên đặt thêm màu đỏ của bọn Đoản Kiếm. Màu này tượng trưng cho tất cả những gì là sống động tại các vùng cát và than bùn anh vừa đề cập.

Quả tình Tiffauges nhớ ra rằng nước Phổ, sau khi bắt anh chịu đựng màu đất đen và tuyết của Moorhof, vẫn liên tiếp biệt phái đến anh cả một đoàn lũ sinh vật hừng hực sống nóng, con mê Unhold vùng Canada, bầy chim ri, đàn nai ở Rominten, con ngựa Râu Xanh vốn là phiên bản của chính anh, bầy con gái nhỏ ở Goldap và cuối cùng là bọn Thanh niên ở Kaltenborn, cái khối lượng hàng ngũ răm rắp sống động và thô sơ mà anh nghe đồng ca một giọng kim trong trẻo, và nện bước rập ràng trong bãi sân kín dưới chân tháp.

Vị chỉ huy đưa anh bước qua ngôi nhà nguyện, đây là lối đi đưa đến sân thượng, và cả hai dừng lại trước những cây kiếm bằng đồng sắp thành ba lớp đưa lưỡi kiếm tuốt trần cắt rạch chân trời êm ả với những khu rừng và các mặt hồ gợn sóng. Vị này giải thích:

- Mỗi cây kiếm mang tên một vị tổ tiên của tôi. Đây, ở giữa, là Hermann Vol Kaltenborn, đức mẹ đồng trinh có hiện ra với ông này, giáp tuổi ra trận khiến ông sẽ phải bỏ mạng, để báo trước với ông rằng ông đã được giành chỗ trên thiên đường hiệp sĩ. Phía Tây là ông Wiprecht Vol Kaltenborn một lực sĩ thực thụ của đấng cứu thế, chỉ trong một ngày đích thân rửa tội cho mười ngàn dân Phổ. Sau hết, ở phía Đông, cây kiếm Veit Vol Kaltenborn, là bố của tôi chỉ huy ngay tại đây tháng 8-1914 dưới thời thống chế Von Hindenburg, và giải phóng đất đai của minh ra khỏi dân Slave xâm lăng.

Và ông trang trọng, trìu mến đưa bàn tay ve vuốt lớp kim khí rỉ xanh ở các lưỡi kiếm ngoại hạng. Từ khoảng sân bịt bùng vang vọng lên từng đợ âm thanh hiếu chiến và đồng bộ của đám Thanh niên:

Hãy run rẩy lên đi, hỡi đống xương tàn của cựu thế giới!

Cuộc chiến khởi đầu. Chúng ta đánh tan nỗi sợ hãi. Chiến thắng đón chờ chúng ta!

Ngày nay Đức quốc thuộc về ta, ngày mai toàn bộ thế giới!

* * *

NTVBTT. Tôi vốn vô cùng khó tính, dễ dàng nổi cơn bất bình khi còn ở trên đất Pháp, luôn luôn rủa thầm và phùng mang trợn mắt, đôi khi tôi tự hỏi do đâu mình nhẫn nhục và dễ bảo từ khi đặt chân lên nước Đức. Chẳng qua, ở đây, tôi thường xuyên đối diện với một thực tế bao hàm ý nghĩa hầu như lúc nào cũng rõ ràng và phân định, hoặc nếu như thực tế ấy trở nên khó hiểu, tức là nó lắng xuống sâu và nếu như nó thiếu hiển nhiên thì lại thừa tính phong phú. Đất Pháp không ngừng chọi lại tôi bằng những biểu hiện báng bổ sơ đẳng nảy sinh giữa một bãi sa mạc vô hại. Ở đây không phải cái gì cũng hay cũng đúng, hoàn toàn không! Nhưng cái chất liệu bày ra cho tôi vừa tinh tế vừa trầm trọng đến nỗi tôi không có thời gian, và không có sức lực để giận dữ mỗi khi nó chọi vào đầu tôi khá đau.

Chẳng hạn ông Blattchen kia bày ra đủ trò làm cho tôi sôi gan và lặp đi lặp lại một cách bỉ ổi. Một trong những sở trường của ông là biến các địa danh và các tên dòng họ gốc nước ngoài - ở đây là gốc Ba Lan hoặc gốc Lituanie – thành những tên có âm thanh hoàn toàn là Đức. Ông đoán mò một cách bệnh hoạn cái nguồn gốc mù mờ của những địa danh có vẻ vô hại hơn cả và không ngưng tâu với Lãnh tụ để tố cáo sự việc tày đình, và đề nghị thay vào bằng những tên dễ nghe hơn – ít nhất là theo chủ quan của ông. Chẳng thế mà, quen tật theo thói, nay đến lúc ông xía vào cái tên của tôi! Nhưng trường hợp này, theo ông, không còn là vấn đề thay tiếng Ba Lan và tiếng Lituanie bằng tiếng Đức nữa. Ông tin chắc rằng cái tên Tiffauges là do chữ Tiefauge biến thể, và do đó ẩn chứa một nguồn gốc tiếng Đức cổ, xa xôi, nhưng như thế lại càng đáng trọng. Và như thế là ông chỉ còn gọi tôi bằng ông Tiffauge, hoặc là trong những lúc sung mãn, ông quý tộc hóa tên tôi, và tôi trở thành ông Von Tiefauge. Ông bảo tôi:

- Điều chứng tỏ sự tinh tuyền của dòng máu ông, là ông hãy còn mang đậm nét cái dấu hiệu riêng biệt khiến cho dòng họ ông mang tên ấy: Tên Tiefauge có nghĩa là mắt sâu, mắt ấn vào trong hõm mắt. Và, ông Von Tiafauges ạ, cứ nom thấy ông là người ta hiểu ngay cái tên ông đến nỗi có thể nghĩ đó là tên tục!

Nhưng hôm nọ, ông còn đi xa hơn, và tôi suýt nổ to tiếng. Câu chuyện đang diễn ra bế tắc, vì chúng tôi đang khám nghiệm một thằng bé bị phê toàn những chữ ostisch – có nghĩa là nhỏ, và chắc hẳn nhỏ suốt đời, bằng vào bắp thịt rắn chắc và cong queo của nó, đầu cực ngắn (88,8), người nhỏ, nước da chì, nhóm máu AB – ông Blattchen tức giận ban tuyển chọn thiếu sáng suốt. Tôi bị nhầm mãi khi tính toán mấy con số và cuối cùng tôi làm vỡ một lọ thuốc thử rhésus. Thế là Blattchen chửi tôi. Chửi kín đáo thôi! Ông chỉ sửa nhẹ cái tên của tôi. Ông bảo:

- Cẩn thận chứ, ông Triefauges!

Và tôi biết tiếng Đức đủ để hiểu rằng Triefauge có nghĩa là con mắt đau, chảy nước, đúng ra là chảy ghèn! Tật cận thị nặng của tôi kèm theo đôi mắt kính dày không thể nào không mang bắt tôi phải chịu lời rủa ấy. Tôi xáp lại gần giáo sư tiến sĩ đến độ đụng vào người ông, tôi á mặt mình gần mặt ông, và chầm chậm rút chiếc kính ra. Và đôi mắt tôi bình thường híp lại ti hí đằng sau lớp kính tròn dày dặn, nay mở giương to, choán hết trũng mắt đến độ lồi ra ngoài, và trâng trâng nhìn giáo sư tiến sĩ một cách chằm chặp thất thần như con rắn độc nhìn chết mồi.

Tôi không rõ do đâu tôi nghĩ ra cái vẻ mặt ấy. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thử, nhưng kết quả lại hiệu nghiệm đến nỗi tôi sẽ diễn lại. Blattchen tái mặt, lùi lại, ấp úng xin lỗi, và không nói thêm gì nữa hết cho đến khi khám xong đứa bé.

—★—

Tiffauges trước đây vẫn nghĩ rằng cái giá trị thiên mệnh của mỗi đoạn đời của mình chỉ được xác nhận một cách đầy đủ là nếu như đoạn đời ấy, dù đã vượt qua và được thăng hoa đi nữa, vẫn được lưu giữ trong giai đoạn kế tiếp. Vì vậy anh ngóng trông những điều thành đạt ở Rominten phải được thành toàn ở Kaltenborn. Anh được toại nguyện ngay từ tháng mười khi vấn đề tiếp tế gặp phải những khó khăn khiến người ta nghĩ tới những phương cách cùng cực. Vị chỉ huy tình báo mấy hôm nay vắng mặt, khi trở về ông có giải thích rằng ông có hội đàm với vị Tổng trấn ở Konigsberg. Erich Koch có hứa hẹn với ông giúp khí giới và đạn dược, để cho Kaltenborn có thể đảm trách việc huấn luyện quân sự cho Thanh niên, giúp một giàn súng phòng không để đối phó với những trận oanh kích mỗi ngày một nhiều, sau cùng ông cho phép, và việc này có hiệu lực tức thì, được săn bắn trong toàn huyện Johannisburg để cải thiện bữa ăn của trường chính trị quốc gia. Vị chỉ huy tình báo quyết định giao trách nhiệm săn bắn cho Abel Tiffauges, là người mang cả hai tư cách là nhân viên tiếp tế lương thực và cựu phụ việc săn bắn của vị chỉ huy săn bắn. Tuy nhiên vị Tổng trấn có nói rõ rằng ông không nhượng quyền hạn săn bắn thực thụ nào hết, và loại trừ việc sử dụng súng bắn. Có nghĩa là phải dồn ép thú săn, và sử dụng khí giới kim khí, hoặc là chỉ có việc đặt bẫy. Như thế là một nửa cho và một nửa lấy. Tiffauges vẫn bằng lòng với sự hạn hẹp ấy bằng cách yêu cầu cho sắp đặt một đạo thanh niên để tổ chức một chương trình đặt bẫy giật dây hiệu nghiệm ở các hang cỏ vùng Sostroszer Bruch, còn bà Netta – cũng có một thanh niên đi cùng – điều khiển công cuộc hái nấm trong rừng Drossewald. Thời tiết khô mát có nhiều gió phía Đông của mùa thu năm ấy, nếu quả là bất lợi cho những chuyến săn tìm của bà Netta, thì lại giúp ích cho công việc của Tiffauges. Các đợt giá lạnh ban mai năm ấy đến sớm, đợt tuyết đầu mùa giáng xuống và sẽ không biến tan ngay từ những ngày đầu tiên của tháng mười một.

—★—

NTVBTT(1). Sáng nay sau khi mặt trời lóe rực, bóng tối bỗng nhiên úp chụp xuống đồng bằng. Phía Tây, một tảng mây lớn, màu đen khác thường, sắc kim khí, chầm chậm kéo đến hướng chúng tôi. Có một cái gì thuộc loại bồn chồn có chất thiên văn, một sự rùng mình truyền kiếp vốn rất quen thuộc với tôi, nhưng lần này nó tràn ra khỏi con người tôi và lan tỏa ra người khác, thú vật và vạn vật. Và bỗng nhiên không khí dậy dàn với muôn ngàn hòn bông trắng bay lượn vui vẻ khắp tám hướng. Một sự đảo ngược huyễn hoặc từ màu đen sang màu trắng, phù hợp với cái phong cảnh không biến dị này. Hóa ra tảng mây chì chỉ là một bị lông! Nhà thiên văn học người Hy Lạp nào đã nói tới “màu đen bí ẩn của tuyết” nhỉ?

—★—

Buổi tối Noel được đánh dấu bằng một trận bão đầy gió tây bắc như muốn đánh tan kỷ niệm của một năm tựu trung bình lặng và đầy ánh mặt trời. Giữa trưa một vòm mây tuyền màu đồng thau đè năng trên bầu trời từ chân trời phía này sang đến chân trời phía bên kia. Ở tận trên cao tít, ta nom thấy bầy chim biển the thé sợ hãi, bị cuốn theo một chiều gió dữ. Bình nguyên ngái ngủ bỗng nhiên rậm rật và vùng vẫy trong một cơn ác mộng đang dồn ép. Tuyết rơi lặng lẽ qua mấy đêm bình yên nhẹ nhàng trước đây bỗng quẫy dậy và sấn tới trước khắp vùng đất như một bức tường thành có bóng tối màu trắng. Trên mặt các hồ đóng băng, những ngọn gió giật quét lùa đám cành khô, gốc cây, thân cây và luôn cả đá lớn. Nhô lên trên một ghềnh đá, cổ thành trở nên công cụ cho bão táp, trở nên một giàn đàn gió khổng lồ rít lên từ tất cả các phòng trước, hành lang, các ô cửa tròn, lầu chuông và mũi tên. Các ống chỉ hướng gió rền lên như giọng người, cửa ập bình bình vào tường, từng đàn sói vô hình thình thịch tru tréo ở các hiên.

Tuy nhiên thời gian hội hè này cũng quần tụ các Thanh niên tại phòng vũ khí chung quanh một cây Noel rực rỡ ánh đèn. Đây không phải là tôn vinh sự ra đời của đấng Cứu thế, mà là sự ra đời của hài nhi Mặt trời, tái sinh từ tro tàn giữa tiết đông chí. Bởi lẽ quỹ đạo của mặt trời xuống đến mức cực tiểu, và ngày rút lại thành ngắn nhất, cho nên cái chết của thần mặt trời bị xem như là một định luật vũ trụ đầy đe dọa. Các khúc bi ca dành cho sự thấp hèn của mặt đất và dành cho sự xua đuổi của bầu trời nhằm ca tụng những hiệu lực của mặt trời khuất bóng, và khấn nguyện mặt trời tái hồi giữa nhân gian. Và lời ai vãn được chứng giám, bởi vì kể từ hôm nay ban ngày sửa soạn xâm lấn ban đêm bằng một khoảng thời gian thoạt đầu không đáng kể, nhưng liền sau đó càng lấn lướt rõ rệt.

Vị chỉ huy tình báo, liền sau đó cất cao giọng đọc những lời chúc mừng gửi cho Kaltenborn từ bốn mươi trường chính trị quốc gia khác rải khắp đất nước của Đức quốc xã, là Plon, Koslin, Ilfeld, Stuhm, Neuzelle, Pubuss, Hegne, Rufach, Annaberg, Ploschkowitz… và sau mỗi tên được xướng lên, một đứa trẻ tách ra khỏi vòng cung đứng về phía các bạn, đi đến thắp thêm một ngọn nến vào cây thông lớn. Kế đó là im lặng kèm theo với tiếng bão rít, và vị chỉ huy như thể cảm khái bất thần, lớn tiếng dõng dạc:

- Thiên đường núp bóng các thanh kiếm!

Sau cùng, bằng một giọng trầm tĩnh, ông giải thích rằng mỗi hạng người tự thể hiện mình bằng một dụng cụ tối ưu dùng làm biểu trưng luôn thể. Và như thế có những người cầm bút và chữ viết là chức năng tự nhiên, những nông dân tìm lại mình trong chiếc lưỡi cày, kiến trúc sư với cây thước đo góc làm đặc hiệu, người thợ rèn thì tìm thấy ở chiếc đe hình ảnh thiên chức của mình. Đoàn Thanh niên của Kaltenborn phục vụ gấp đôi cho thanh kiếm, trước tiên với tư cách là chiến sỹ trẻ tuổi của Đức quốc xã, và sau là vì hiệu năng của hiệu kỳ tòa lâu đài. Tất cả những gì không dự phần vào thanh kiếm đều phải là xa lạ đối với họ. Mọi trợ lực nào khác, nếu không phải là trợ lực của thanh kiếm, đều là hèn hạ và phản trắc. Họ có bổn phận luôn luôn nhớ đến giai thoại chiếc gút khúc mắc trong đời của Alexandre đại đế. Trên vệ thành của Gordium, xứ Phrygie, có đền thờ Jupiter tàng trữ cỗ xe của vị vua đầu tiên trong nước. Theo một lời sấm trọng đại, châu Á sẽ thuộc về người nào biết cách mở gút dây buộc cỗ xe vào càng xe, và hai nút dây đều ẩm. Alexandre muốn chinh phục đế quốc châu Á, và sốt ruột vì cuộc thử thách khó khăn, nên dùng kiếm chặt cỗ xe ra làm đôi. Như thế mỗi bài toán có thể có hai giải đáp: giải đáp dài, chậm và lỏng lẻo và giải đáp bằng thanh kiếm, nhanh chóng và tức tốc. Noi gương Alexandre, Thanh niên buộc mình phải rút kiếm mỗi khi có một gút nào ngăn chặn mình đi đến mục đích.

Trong khi ông nói, những tiếng thét vang dội của bão không ngừng lay giật tường thành và làm chao đảo các đốm lửa nhỏ trên cây thông. Các đèn tắt ngúm đồng loạt và bóng tối rền vang phủ trùm bọn trẻ, đúng lúc ấy cánh cửa sổ cao của phòng vũ khí vỡ tung dưới sức đẩy của một ngọn gió tận thế. Mỗi một ngôi sao giống như con mắt màu vàng, đang đâm thủng màn đen rên rỉ ở phương Đông.

—★—

NTVBTT. Tôi phải mất nhiều thì giờ mới nhập cuộc vào đại hội quần vũ đầy cờ xí, reo hò và màu sắc đang cuốn hút đám trẻ con kèm theo một số người lớn. Vào cuộc rồi tôi mới hiểu rõ nó vâng theo những động cơ nào. Rõ ràng quỹ đạo của thời gian ở đây tiến triển – không theo đường thẳng – mà theo đường tròn. Người ta sống không phải trong lịch sử, mà theo cuốn lịch. Đây có nghĩa là thời buổi xoay vần bất tận – hoàn toàn đúng theo hình ảnh của cuộc quần vũ. Chủ thuyết của Hitler đi ngược lại mọi tư tưởng tiến bộ, sáng tạo, khám phá và phát minh một tương lai trinh nguyên. Thế mạnh của nó không phải là cắt đứt, mà là phục hồi: suy tôn giống nòi, tổ tiên, huyết thống, người chết, đất đai…

Trong cuốn lịch với các thánh cùng với ngày lễ xuất xứ từ một danh bạ đặc biệt gồm các tử sĩ, ngày 24 tháng một mãi mãi là ngày lịch sử của năm gở 1931, năm chết của Thanh niên Herbert Norkus, vị thánh bổn mạng của mọi tổ chức thanh niên, vì đây là trường hợp chết trẻ.

Một lần nữa, người ta chiếu một bộ phim cho đám thanh niên – đám này cật lực phản đối vì đã xem rồi – cuốn phim Tuổi trẻ Hitler dựng từ cuốn tiểu thuyết của Schenzinger cảm hứng từ định mệnh của Norkus. Tôi ngạc nhiên về diễn viên được chọn. Đây là một đứa trẻ so với Norkus ngoài đời thì trẻ hơn nhiều, mảnh mai, hơi con gái, hơi trắng trẻo như gà tơ, và ngay khi nhập cuộc đã chuẩn bị làm mồi cho ngọn đoản đao của người chủ lễ. Ở đối cực, là đám thanh niên những người tiêu diệt nó thì lại giống như một đám tiểu quỷ già trước tuổi, ăn mặc như người lớn và thuộc tính của chúng nó là thuốc lá, rượu và đàn bà. Với con cừu non dành để dâng hiến này, vừa tơ vừa trong trắng, chúng ta hoàn toàn đánh mất hình ảnh của đứa trẻ “cứng cáp như da thuộc, thon gọn như chó săn và rắn chắc như thép Krupp” mà Hitler ca tụng. Điều đáng nói đối với tôi là người đạo diễn cuốn phim đã đi mười năm trước tôi để có cách nhìn như vậy – cách nhìn vô cùng ngược lại với sự thật được công nhận – cách nhìn tuổi trẻ của nước Đức, không phải là một tuổi trẻ tràn trề sức khỏe và say sưa chinh phục, mà là một tuổi trẻ luôn luôn sẵn sàng sát hại kẻ vô tội.

Sau cuốn phim, là buổi lễ canh gác hồn ma. Giàn trống liên tục khua vang lời kêu gọi đầy ám khí của Đội áo đen: hai tiếng trống dài do tốp trường đoàn bên phải, ba tiếng trống ngắn do tốp trường đoàn bên trái, đáp lại là năm tiếng ngắn, ba tiếng ngắn rồi hai tiếng ngắn của đám đông. Trống đưa ma và nhức nhối đang diễn tả vũ điệu bao trùm của định mệnh trên đường đi tới. Lời ai oán này bỗng bị cắt ngang vì tiếng kèn the thé. Im lặng. Một giọng nói thiếu niên trỗi dậy trong đêm. Một giọng khác đáp lời. Rồi thêm giọng thứ ba.

- Đêm nay chúng ta tưởng niệm bạn Herbert Norkus!

- Chúng ta không canh một chiếc quan tài lạnh lẽo. Chúng ta đứng sát bên nhau quanh một người bạn bị hi sinh và nói nên điều này:

- Trước chúng ta đã từng có một bạn dám làm điều mà chúng ta đang toan tính hôm nay. Bạn không còn lên tiếng nói, những tấm gương của bạn hãy còn sống!

- Nhiều người gục ngã chung quanh chúng ta, nhưng đồng thời nhiều người chao đời. Thế giới vốn bao la, ôm trọn người sống lẫn người chết. Nhưng những kỳ tích của lớp đàn anh hồi sinh trong cuộc chiến của những ai bắt chước theo.

- Anh được mười lăm tuổi. Chúng đâm chết anh ngày 24 tháng một năm 1931 tại Berlin, trong khu phố Beusselkietz. Anh Herbert Norkus chỉ làm nhiệm vụ của thanh niên Hitler, nhưng chính điều này đã rước lấy sự ghét hận của kẻ thù chúng ta. Thi thể của anh mãi mãi là một loại rào cản giữa người đối địch và chúng ta.

Giờ đây họ hát bài Một dân tộc trẻ đứng lên tấn công… Các giọng hát rõ như những bông hoa bằng nước đá dậy lên trong không khí lạnh lẽo, trong khi chiếc phướn thập ác vặn mình quanh chiếc cột, giống như thể con bạch tuộc sáng lên giữa vòi sáng thu gọn từ một bóng đèn chiếu.

Ể ĐẦM LẦY Nguyên tác: Les Rois des Aulnes ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 1997
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Michel Tournier

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.