Chúa Tể Đầm Lầy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
5

❊ ❊ ❊

Một thời gian ngắn trước khi ra đi, Blattchen có nói với Tiffauges, hờ hững thế thôi: “Có người mách tôi có đứa con trai gia đình đốt than ở rừng Nikolaiken. Tóc hắn trắng như tuyết, mắt màu tím và chỉ số sọ bề ngang phải gần đến 70. Anh thử dạo một vòng xem sao. Hắn tên là Lothar Wustenroth. Tôi nhắn nhủ mấy, cha mẹ hắn không hề đáp lời”. Tifauges lần đầu tiên mò đến vùng này, vùng nghèo nhất xã mà lại khó đi. Phải đi qua một nhánh hồ trên một tấm bè trời ơi đất hỡi, lèo lái do một gã bướu, mồm cười toe toét và có vẻ điếc đặc. Trốn tránh mãi không xong, cuối cùng con Râu Xanh phải nhảy bừa xuống suýt lọt ra ngoài bè gỗ. Kế đó gã bướu cho nổ một chiếc máy con phành phạch vang động cả bờ hồ. Con ngựa mở mắt thao láo, suốt chuyến đi ngắn ngủi trên nước không ngớt giậm vó trước lên mấy khoanh gỗ tròn. Tiffauges nhớ lại mấy lời nói của Blattchen khi nhìn thấy đám người đen toàn thân chạy tới chạy lui trong rừng quanh những đụn than cùng khắp khiến ta liên tưởng đến một ngôi làng của bọn lùn. Anh lân la đến nhiều người vừa nói lên cái tên Wustenroth. Ai nấy ra hiệu không hay biết, vô kế khả thi, cho đến khi một người trong bọn đưa ra cái tên đặc biệt là Barenwinkel cách năm sáu cây số về phía đông.

Tiffauges thúc ngựa vào các bãi mênh mông đã trụi cây chỉ còn lại vài ba cây mẫu xuôi xuống các đồng truông tím sẫm và các bãi cát, tại đây con Râu Xanh bị cát lún đến tận cổ chân. Nó vặn mình bước từng bước một. rồi tái diện đám rừng than với nhiều đụn, đám đất bật lên và rừng thưa ngút mắt với ánh sáng chói chang đối với con mắt đã quen với bóng râm xanh của vòm rừng và cây cao. Anh tiến lại một đoàn người đang xúm xít làm sạch một đụn than. Người đầu tiên phát hiện ra anh là một đứa bé, ít nhất là do tầm vóc của nó mà xét, bởi lẽ nó cũng quấn quanh mình một loại bao tải giống mọi người buộc lại làm áo phủ lên quần. Tiffauges sửa soạn lên tiếng hỏi, nhưng anh dằn lại vì câu hỏi bỗng trở nên vô ích. Đứa bé ngước lên anh một khuôn mặt lấm lem: đôi mắt màu hoa bạch đầu ông làm thành hai trũng ánh mắt màu tím nhạt giữa một lớp mặt màu đen.

- Lothar Wustenroth.

Tiffauges thốt lên mấy tiếng nửa vừa hỏi han nửa vừa nhận diện.

Đứa bé không lộ vẻ ngạc nhiên, có lẽ ngoại trừ màu hoa bạch đầu ông lan tỏa thêm trên lớp mặt màu đen. Nhưng nó chậm rãi giở chiếc mũ len trên đầu ra, để lộ một bợn tóc ép sát, màu trắng bạch kim.

Tiffauges ngóng chờ những màn thương lượng công phu, bất quyết. Kinh nghiệm cho anh hay rằng việc chiêu mộ Thanh niên càng trở nên khó khăn nếu môi trường xã hội được chọn lựa càng thanh bần. Trong khi giới đại tư sản chen chúc nhau trước cổng trường chính trị quốc gia xin xỏ cho bọn quý tử vào học, thì công tác sưu tra tại các gia đình công nhân và nông dân – được lãnh đạo thanh niên ưa chuộng hơn cả - lại va vấp phải thái độ nghi kỵ sợ sệt, chống đối. Ấy thế mà, có ngờ đâu, ông bà Wustenroth tỏ ra ưng thuận ngay tất cả những gì anh đề nghị với họ. Họ đồng ý quá ư mau mắn khiến anh cuối cùng tự hỏi họ có hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện hay chăng. Để tránh mọi sự hiểu nhầm, anh đưa họ đến tòa đô chính ở Warnold – làng gần nhất – tại đây viên thư ký diễn dịch phần trình bày của Tiffauges, và dùng giấy trắng mực đen ghi lại điều chính yếu.

Về đến làng Barenwinkel, Tiffauges được đón chào bằng nhiều đàn trẻ con hát mừng, vì đã thỏa thuận với nhau rằng vào giờ phút chót anh sẽ đưa Lothar về Kaltenborn ngay chiều hôm ấy, và chưa chi anh đã hình dung mình phóng ngựa trong ánh nắng chiều hôm đầy thắng lợi, ôm vào lớp áo tung bay của mình đứa bé mắt màu tím và tóc bạch kim. Thế mà anh đành gạt bỏ hình ảnh ấy, vì Lothar đã rời bỏ làng đốt than khi anh vắng mặt. Các người có trông thấy nó ra đi về phía Warnold, và tưởng nó đi gặp cha mẹ với ông khách sau khi đã tắm rửa xong. Nó vẫn mất tăm dạng cho đến chiều hôm, Tiffauges đành quay về Kaltenborn, tay không và lòng nặng một nỗi buồn và căm giận. Tòa đô sảnh ở Warnold, theo ước định, sẽ liên lạc với gia đình Wustenroth, và khi nào Lothar trở về thì báo cho Kaltenborn rõ. Do đó, Tiffauges dành cho nó ở trường chính trị quốc gia, nhắm chừng đưa nó vào đạo nào, vào bàn nào ở nhà ăn, giường nào ở nhà ngủ, bắt đầu tập hợp các vật dụng cá nhân cho nó, các bát đĩa của nó và luôn cả thanh kiếm sẽ được trao trọng thể cho nó. Nhưng ngày này ngày nọ trôi qua, và bao nhiêu lần điện thoại về Warnold chỉ được trả lời bằng những lời hứa hẹn mơ hồ, những im lặng né tránh. Thay vì nản lòng hay bỏ quên, Tiffauges vững lòng chờ đợi tin tưởng.

Không giống như một biến cố nào khác trong đời mình, sự mất tăm của Lothar chẳng lẽ do tình cờ thế thôi. Nỗi thất vọng quá nặng nề và quá trời xui đất khiến, chẳng khác nào, trước mắt anh, có một bàn tay khổng lồ chọc thủng tầng mây thò xuống cướp mất đứa bé mắt tím ngay mũi anh. Nếu Lothar hôm ấy thoát khỏi tay anh, là vì việc đưa nó về Kaltenborn hóa ra quan trọng quá, khiến cho định mệnh không khỏi phủ bọc quanh người nó những tình huống phi phàm.

Những tình huống ấy, phải chờ đến cuối tháng tám mới hội đủ. Hôm ấy, một đạo thanh niên vượt qua hồ để tổ chức trong rừng Johannisburg một cuộc săn có đuổi bắt kết thúc bằng chuyến trở về đắc thắng của đoàn thuyền buồm nhỏ chở nặng lũ nai mang ghếch đầu lên bờ thuyền để thõng sừng gạc lướt trên mặt hồ. Được yểm trợ về phía đông do Tiffauges, con Râu Xanh và đàn chó, bọn trẻ sục sạo từng lùm cây bụi gai để xua xuống bờ hồ các thú săn lông vũ lông mao chui ra từ các ngỏ ngách. Chúng nó không có súng, chỉ có gươm và gậy gộc, kèm theo dây với lưới. Lũ người tham gia đông đảo nhanh nhẹn bổ khuyết vào phương pháp và kinh nghiệm, và thú săn từ nhiều năm không bị lùng nên chi nhiều vô kể và cho ta thấy rằng những chuyến săn ngẫu hứng rộn ràng này hầu như chẳng bao giờ thất bại. Thế mà, sáng hôm ấy, vùng chân rừng trông êm ả lặng lẽ, và sự vắng bóng thú săn nhỏ dường như tiết lộ có một con thú lớn nào đó đang dừng chân trong bụi rậm hoặc rừng cây mới lớn.

Cuộc lùng sục kéo dài một tiếng đồng hồ chẳng có gì vui rộn, rồi sau cùng sinh động lên bằng một con gà tồ đậu trên một cây giẻ gai quang quác bay loạn. Một cây gậy phạt nhằm vào thân, nó rúc nhanh vào bụi gai lẩn trốn thì gặp phải một con chó vồ ngay kết liễu đời nó. Trông nó đẹp mã, to như con gà tây, người ta móc nó vào cây sào cho hai đứa bé gánh.

Mọi người xuống gần đến bờ hồ, nơi cuối cùng bình thường của cuộc săn, thì bỗng dừng sững lại vì tiếng lào xào tới tấp của tiếng chân nhỏ đạp lên sỏi trên một lối đi. Tiffauges bắt đàn chó im thin thít và trong chốc lát anh bị đánh lạc hướng vì dáng dấp của con Râu Xanh như đang im lìm mê mẩn, tai chếch thẳng tới trước, hơi thở dập dồn, cơ bắp lật bật. Tiếp theo, như một tia chớp màu hung xẹt qua, một con nai già áo ra cặp kè hai con nai cái.

Mấy sợi dây quẳng tung lên vèo vèo, và dăm đứa trẻ vô vọng lao người phóng theo ba con thú. Chúng nó nhanh chóng bị Tiffauges bỏ xa, và tiếng kêu ơi ới lùi lại phía sau. Tiffauges gò người trên con Râu Xanh, phóng tới trước bám theo tiếng chó gào nhưng thấm thoắt anh đánh mất dấu vết.

Mấy giờ đầu tiên trông thú vị một cách nhẹ nhàng như chơi. Bầy thu chạy thẳng về trước, băng băng qua các bờ đường, hẻm hóc, bén gót theo sau là đàn chó, lớp lớp như các ngón tay trên bàn tay, chúng nó há hốc cả mười một cái họng nóng bỏng oang oanh inh ỏi. Tiffauges thả lỏng dây cương cho con Râu Xanh lao toàn thân vào các bụi gai, mây, đạp nát các lớp dương xỉ, thạch thảo, hung hăng vùng vẫy cả bốn chân khi hiện ra một chướng ngại vật như cái hố, một thân cây chết hoặc bờ rào. Thỉnh thoảng chàng kỵ mã nhắm mắt cúi đầu để tránh lá mũi kim của cành thông quất ngang hoặc cành thấp của cây sồi giáng vào người. Từ tấm thân đẫy đà sục sôi chuyển tiết nhịp vào người anh, tỏa ra một sức sống thật mãnh liệt, thật gần gũi khiến anh nhắm mắt tin tưởng lao theo.

Anh bắt kịp đàn chó bên bờ một nhánh hồ mà con nai già bơi vượt qua, ngỏng sừng lên như một dàn đèn bồng bềnh. Hai con nai cái biệt dạng, và Tiffauges tấm tắc khen thầm đàn chó không bị đánh lạc hướng vì mấy con thú thứ yếu rẽ sang đường khác. Con nai nhô mình lên nhễ nhại bên bờ kia thì cũng vừa lúc ấy đàn chó băng mình ùa sang bên ấy, lao xuống bợt nước, theo sau là con Râu Xanh có khả năng lội cạn. Và cuộc săn bắt tiếp diễn, đước báo hiệu bằng tiếng tru tréo của bầy chó mực mắt đỏ ngầu phóng theo cặp kè vào tận rừng cây cao càng vào sâu càng thưa dần. Tiffauges lại mất tăm dạng chúng nó một lần nữa khi chúng nó lao vào một rặng cây phỉ sau khi băng qua nhiều vạt đất cày. Còn có thêm mấy cụm rừng con và những thửa đất mọc dày những đám đậu im mà đàn chó tuôn vào lùng sục inh ỏi, lại thêm những bãi truông sắc tím, những bãi cát loang lổ hang thỏ, rồi bỗng nhiên Tiffauges sực hiểu ra rằng cuộc săn đuổi chấm dứt, rằng con thú bị đuổi này đã đối đầu, bởi lẽ tuy anh vẫn còn nghe đàn chó sủa, nhưng hình như tiếng sủa đã đổi cung bậc, có lẽ to hơn, nhưng trầm hơn và nhào nháo hơn. Không còn là một tràng đồng thanh phụ trợ săn đuổi, mà là một khúc tử biệt trước giờ xâu xé.

Anh thúc hông con Râu Xanh đang sánh nước kiệu, như thể mình đã hiệu đàn chó đã dừng chân hẳn rồi. Đến chỗ ngoặt của rừng, anh khám phá ra một bãi đất hưu canh mênh mông mà ở tít xa sừng sững bóng dáng cuống cuồng của một cái gì như cây giẻ gai màu tía. Anh cho ngựa phi chậm lại và phóng đến đàn chó đang vây quanh chân thân cây ấy, và không hiểu sao lại sủa về hướng các cành cây to lớn. Một đứa bé mắt tím đang ngồi bệt giữa nạng cây, hai bàn tay bám chắc vào cành.

- Cháu sợ chó! Gọi chó cho với!

Nó gọi to từ rất xa cho Tiffauges nghe thấy.

Tiffauges có muốn vẫn không thể nào đuổi nổi mười một con chó dữ đang gầm thét dưới chân anh. Anh thúc con Râu Xanh đến sát thân cây, và quyết đứng lên trên mông ngựa. Con ngựa thiến, dường như lường được cái quy cách mang đèo đang diễn ra, nên đứng im lìm như pho tượng, dù tiếng chó bủa vây vang dội quanh mình như từng cuộn sóng đen. Lothar vẫn bám vào cây, nó cố dùng chân đạp Tiffauges không cho anh áp tới. Cuối cùng anh thợ săn chụp được chân đứa bé kéo xuống. Đến lúc nó quẫy trong tay anh, nỗi vui sướng của anh dậy dàng đến nỗi không cảm thấy hàm răng của con mồi nhỏ cắn vào tay mình đến rướm máu.

—★—

NTVBTT. Ngựa không phải chỉ là tổ vật của sự Phóng uế, và chủ yếu là con vật mang đèo. Thần Hậu môn lại còn có thể trở thành một lợi khí trong việc bắt cóc, dụ dỗ và – trường hợp người kỵ mã ẵm con mồi của mình trên tay – có thể tiến lên tầm cỡ mang đèo siêu hạng. Hơn thế nữa: sự dụ bắt có thể xảy ra ngay khi sự mang đèo siêu hạng đã thành hình, chẳng hạn trường hợp một vị siêu nhiên giành giật lấy đứa bé trên tay người đang cỡi ngựa, như trong bài thơ Chúa tể đầm lầy. Bài thơ ba khổ của Goethe ấy, qua đó ta thấy người cha phóng ngựa trốn vào đồng truông đèo theo con mình giấu trong áo, đứa con này bị Chúa tể đầm lầy ra sức dụ dỗ và cuối cùng cướp bắt, bài thơ ấy chính là bản hiến chương của sự mang đèo được nâng lên bậc ba. Đó là huyền thoại la tinh về Christopher Albuquerque được nung đốt lên đến cao độ dưới phép thuật của miền Cực Bắc. Ở cuộc săn đuổi – trong cuộc săn, Thần Hậu môn đuổi bắt và dồn vào đường cùng Thần Dương vật – cái tài riêng của tôi góp thêm bằng cách hóa thân con nai thành đứa bé, và bày ra luôn cái lễ bộ mang đèo siêu hạng diễn ra sau đó. Tình hình dội lên như thế này mở ra một trang mới mẻ cho bao nhiêu tinh chất thao diễn và sẽ hoàn tất ở Kaltenborn.

—★—

Raufeisen tự hỏi hồi lâu không hiểu Chỉ huy trưởng muốn đòi hỏi Tiffauges làm gì mà lại kêu đòi gấp rồi cầm giữ lại ở lâu đài, có khi nhiều giờ liền. Phẩm chất của ông không cho phép ông mở lời để hỏi chàng thanh niên người Pháp, cái ý thức về quân giai không cho phép ông yêu cầu vị tướng lãnh giải thích. Sự thật là, kể từ khi hai người ấy gặp nhau bên đường và về xe với nhau, ông đã khám phá trong vũ trụ đầy dẫy ký hiệu và biểu tượng của Tiffauges có một vùng thăm dò khá gần gũi với những ưu tư của riêng mình, nhưng đồng thời cũng khá mới lạ khiến ông quan tâm. Ông là người biệt lập nghiệt ngã trong phòng riêng, không biết tới ngày tháng, công việc, lễ lạc của trường chính trị quốc gia, ông ghi nhận sự hiện hiện hòa nhã, sốt sắng của anh, và âm hưởng nhiều câu nói của anh khiến cho người khác quên bẵng anh là người Pháp, chẳng có cấp bậc gì và là thứ dân dã. Chẳng là, lần đầu tiên trong đời, Tiffauges mới chịu xé màn bí mật bưng bít lâu nay giữ kín về những gì mình băn khoăn, vui sướng và khám phá. Có thể anh lường được những điều mình gửi gắm với Chỉ huy trưởng – anh chưa hề tiết lộ gì về cái dòng máu hung thần của mình, cũng chẳng đả động đến chuyện đồng lõa giữa mình với định mệnh – nhưng vì hy vọng biết thêm tin tức, anh có nói tới tính nghịch đảo – nặng và nhẹ -, tính bão hòa, tính mang đèo và những vị anh hùng nhập thân vào người anh.

Trong khi chuyện trò, vị Chỉ huy trưởng gợi lại kỷ niệm, thời thơ ấu và thanh niên của mình ở trường trung học quân sự ở Plon, nơi đây ông được nuôi dưỡng cùng với các hoàng tử của Hoàng đế, đời sống binh trại ở Konigsberg, một đời sống tù túng ngay cả đối với một thanh niên lớn lên trong cung cấm, đến độ ông hối hả chụp lấy cơ hội thoát ly nhờ cuộc đối đầu với hội Nghĩa Hòa. Trung úy tốt nghiệp trường Potsdam, ông tham gia vào đoàn viễn chinh quốc tế đặt dưới quyền chỉ huy của Thống chế Von Waldersee, ông này trả được mối thù cho Ketteler, vị bộ trưởng của Đức quốc bị ám sát, và giải thoát cho các phái bộ của các quốc gia khác bị giam giữ ở Bắc Kinh. Ông lao thân vào thế chiến 1914 một cách say máu, điều này khó hiểu do tuổi tác của ông, nhưng lại được biện giải vì quân Đức tấn công thắng lợi vào buổi đầu. Nhưng đến khi các trung đoàn kỵ binh tan tác, các giáp kỵ binh lẫn lộn với bộ binh trong các chiến hào lầy lội, ấy là khi ông hiểu rằng có một điều gì cốt yếu vừa sụp đổ trong trật tự đời sống, ấy là sự nhanh trí uyển chuyển nhất, thâm trầm nhất, sáng giá nhất của ông. Bao nhiêu thất vọng và thất trận tiếp theo đó là những hậu quả tất yếu của lầm lỗi ban đầu.

Về sau, ông chứng kiến Hoàng đế thoái vị và phong trào xã hội với tâm trạng từ giã của một con người già sớm vì mất một cõi đời mà mình gắn bó. Từ độ ấy, bộ môn hiệu kỳ học xen vào như một lá chắn vẫn thông thương được giữa thực tại với ông. Ông quả quyết:

- Mọi thứ đều nằm trong biểu tượng, và tôi hiểu rằng người ta đã chôn xuống đất sâu cái uy dũng của đất nước tôi kể từ năm 1919 khi quốc hội nhóm họp ở nhà hát thành phố Weimar – Weimar! trong một nhà hát! Trò hề tuốt tuột! – dẹp bỏ ngọn cờ đế chế cao sang đen-trắng-đỏ là ngọn cờ phát tích từ tầng lớp Hiệp sĩ nước Đức cổ để thay vào đó bằng cờ đen-đỏ-vàng sọc ngang mà ta mục kích nảy nở như loài hoa độc trên rào đường phố năm 1848, quốc hiệu mới đấy. Đúng là chính thức mở màn một kỷ nguyên ô nhục và suy đồi. Kẻ nào lầm lỗi về biểu tượng thì sẽ bị biểu tượng nó phạt! Tiffauges ạ, anh là người đọc ký hiệu, tôi biết, vả chăng anh cũng đã chứng tỏ như thế. Anh cho rằng anh đã khám phá ra nước Đức là nước của những tinh chất tinh tuyền, ở đó điều gì xảy ra cũng là ký hiệu, điều gì xảy ra cũng là ngụ ngôn. Và anh có lý. Vả chăng, một người bị khắc dấu định mệnh thì buộc lòng phải kết thúc đời mình ở Đức, cũng giống như con bướm quay cuồng trong bóng tối, cuối cùng bao giờ cũng tìm ra được nguồn ánh sáng làm nó ngất ngây rồi sát hại nó. Nhưng anh còn nhiều cái để học. Từ trước đến nay anh khám phá những ký hiệu trên đồ vật, giống như các chữ và con số đọc trên cái mốc bằng đá. Đó chỉ là dạng thù thấp kém của biểu tượng. Nhưng anh đừng nghĩ rằng ký hiệu bao giờ cũng là loại hình trừu tượng vô hại và kém cỏi cả đâu. Ký hiệu có có sức mạnh, Tiffauges ạ, chính nó đưa anh đến tận đây. Ký hiệu dễ sừng sộ. Biểu tượng nào bị bôi nhọ thì trở thành phân tượng. Từ tính cách của anh giúp anh khám phá khả năng mang đèo, sự nghịch đảo trầm trọng và tính bão hòa. Anh còn phải tìm hiểu điểm tận cùng của guồng máy các biểu tượng, đó là sự hợp nhất của ba hình tượng thành ra đồng nghĩa với tận thế. Bởi lẽ đến một lúc ngặt nghèo nào đó ký hiệu không chịu để cho con người mang đèo nó, như là cây cờ có lính mang. Nó đến lúc tự quyết tự định, thoát ra ngoài sự vật được biểu tượng, và điều đáng gờm hơn là, biểu tượng gánh lãnh lấy sự vật được biểu tượng. Thế là khốn khổ cho sự vật ấy!

Anh nhớ lại khổ hình của Giê-su mà xem. Giê-su mang thánh giá hàng giờ. Kế đó chính thánh giá lại mang Giê-su. Lúc bấy giờ lớp màn của nhà thờ rách toang và mặt trời tắt ngấm. Đến khi biểu tượng nuốt chửng sự vật được biểu tượng, đến khi kẻ mang thánh giá bị đóng vào thánh giá, đến khi một sự nghịch đảo trầm trọng đảo lộn sự mang đèo, thì tận thế gần kề. Vì lúc bấy giờ, biểu tượng không còn đeo nặng bởi cái gì nữa hết thì trở thành chúa tể của bầu trời. Nó đâm dọc nảy ngang, xâm chiếm tứ bề, vỡ vụn ra làm trăm ngàn ý nghĩa sẽ không còn ý nghĩa gì nữa hết. Anh đọc thiên Khải huyền của thánh Gioang chưa? Ta thấy ra nhiều cảnh dữ dội, kỳ vị nhuộm đỏ bầu trời, những con thú dị thường, tinh tú, gươm đao, vương miện, quần tinh, một mớ hỗn độn những thiên sứ, vương trượng, ngai vàng, mặt trời. Và bấy nhiêu thứ nghiễm nhiên toàn là biểu tượng, mã số. Nhưng chớ có tìm hiểu, chớ có tìm xem ký hiệu nào đi với vật thể nào. Bởi lẽ các biểu tượng ấy là phân tượng, chẳng dùng để biểu tượng cái gì nữa hết. Và khi chúng nó nhung nhúc bảo hòa, ấy là tận thế. Ông ngừng nói và bước đến bên cửa sổ có lấp ló chiếc cáng cờ đang được ngọn gió đêm mơn trớn xạc xào. Ông nói tiếp:

- Anh thấy tôi đang đứng đây, trong lâu đài của tôi tua tủa cờ xí, chuôi phướn với dấu thập ác. Hồi 1933, thú thật có lúc tôi đã từng nuôi hy vọng khi tân thủ tướng vứt bỏ ba sắc cờ Weimar để phục hồi cờ đế quốc của Bismarck. Nhưng khi thấy ông ra tay – cái cờ đỏ ở giữa là hình tròn trắng với chữ thập ác đen, tôi ngay ngáy điều gở. Cái con nhện lờ quờ, xoay quanh, chìa mấy cái chân móc câu dọa dẫm những gì lướng vướng chân nó, đích thị là phản đề rõ rệt của chữ thập xứ Malte rạng ngời thanh thản vỗ về!

Cuối cùng là Đức quốc xã phục hồi những huy hiệu truyền thống và trong thời buổi vinh hiển của nó, muốn tái lập hình chim ó của các hiệu kỳ nước Phổ.

Về ngôn từ hiệu kỳ, chắc hẳn anh biết rằng phái phải tức là trái, và phía trái tức là phải?

Tiffauges gật. Anh nghe cái quy tắc về hiệu kỳ này lần đầu tiên, nhưng vì nó quá ư phù hợp với sự nghịch đảo trái-phải mà thường tình anh bắt gặp mỗi khi biểu tượng nắm phần chủ động, cho nên chí anh xem nó như thể là quen thuộc.

- Về sự đảo ngược này, người ta giải thích ra một cách giản tiện, có lẽ về sau người ta mới bày ra. Theo người ta, một tấm khiên phải để cho người ta đọc, không phải đọc từ phía người nhìn vào đứng đối diện, mà từ phái hiệp sĩ đang đeo nó bên tay trái. Cho nên bao giờ con ó theo kiểu nước Phổ cũng nghiêng đầu sang phải, đúng theo truyền thống hiệu kỳ. Thế mà anh nhìn con chim ó của Đức quốc xã mà xem, nó kẹp trong vuốt của nó một vòng lá sồi có dấu thập ác: đầu chim ó nghiêng sang trái. Đây là một con chim ó được né tránh, thật là điên rồ, dành riêng cho những nhánh lộn sòng hoặc thất thế trong các gia đình quý tộc. Tất nhiên chẳng có một vị chức sắc nào trong Đảng có thể biện giải cái quái thai ấy. Người ta kín đáo ám chỉ một sự nhầm lẫn thô thiển của họa sĩ thuộc Bộ Tuyên truyền. Ngày nay, Goebbels rốt cục tìm ra được lời giải thích: con ó của Đức quốc xã nhìn về hướng đông, phía Liên bang Xô viết để hăm dọa và tấn công. Sự thật không phải thế, ông Tiffauges ạ.

Và ông nhích lại gần chàng thanh niên người Pháp và, bằng một giọng trầm xuống và rít qua răng, tiết lộ cho anh điều bí mật khủng khiếp mà kể từ nay anh cùng chia sẻ với ông.

- Sự thật là Đức quốc xã, ngay từ đầu, là kết quả của những biểu tượng hoàn toàn nắm quyền chủ động. Không có ai hiểu được sự báo động, tuy rằng hùng hồn, từ cái nạn lạm phát năm 1923, cả một rừng giấy bạc mất giá, những biểu tượng tiền tệ đã không còn là biểu tượng gì nữa hết nay rơi ập xuống toàn cõi đất nước ồ ạt phá phách như giặc châu chấu. Mà anh nên ghi nhận rằng cũng chính năm ấy đồng đô la ăn 4, 2 tỷ đồng mác Đức, rằng Hitler cùng với Ludendorff, được một nhóm đảng viên hộ vệ, đi đến quảng trường Odéon ở Munich để lật đổ chính phủ Bavière. Anh thừa biết những gì xảy ra tiếp theo: loạt súng xả vào mười sáu thành viên hộ vệ, Goring bị thương nặng, Hitler cũng vậy được Scheubner Richter kéo ngã xuống, Scheubner Richter bị trật vai, trúng đạn chết. Và tiếp theo là mười ba tháng giam giữ Lãnh tụ trong pháo đài Landsberg, tại đây ông viết Cuộc chiến của tôi. Nhưng tất cả những cái ấy đều là phụ. Cái duy nhất đáng kể trong ngày 9.11.1923 tại Munich, chính là một ngọn cờ, ngọn cờ chữ thập ác của đám âm mưu rơi giữa mười sáu cái xác chết trong vũng máu vừa hoen vấy mà cũng vừa tuyên dương ngọn cờ. Kể từ đó ngọn cờ máu ấy sẽ trở thành thánh tích linh thiêng hơn cả của đảng dân xã. Kể từ 1933, mỗi năm nó được đưa ra trưng bày hai lần.

Trước hết là ngày 9.11 khi tái lập cảnh ra mắt của các tướng soái tại quảng trường Munich, giống như quang cảnh khổ hình ở Trung cổ, nhưng nhất là trong tháng chín, thời gian nhóm họp quốc hội Đảng ở Nuremberg mới thật là đỉnh cao trong nghỉ lễ dân xã. Lúc bấy giờ ngọn cờ máu, giống như một thức giống đực gieo giống cho hàng loạt thứ giống cái, được đưa đến gần các ngọn cờ mới nào mong muốn được gieo giống. Tôi được mục kích quang cảnh này, ông Tiffauges ạ, tôi tin chắc cái động tác của lãnh tụ giao phối các ngọn cờ hoàn toàn giống như động tác của gã gầy giống đưa bàn tay hướng dẫn dương vật của con bò đực cho vào âm hộ của bò cái. Và thiên hạ nhìn diễu hành nguyên từng đoàn quân mà mỗi người đều cầm cờ, và tất cả chỉ là những đoàn quân cờ, một biển cả uốn lượn dạt dào theo ngọn gió, một biển hiệu kỳ, biểu ngữ biểu hiệu, tua phướn. Ban đêm, đuốc lửa thêm thắt một nét mỹ mãn vào đại lễ, vì ánh đuốc sáng rực cán cờ, các ren tua cùng các khuôn mặt bằng đồng làm thành tột đỉnh vinh quang, và lại dìm vào bóng đất đen toàn bộ khối lượng con người ta ngóng chờ một hồi chung cuộc tối tăm. Sau cùng, khi Lãnh tụ tiến lên dàn cao làm lễ, một trăm năm chục ngọn đèn chiếu phòng không bật sáng đồng loạt, và tạo nên phía trên sân bãi khinh khí cầu một giáo đường ánh sáng với những cột ánh sáng cao tám ngàn thước chứng tỏ cái tầm cao đi lên tới tinh tú của cuộc lễ nhiệm mầu. “Anh thích nước Phổ thì phải, anh Tiffauges, vì anh bảo rằng dưới ánh sáng cực Bắc, các ký hiệu bừng lên lạ lùng. Nhưng anh chưa rõ các biểu tượng sinh sôi dữ dội đến như thế nào. Trong bầu trời đầy dẫy hình tượng đến độ bão hòa, đang chuẩn bị một cơn dông bão dữ dội của ngày tận thế và sẽ nuốt ngủm tất cả chúng ta!”.

—★—

NTVBTT. Đêm nay, lối ba giờ, tổng báo động. Lần đầu tiên tôi chứng kiến cái màn mà đám trẻ gọi là “màn giả trang”, và là một trong những trò đày đọa đáng uất hận hơn cả do đầu óc của một hạ sĩ quan Phổ đẻ ra. Trong thực tế, Raufeisen nhận thấy rằng kỷ luật ở Kaltenborn sa sút nặng nề và không kiểm soát nổi cái trường chính trị quốc gia này. Và ông điên tiết phản công bằng những đòn dữ dội giáng xuống từ xa. Đám trẻ được lệnh tập trung thành đội ngũ giữa sân, sắc phục chiến đấu, trong thời hạn là ba phút. Các hình phạt rơi như mưa xuống đầu bọn chậm trễ. Kế đó, sau khi thanh tra, lại rơi như mưa xuống đầu bọn nào sắc phục không đúng cách. Chúng nó đứng nghiêm được mười lăm phút thì một hiệu lệnh khác nổi lên. Hai phút sau, mọi người phải trở về chỗ cũ, nhưng lần này mặc đồng phục Sói Con. Rầm rầm rập rập rong các cầu thang. Ập vào các dãy nhà ngủ. Xô lấn nhau quanh các tủ. Hình phạt rơi như mưa xuống kẻ nào mở miệng, rồi là kẻ nào chậm trễ, rồi là kẻ nào có một chi tiết không hợp lệ bị vị chỉ huy để ý. Lại mười lăm phút bất động. Tan hàng. Hai phút, mọi người đông đủ trong áo quần ra trại. Tiếp theo là quần áo tập thể dục. Tiếp theo là lễ phục diễu hành. Chúng nó nghiến răng ráng sức làm những thứ người máy cỡ nhỏ, nhưng tôi thấy có đứa khóc vì đuối sức.

Lẽ ra tôi vẫn nằm trên giường. Thật tình tôi chẳng thể nào bỏ mất màn biểu diễn y phục này. Tôi say sưa quan sát cá tính của đám trẻ thích hợp đến đâu với những lớp y phục khác nhau thay ra mặc vào mặc tình cho tôi nhìn ngắm. Cá tính của chúng không hiện ra xuyên qua lớp áo, như là giọng nói xuyên qua tường ít nhiều rõ tiếng tùy theo bề dày của tường. Không, cứ mỗi lần, ta thấy cá tính của chúng được lột tả một cách mới mẻ, hoàn toàn mới mẻ và tác động một cách bất ngờ, nhưng vẫn đầy đủ như lần trước đó, và đầy đủ như thể chúng trần truồng vậy. Cũng giống như một bài thơ dịch sang một ngôn ngữ nào đó, rồi sang một ngôn ngữ khác, chẳng mất đi cái sức hấp dẫn của nó, nhưng mỗi lúc được tô điểm thêm bằng những nét duyên mới lạ. Bao nhiêu áo quần là bấy nhiêu chìa khóa của thân thể con người, ở mức độ xoàng xĩnh. Ở mức độ không phân biệt như thế này, chìa khóa và bộ khung giải đáp là giống nhau không nhiều thì ít. Chìa khóa vì áo quần là cửa vào mang trên thân thể và thật sự trông giống như bộ khung vì phủ trùm lên thân thể có khi trọn vẹn, như mọt bản dịch từ đầu đến cuối, thậm chí một lời bình đại cà sa phủ phê hơn cả nguyên bản. Nhưng quả là một lời bình nôm na, lắm lời và nhẹ dạ, không có giá trị biểu hiện. Hơn là chìa khóa hay là bộ khung giải đáp, y phục là phương tiện viền khung cơ thể. Khuôn mặt được viền khung – tức là được bình giải – nhờ chiếc mũ phía trên, nhờ cổ áo phía dưới. Đôi cánh tay chuyển khác tùy theo tay áo ngắn hay dài, bó hay rộng, hoặc hoàn toàn không có. Tay áo bó và ngắn ôm sát vòng tay, làm nổi cuồn cuộn các bắp thịt và để ló phần thịt hấp dẫn, tăng thê vẻ tròn lẳn ở phần vai, nhưng không mời gọi sự sờ mó. Tay áo bồng bềnh lấp liếm cánh tay tròn, làm cho cánh tay như có vẻ mảnh mai, nhưng trong cái vùng rộng đón chờ ấy lại mời mọc sự ôm siết chiếm đoạt lấy và có thể lần lên tới bờ vai. Chiếc quần ngắn và chiếc bít tất viền khung phần đầu gối và diễn tả đầu gối một cách khác nhau tùy theo ống quần xuống thấp hơn, hoặc là chiếc bít tất lên cao hơn. Một chiếc đầu gối viền bó bằng ống quần cộc hơi dài cùng với chiếc bít tất hơi cao thì phải lãnh lấy cái chức năng rắn rỏi khô khan của mũi cây sắt. Nó diễn tả sự nghiêm ngặt, tính hiệu dụng và dửng dưng với da thịt. Nếu vắng chiếc bít tất cao, hoặc nếu bít tất bùng nhùng trên chiếc giày, thì dáng mơn mởn của bắp chân tăng phần giá trị và phản nghịch lại cái vẻ đua đòi khắc khổ của đầu gối. Hình ảnh này gợi ra rõ ràng cái thất bại của một loại kỷ luật áp đặt từ bên ngoài đối với một con người vô tâm mà duyên dáng không nghĩ ngợi và không để ý gì đến công dụng của áo quần mà người khác cấp cho. Ý vị hơn là sự đi đôi của một chiếc bít tất cao, dừng lại ngay dưới đầu gối, hoặc phủ lấy một phần đầu gối cũng hay, và một chiếc quần cộc thật ngắn, bày rộng bắp đùi ra. Lúc bấy giờ chín bắp đùi được viền khung và nâng cao, và đầu gối chỉ còn là phần chống đỡ mờ nhạt. Cái công thức tối thượng là công thức kết hợp y phục đúng cách với sự ca tụng cơ thể một cách trữ tình, kết hợp cái trật tự được tôn trọng với sự ca ngợi phần chân đầy đặn nhất, êm ái nhất và mời mọc nhất. Người ta tin chắc đó là công thức áp dụng thường xuyên hơn cả trong những cách ăn mặc khác nhau của cơ thể nhỏ, và chẳng hạn như trong đồng phục của Thanh niên và trong trang phục thể thao. Nhưng chiếc bít tất cao, lắm khi lệch chức năng. Nếu quá ngắn, kéo không thẳng hay cuốn lại thì để hở ống chân quá nhiều và làm mất nhiều phần diễn tả. Và như thế, chỉ còn trông nom ở chiếc bít tất khá phóng túng để cuối cùng bổ khuyết cho toàn bộ xập xệ, nó sẽ lì lợm ngênh nganh vừa đủ để tạo thành phần đế mạnh mẽ cần thiết cho toàn bộ.

—★—

NTVBTT. Lothar Wustenroth. Sinh ngày 19 tháng mười hai năm 1932, tại nơi có tên là Barenwinkel. Chiều cao: 148cm. Cân nặng: 35kg. Vòng ngực: 77cm. Vòng sọ ngang: 72.

Dong dảy và có sức bật như cây cung, dáng thon của nó làm nổi giá trị khác thường của đường nét cơ bắp trông đầy đặn đáng kinh ngạc. Phần ức thành hình vòm mở rộng. Đó là một nét mà Blattchen không dè, ấy vậy mà toàn bộ kiến trúc của phần ngực là do đó mà ra cả. Trên thân thể những người ít may mắn hơn, tưởng chừng như lồng ngực bị kín lại vì các xương sườn như giao nhau về phía trước. Trong lắm trường hợp thường gặp, phần ức tạo thành hình tam giác và cho ta thấy hình chữ V lộn ngược. Hai cánh chữ V có thể hõm vào, nhưng hình nét trông càng đẹp khi càng quy vào tâm. Trình độ hứng cảm của châu thân con người nó tùy thuộc vào chiều mở rộng của lồng ngực, hơn là vào nét trán cao hay môi thanh. Ở đây, tôi không phải chơi chữ đâu. Ở trình độ này, đương nhiên nghĩa đen và nghĩa bóng của từ hứng chí hòa lẫn vào nhau, cũng giống như ta đừng quên rằng tinh thần khởi đi từ chữ thần mà nghĩa đầu tiên là hơi hám, làn gió.

Khuôn mặt ngắn, như thể được cách điệu, bản mặt xương xẩu được khắc dấu bằng đôi môi mỏng, cái mũi nhỏ và hai hõm mắt tím nhạt lấp liếm phần nào vì mớ tóc bạch kim sùm sụp vanh tròn theo thể thức ở đây. Chẳng cần phải có cả bộ sậu đo đạc nhân loại học của Blattchen cũng có thể, nhờ vào cái đầu làm mẫu này, rút tỉa ra cái thước vàng về sắc đẹp của con người. Cái sắc đẹp này nằm ở tầm quan trọng của sọ đối với mặt. Tất cả cái ưu thế thẩm mỹ của đứa trẻ so với người lớn là ở đó. Cái sọ ở đứa trẻ đã đạt tới kích thước cuối cùng, hầu như chẳng còn lớn thêm Trong cái tầm quan trọng tăng tiến của mặt đối với sọ, thì cái đầu tiến gần lại con vật. Quả như thế, tỷ lệ sọ-mặt bị đảo lộn nơi con vật: một cái đầu chó, đầu ngựa có nghĩa là mặt mà thôi – có nghĩa là toàn bộ mặt là trán, hõm mắt, mũi, mõm – vì sọ bị thu rút lại hầu như chẳng còn gì. Tôi cũng còn ghi nhận rằng những người nam và người nữ nào mà ta thường ngưỡng vọng vẻ đẹp đều là những con người còn giữ lại một phần nào đó của tính tỷ lệ - hoặc thiếu tỷ lệ - nơi đứa trẻ giữa sọ và mặt. Trên tuyến đường đi từ con thú lên tới con người, như thế là đứa trẻ đứng sau người lớn và phải được xem như đứng trên con người, nó là trên người. Và như vậy phải chăng đối với trí thông minh, ta cũng nên kết luận tương tự? Nếu ta định nghĩa trí thông minh như là khả năng học biết những điều mới mẻ, tìm ra những lời giải đáp cho những bài toán xuất hiện lần đầu, thử hỏi có ai thông minh hơn đứa bé? Có người lớn nào có khả năng học viết được đâu, nếu như y không được học từ nhỏ, hơn thế nữa lại có khả năng học nói bỗng không mà không xuất phát từ một ngôn ngữ đã nắm chắc?

Trong khi tôi viết những dòng ghi nhận này thì nó đang đợi chờ ngoan ngoãn, ở tư thế dạng háng, tấn trên cẳng chân trái như một cây cột sống động mà mảnh dẻ, còn bắp đùi bên phải thì mềm, bất động, đối lập lại. Dương vật theo dạng quả lê: cái giống và đôi ngọc hành gom lại thành ba khối gần như đồng đều trong một mớ xếp nếp cùng quy về cái cuống nhỏ dính liền với hạ bộ. Tôi ngước đầu lên, và nó mỉm cười với tôi.

—★—

Đám trẻ tập trung trong gian phòng hiệp sĩ của lâu đài, đêm nay gian phòng này biến thành hội trường mênh mông, tù mù, lao xao những tiếng rì rầm và tiếng cười nửa vời. Một chiếc bệ thấp và thắp sáng bằng bốn đế đuốc làm xao động các vòm cao có đường gân chạy chụm vào các cột. Như lệ thường, nếu mọi sự chuẩn bị đâu vào đó, thì người ta giữ bí mật, và trong không khí lặng lẽ bàng hoàng, ta bỗng thấy xuất hiện vị Chỉ huy trưởng trong bộ quân phục địa lệ tướng soái trên bệ. Đời sống ẩn kín của ông trong bóng ngôi trường chính trị quốc gia, các bộ thường phục không vẽ vời của ông, cái huyền bí bao quanh con người này mà không có ai – luôn cả bọn trẻ nào nhỏ tuổi nhất – là không biết rằng uy tín vá các tước vị của ông làm lu mờ cái tiếng tăm ám muội của những nhân vật đặc nhiệm, tất cả những điều vừa nói góp phần tạo cho sự có mặt của ông tối hôm nay có nét nổi bật phi thường. Ông lên tiếng, và không khí im lặng chùng xuống thêm, vì giọng nói của ông ồm ồm, nghe cũng khó. Tưởng chừng đám trẻ đang ngập sâu vào bóng lờ nhờ rướn người về phía ông để nghe. Nhưng dần dà âm sắc tăng lên, âm bậc tròn lại, những khuôn mặt tôn vinh được ông nhắc nhỏ đang hiện ra đầy ắp hiện trường. Ông nói:

- Hỡi các Thanh niên, đêm nay ta cử hành một cuộc lễ đỉnh cao của sự nghiệp đang còn trẻ trung của các bạn. Ba người trong các bạn sẽ được giao giữ cây kiếm lưỡi lê. Haio, Haro và Lothar kể từ nay sẽ mang ở sườn trái ngọn đao nói lên hai ý nghĩa Máu và Danh dự là những gì sẽ dẫn đạo cái sống và cái chết của các bạn. Hơn bất cứ một nơi nào khác, cuộc lễ này khơi dậy một âm hưởng trầm hùng dưới các vòm mái này được xây dựng nên do vị tổ tiên của tôi là ông Hermann, bá tước Von Kaltenborn, hiệp sĩ phụng sự đấng Kitô dòng Song Kiếm ở Livonie, tu viện trưởng dòng Đoản Kiếm, tuyển hầu ở Pomérellie và ngự y ở Riga. Ông là thánh bổn mạng của các bạn, là sư phụ của các bạn.

Bởi lẽ các bạn là, hoặc sẽ là, những thanh niên Song Kiếm đêm nay. Bởi thế cho nên các bạn cần biết vị ấy là ai và sinh thời như thế nào, phòng bất cứ lúc nào cũng có khả năng trả lời câu hỏi: ở vào địa vị ta, đại sư Hermann xử trí như thế nào nhỉ?

“Như mọi hiệp sĩ cùng thời, Hermann Von Kaltenborn trước hết rèn luyện con tim mình dưới ánh mặt trời thiêu đốt của phương Đông. Ông đã nếm đủ mùi khổ cực và luôn cả mùi lạc thúc của các cuộc thánh chiến to tát. Nhưng cũng giống như đa số đạo hữu của ông, ông không bằng lòng sát hại bọn người bội tín mà thôi. Ông là thầy dòng cứu thương, biết cách săn sóc người bệnh và người bị thương, và đưa về xứ nhiều dược thảo và dược liệu bí truyền từ các bị đạo sĩ phương Đông khiến ông lừng lẫy ở tòa tân giáo của Riga. Đầu thế kỷ thứ XIII, ông tham gia vào tất cả cuộc chiến giúp cho dòng Đoản Đao làm bá chủ vùng biên giới cực bắc, từ bờ biển Baltique đến bờ sông Narva và hồ Peipus. Đoàn Đoản Đao chỉ là một nhóm người, vài trăm thôi, xấp xỉ số lượng như Thanh niên các bạn tập họp trong phòng này thôi. Nhưng đó là những con người khổng lo! Họ chẳng sở hữu gì, không của cải, không vợ, không có luôn cả ý muốn riêng biệt mặc dù đã từng phát nguyện cam chịu nghèo khó, tinh tấn, phục tòng. Họ mang khí giới mà ngủ, kiếm để bên cạnh, như là người vợ độc nhất của mình, bởi quy luật khắt khe không cho phép họ hôn mẹ hoặc chị em gái của mình. Hàng tuần hai ngày ăn uống sữa với trứng, ngày thứ sau nhịn đói. Không được phép có bí mật riêng trước mặt các vị chỉ huy, không được nhận thư từ gì mà lại không qua chỉ huy. Lên đường chinh chiến trên lưng ngựa đẫy đà như cả thớt voi, áo giáp và khí giới của họ cồng kềnh đến độ làm cho họ trông giống như pháo đài lừng lững. Nhưng dưới lớp áo lưới, vai họ và lưng họ âm thầm rỉ máu, vì họ khép mình vào kỷ luật trước khi lâm chiến…

“Đi dẫn đầu là con người uy dũng hơn cả của họ, đó là Hermmann von Kaltenborn, và hào quang thánh thiện của ông rạng ngời đến nỗi đám cây sồi thiên cổ của khu rừng vô đạo phải sụp đầu xuống khi ông đi ngang qua. Hermann chuộng mùa đông hơn mọi mùa khác dễ chịu hơn, vì cái khắt khe của mùa đông biểu hiện cho cái khắt khe của luân lý, vì sự trơ trụi của rừng cây nhắc nhở sự trơ trụi của đời sống thánh thiện, vì nét sáng trong của bầu trời được gió lạnh quét sạch gợi hình ảnh của tâm hồn nhờ đức tin mà sạch nhục thể. Và ông yêu luôn cả đất đai cứng lại, đầm lầy đông đặc và mặt hồ đóng băng tạo dễ dàng cho chuyên chở và tải súng.

“Trong các cây, ông thích nhất là cây thông vì nó mạnh và thẳng, xanh và tráng màu, xếp tầng đều đặn như một tòa luật pháp, vì tóm lại đó là một cây gắn với dân tộc tính của Đức hơn cả”.

Vị Chỉ huy trưởng nói thao thao, gộp luôn quá khứ, hiện tại và tương lai, so sánh chiếc đoản đao bé con mà đám Thanh niên đeo ở mạn sườn bên trái với những thanh đại trường kiếm chỉ thiên trên bờ thành của sân thượng lớn, so sánh sư đoàn thiết giáp Đức đụng độ Liên Xô với hiệp sĩ Đức giao tranh cùng dân Slave, hai trận đánh ở Tannenberg, trận đánh năm 1410 là năm xóa sổ quân Đức cổ cùng với quân Đoản Đao gục ngã dưới số lượng quân Ba Lan và Lituanie, và trận phục thù vẻ vang năm 1914 đánh dấu quân Đức của Hindenburg đè bẹp quân Nga của Samsonov. Cuối cùng, ông đưa ra hình ảnh đối lập giữa Pháp và Đức đối với hạng tu sĩ hiệp sĩ của hai nước từ đất Thánh trở về: giữa lúc quân Đức cố xây dựng Marienburg là biểu tượng cho quyền hạn của họ trong tỉnh mà họ được nhận lãnh từ hoàng đế và giáo hoàng, thì giáo đoàn Templier của Pháp bị bôi nhọ đủ điều và bước lên dàn hỏa theo lệnh của Philippe le Bel. Vì thế cho nên, trong khi tinh thần hiệp sĩ Đức tiếp tục sống trên đất này, giữa những bức tường này, thì nước Pháp vẫn chưa chuộc tội hết cho vị vua lầm lỗi. Nhưng, theo lời ghi chép của Tiffauges, vị Chỉ huy trưởng không một lần nào nhắc nhở đến vị thần chôn dưới đất và đội lên vai mình cả cái thành lũy này.

Sau bài diễn từ, tất cả Thanh niên đứng lên hát bài thơ của K. Hofmann:

Hãy giương cao ngọn cờ đẫm máu

Cho ngọn lửa bùng lên tới trời và các vòm nhà xưa cổ vang dội dưới những giọng kim cùng cất lên. Tiếp theo, đạo quân có ba kẻ tân tòng tập họp ở sân đất xuôi để chuẩn bị buổi thức đêm trọng thể.

Công việc không phải nhẹ nhàng, vì phải thức chong đến khi mặt trời mọc, sắp hàng thành hình bán nguyệt mở về hướng đông. Khi vầng nhật ló lên sau dãy Nickelsberg, đoàn Thanh niên sẽ cất cao khúc hát đón mặt trời. Rồi người trưởng đạo nhắc nhở cho ba đạo sinh tuyên thệ tuyệt đối trung thành với Lãnh tụ bằng cách trở thành những tay Đoản Đao của người và khuyên chúng nó có thể rời hàng ngủ và bỏ đi nếu cảm thấy không đủ sức liều chết, cho Đức quốc xã mà không được hỏi han gì hết. Sau cùng là phần long trọng trao khí giới cho chúng nó trong tia nắng đầu ngày chói rạng.

Ể ĐẦM LẦY Nguyên tác: Les Rois des Aulnes ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 1997
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Michel Tournier

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.