Do cao lớn và khỏe khác thường, Tiffauges, đối với đồng đội, có thể tỏ ra kín đáo, ít thân mật, thờ ơ với những lo toan hàng ngày của bọn họ. Dễ có thể cho là cao ngạo, nhưng ở đây họ cho anh là khù khờ mà thôi, hoặc là, tốt hơn, cho anh như một con gấu tựu trung vô hại. Anh chẳng lấy làm điều, bởi khoảng cách khó vượt qua mà thiên hướng đặc biệt của anh tạo ra giữa họ và anh. Cuộc chiến tranh này, “chiến tranh kỳ cục” như tên gọi thuở ấy, bọn họ bị ném lộn mèo vào đó, nhìn nhau ngơ ngác dở cười dở khóc tùy theo lúc, đây là cuộc chiến bày ra cho anh, cho riêng anh, dù nó làm anh sợ và trên sức anh nhiều lắm. Và anh biết cuộc ba chìm bảy nổi này mới chỉ bắt đầu, còn nhiều tai họa khác nữa, nhiều địa chấn lịch sử khác nữa dành cho số phận anh. Thậm chí việc anh thuyên chuyển đến bộ phận phụ trách bồ câu của tiểu đoàn, đối với anh không phải là không nằm trong một đồ án tổng quát chạm đến anh và không khỏi chứa đựng một thiên hướng cao hơn còn đang phác thảo.
Số là anh đã nhanh chóng ngả theo ý thích của thiếu úy Bertold, và kể từ nay chim bồ câu làm thành một phần ngọt ngào ấm cúng của đời anh. Những chuyến du ngoạn mở rộng của anh qua vùng làng mạc Alsace đầu tiên là những chuyến tách ra khỏi sự chung đụng đơn điệu với tiểu đội, nay thoắt trở thành những cuộc săn lùng say sưa và lớp bồ câu không còn là những cái cớ giải thoát trời xui đất khiến để trở thành những sinh thể bé bỏng đáng yêu đáng cầu, mỗi sinh thể lại mang một cá tính khó lòng thay thế. Và anh bồi hồi tiếp nhận mỗi buổi sáng mai những lá thư của chủ bồ câu sau khi nhận lệnh trưng thu thông báo chuồng nuôi cho quyền lực quân sự và mỗi khi, cuối cuộc hành trình, bước đến một nông trại lẻ tẻ hoặc một khu vực hẻo lánh sau lớp tường cổ, cổ họng anh thắt lại vì xúc động, trong khi bàn tay hộ pháp của anh khép chặt lại trên những hình hài bẻ bỏng phập phồng mà anh biết mình sẽ bắt đi những con nào tùy thích. Vả chăng anh chắc mẩm rằng lắm chủ bồ câu chẳng hoàn thành nhiệm vụ yêu nước của mình đâu, họ làm ngơ, và lờ đi cái việc trả lời cho chỉ huy Ernstein không phải vì sơ thất mà vì khư khư bịn rịn chim của mình. Và chính những con này mới là những con anh nóng lòng bắt gặp, sờ mó và tranh đoạt, bởi lẽ nếu chúng được cưng yêu hơn cả tức là đáng có hơn cả.
Càng ngày càng xem nhẹ những biếu tặng bất thần đến với mình, anh đâm ra thường xuyên điều tra sát cánh với đám người buôn bán và cảnh binh để tìm manh mối chuông nuôi kín có nhiều món đặc sắc mà lại thoát vòng tham muốn của mình. Anh cũng tạo thói quen luôn luôn liếc mắt nhìn lên trời để chợp trộm một cánh chim lẻ bay ngang rồi nhờ đó ra công lần đến nơi nuôi bí mật.
Nhờ thế mà một buổi sáng đẹp trời tháng tư – chính xác là ngày 19, một ngày ghi khắc vào trí nhớ anh – giữa khi anh men theo con sông III cho đến nơi cuối thị trấn Benfeld, anh có cái cảm giác mơ hồ rằng có một loáng bạc vừa vạch nền trời trên đầu mình, hướng về một rặng thông lơ thơ. Anh tiến lại gần và định thần xem xét từng cây một, nhờ một chiếc ống nhòm không bao giờ rời anh. Anh chẳng cần tìm kiếm lâu lắc, vì chòm lông bạc của con chim nổi bật hẳn giữa mớ cành sẫm. Con vật tuyệt đẹp, lông phủ phê, đầu thật nhỏ kiêu hãnh nhô lên trên chiếc điều tròn lẳn màu tuyết như đầu mũi tàu. Nó mổ lơ đãng vào trái thông còn lại từ năm qua, lửng thửng, như để vẽ vời cho giây phút dừng chân. Kế đó nó lấy đà, và thẳng cánh lao vút lướt trên chòm nhà. “Nếu nó đang kỳ thiên di, ta sẽ chẳng bao giờ gặp lại nó”, Tiffauges thầm nghĩ, tim nhói lên.
Anh quay bước trở lại Benfeld, và hỏi han ông thú y, có để tắm lắc ngoài cửa. Không, chẳng có chuồng bồ câu nào đáng gọi là chuồng ở quanh đây. Tuy nhiên, ông chỉ cho anh ngôi nhà của một bà góa tên Unruh đang nuôi dăm ba con khá kỳ quặc trong một cái lồng chim không ra gì.
Bà Unruh vốn không tuân thủ lệnh trưng thu nên chỉ tiếp đón Tiffauges một cách ỡm ờ nghi ngại. Tất nhiên bà có mấy con bồ câu, nhưng toàn là những mẫu chim thuộc giống lạ và tinh nòi do người chồng tuyển chọn cẩn thận. Giáo sư Unruh, nhà bác học về di truyền, trước đây có nuôi thử nghiệm để quan sát từ các thế hệ liên tục, một số tính chất huyết thống lưu truyền hoặc mất đi. Kế đó ông bị vướng vào cuộc, trở thành người sưu tập quan tâm đến những mẫu đặc biệt vì đẹp đẽ, vì tinh ròng hoặc luôn cả tính chất kỳ quặc, và khó lòng phân biệt trong chuồng do ông để lại sau khi chết đi mới đây thôi, phân biệt đâu là tinh khoa học và đâu là thú chơi của mình. Bà vợ góa, thờ ở đối với cả hai mặt, tiếp tục bảo dưỡng những con bồ câu cuối cùng xem như di sản sống của chồng mình.
Bà nói huyên thuyên, lạnh lùng, không lộ vẻ gì là sốt sắng mời Tiffauges vào và dẫn anh đến chuồng, và anh phải xăm xăm bước tới để cho bà chịu dẫn đường cho anh.
Đây là ngôi nhà giàu có, nó lẽ ra sẽ tầm thường giá như các bức tường không đầy ắp những con chim câu ở trong tình trạng thiên nhiên đủ kích cỡ và màu sắc. Có những chim gầm ghì màu xám tro, chim câu cổ nhỏ có yếm nâu, chim câu vùng Lando, chim câu hoang, chim công nhún nhảy, chim én cẳng xù, và luôn cả chim cổ đen giống Trung Quốc và một con chim câu gõ mõ. Mỗi con chim đậu im lìm trong vị thế được sắp đặt do óc tưởng tượng của người nuôi chim, và mỗi nhánh cây tựa có kèm theo một phiếu gia hệ và di truyền. Hai người đi qua hai gian phòng lớn với các bức tường phủ đầy những cánh chim dang rộng và lô nhô những mỏ chim chĩa nhọn, tất cả tạo tương phản với cách sắp đặt gọn ghẽ và giàu có của bao nhiêu món đồ mộc, đèn chùm và màn của – hiển nhiên là vũ trụ, vũ trụ của giáo sư và vũ trụ của bà vợ, cả hai suốt một đời gần cạnh nhau nhưng vẫn không hòa lẫn, như nước với dầu lớp trên lớp dưới trong cùng một cốc – và hai người ra tới một hàng hiên mở ra một khoảng vườn nhỏ, nhỏ đến nỗi nếu ta chụp lên vườn bằng một giàn dây đan hình chóp thì có thể biến toàn bộ khoảnh vườn thành chuồng. Tại đây trên một cái cây nhỏ, khẳng khiu, có những que nhỏ bằng tre, trên đó là những tấm ván đưa vào một hàng lỗ nhỏ và trên đó đang lách chách những hình thể sống động lại kỳ, vì ta nhận ra trong đám ấy nào là giống nhào lộn, con chúc đầu, loại bồ câu mọi đen, con đưa thư, bồ câu thầy dòng, và cả đến hai con bồ câu bi nghễu nghện trên đôi chân to tướng và đầu rụt vào bọc điều trương phình ra quá độ.
Tiffauges cảm thấy thế nào ấy khi quan sát bộ sưu tập, phần nào có vẻ của lạ phương xa này, phần nào có vẻ dị tật, kịp đến lúc anh để ý thấy, kề sát một ô cửa, một đám lông màu hung như cái trứng to, không lộ chân, không lộ đầu, rõ là một hình bầu dục. Anh đến gần tò mò, và đưa tay ra. Lập tức cái hình trứng biến hình và hiện nguyên hình hai con bồ câu đẹp mã và lông màu lá nâu úa, giống nhau như hệt. Chúng áp chặt lại với nhau, rụt đầu rụt chân, làm ra hình dạng một hòn bông hình trứng đã khiến cho Tiffauges chú ý. Anh cầm cả hai lên và ngắm nghía sành sỏi, tìm không ra một chi tiết nào phân biệt được con này với con kia. Khi anh ngước mắt lên, anh bỗng bắt gặp một nụ cười thật hiền hòa làm sáng khuôn mặt nghiêm nghị của bà Unruh. Bà nói:
- Nhìn cách ông mân mê, tôi biết ông là người sành. Phải bao nhiêu năm thân mật với chúng nó mới được như vậy. Và có một thiên hướng thật sự nữa. Chồng tôi không hơn ông. Còn tôi cố hết sức giúp chồng thí nghiệm, ông ấy cũng ngã lòng dạy tôi cái nghệ thuật đáng yêu, ẩn kín ấy…
Tiffauges, mỗi con trong mỗi tay, áp chúng lại rồi tách xa ra giống như hai mảnh của cùng một vật đơn sơ nhịp nhàng bị vỡ đôi vì bị chạm. Mỗi khi cặp lông nâu tiếp chạm nhau, chúng nhập lại thành quả trứng theo một phản ứng máy móc cài chúng lại với nhau. Thậm chí có thể bảo rằng có một từ trường hút chúng lại và dán chúng vào nhau. Bà Unruh dẫn giải:
- Đôi chim có vẻ hoàn toàn bình thường thôi, nhưng kỳ thật là những mẫu nghịch đời nhất trong bộ sưu tập của ông ấy. Chúng nó là cặp sinh đôi nhân tạo. Chồng tôi tò mò làm làm lại công cuộc thí nghiệm của thầy Morita người Nhật. Ông cho vào trong trứng, và tiếp chạm với bào thai, những mẩu mô của ếch hoặc chuột, tạo ra sự kích động cho tế bào khiến cho tế bào phát sinh nẩy nở ra hai hoặc ba đơn vị riêng rời, có khi ra những quái thai lưỡng thở. Cho nên chúng tôi đã từng có những con chim hai đầu. Chúng không sống được.
Trước khi ra đi với đôi chim song sinh, Tiffauges chất vấn bà Unruh về con chim lông bạc mà mình đang truy tìm. Lập tức bà lấy lại vẻ nghi ngại đầu tiên, tránh né bằng những lối nói lấp lửng không chạm đến con chim quý hiếm, mà vẫn không hoàn toàn phủ nhận. Tiffauges ra tới cổng và sửa soạn bỏ đi hẳn thì bỗng đâu một tiếng sạt sạt khiến anh quay nhìn một cây mộc qua khẳng khiu mọc cằn cỗi sát tường nhà. Con bồ câu lông bạc vừa hạ cánh, và nó ưỡn ngực rù rù nhẹ nhàng làm dáng. Tưởng chừng hắn biết rõ mình đẹp với chiếc đầu dài và mảnh có đôi mắt to sắc tím, đầu đội lông trắng – bồ câu “mang dấu” theo biệt ngữ của dân chơi bồ câu – với thân hình thuôn ẩn dấu mãnh lực thể chất qua đôi cánh u nần lên, và nhất là với lớp lông có ánh kim khí, láng mướt gần với đá hơn là sinh vật.
Tiffauges đưa tay ra với nó – chiếc bàn tay vốn không làm kinh sợ cho bồ câu, anh đã để ý thấy như thế ngay từ đầu và chẳng lấy thế làm ngạc nhiên – và anh nắm lấy chim, chim lập tức xòe lên cổ tay của anh mười hai chiếc lông đuôi xòe hình quạt, dấu hiệu phục tòng, lối chào mừng của chim với người nuôi chim. Chính lúc này anh mới để ý khuôn mặt trắng bệch và đôi môi run rẩy của bà Unruh. Sau cùng, bà mấp máy một cách khó nhọc:
- Ông ạ, tôi không có cách gì ngăn ông đem luôn con chim ấy. Nhưng ông hiểu cho rằng chuồng bồ câu quân sự của ông chỉ thêm một con chim mà tôi lại mất cái quý nhất trên đời của tôi kể từ khi giáo sư qua đời. Con chim ấy chồng tôi muốn biến thành con chim câu biểu tượng cho tình yêu và đời sống vợ chồng của chúng tôi. Nó là một cái gì hơn hẳn một con chim đơn thuần, nó là…
Bà ngưng bặt khi nhìn thấy Tiffauges một mực cởi chiếc dây buộc nắp chiếc giỏ hành lý mang lủng lẳng trên vai. Anh chuồi con chim lông bạc vào đó, và nhìn thẳng vào mặt bà. Lúc bấy giờ bà hiểu rằng nếu con chim bồ câu ánh bạc là một biểu tượng cho mình, thì đối với Tiffauges nó còn hơn thế nữa, và bà có van nài gì cũng vô hiệu vì một mệnh lệnh tranh đoạt là cái không thể lay chuyển hơn cả và ít nhân tính hơn cả trong con người anh.
—★—
Lũ chim câu ngày càng xâm nhập đời anh, Tiffauges càng lún sâu vào một tình trạng đơn độc dữ dội. Suốt đời anh chưa hề mau miệng, nay anh trở thành hoàn toàn lầm lì. Anh luôn luôn đứng bên lề những chuyện hàn huyên và những cuộc chơi của đồng đội, nhiều ngày trọn anh mất tăm nhưng chẳng ai lấy làm thắc mắc. Tuy nhiên việc tuyển chọn và săn sóc bồ câu lẽ ra giúp anh rảnh rỗi hơn bất cứ công tác nào khác giá như anh biết lợi dụng. Nhưng bao nhiêu giờ khắc được tự do, anh đều lên đường, thúc giục bởi cái khoái cảm được con mồi vượt ước mơ của mình, hoặc giả, may mắn hơn, giúi mình vào trong chuồng, giữa không khí êm ả đầy lông tơ và tiếng rù rì khiến anh quên mất thế giới bên ngoài để từ đó khi ra đến bên ngoài người anh phủ đầy phân và lông vũ cùng với một vẻ hạnh phúc trên gương mặt. Sự tận tình với chim của anh được đền bù xứng đáng vào cuối tháng tư, khi anh nhặt được trong bãi bùn trên đường đi một chú bồ câu con chết dở vì đói và lạnh, một mẩu chim quá non tháng và chắc hẳn từ chuồng rơi xuống. Anh nhét con chim nhầy nhụa đất ướt vào giữa lớp áo và da mình, và rắp tâm cứu vớt lấy nó hết lòng, không thối chí.
Anh đã dọn cho nó một cái tổ trong một ô tách riêng và khép kín, một ngày nhiều bận anh đổ công ra như nuôi dưỡng nó. Công việc không đơn giản, là vì nếu chú chim háu ăn đủ mọi thứ thả vào chiếc mỏ lớn há hốc ra với bất cứ ai, thì nó lại ăn một cách bất kể và hơn một lần, trong buổi đầu, Tiffauges phải săn sóc bằng xun – fat xút khi nó bị táo bón, kế đó cho nó ăn tuyền gạo khi nó bị tiêu chảy. Phòng chừng một cách mơ hồ nhưng không thể sai trật vào đâu được, cuối cùng anh hiểu rằng không thể cho con vật ăn bất cứ cái gì nếu không nhai trước hồi lâu, tẩm nước miếng và nhồi bằng lưỡi, như thể là mem mớm vậy. Cứ thế ngày đêm, không hề suy suyển, bao nhiêu chén đậu răng ngựa và đậu răng ngựa và đậu tằm – sau đó là những viên thịt băm – anh thâu tất cả thành một miếng nhồi thật nhuyễn và đúng nhiệt độ của sinh khí để chuyển từ môi mình sang mỏ con chim con đang há hốc chờ anh.
Con chim lớn lên và nó có được chỗ đứng trong chuồng. Nhưng nó vẫn khẳng khiu và đám lông đen không hề láng lẫy như đồng loại. Thế mà Tiffauges yêu nó một cách riêng biệt, anh ngỡ như đọc được trong mắt nó cái lóe sáng thông minh đã lấy lại được thần sắc sâu đậm thêm vì kinh nghiệm sớm sủa về cảnh sống côi cút và đau khổ của nó.
—★—
Một trong những lo toan chính yếu của thiếu tá Granet là tính nóng của đại tá Puyjalon mà không phải bao giờ cũng thoa dịu được. Kỳ thật, Granet có một bí mật trong đời ông mãi về cuối về sau mới hé lộ, và do một con mắt nào nào tinh hơn cả. Lúc đầu ai nấy tự hỏi vì sao, thay vì một chỗ ở nào khác đầy đủ tiện nghi hơn và bề thế hơn, ông lại chọn một chiếc nhà dù bằng gạch, khiêm tốn nằm ở nơi vừa ra khỏi thị trấn. Kế đó người ta quên khuấy đi mất cái bí ẩn nhỏ nhặt vẫn không có lời giải đáp ấy. Nay lời giải đáp nó nằm ở đàng sau ngôi nhà, dưới hình dạng một khu đất hình chữ nhật khoảng một ngàn thước vuông mà lúc đầu thiếu tá cần cù tự tay vỡ hoang trước khi trồng cây gieo giống. Granet mê làm vườn, đặc biệt mê các thứ rau, và những giờ khắc diễm phúc hơn cả là những giờ cuối ngày, chiếc cuốc chét hay câu cuốc dãy cỏ trong tay.
Trong khi đó, về phía ông, đại đá Puyjalon chỉ toàn mơ chuyện di chuyển một số lớn những đám công thợ. Ông chuyên nói đến vấn đề “chơi trò đổi cột trong các đơn vị”, gặp ai ông cũng bảo ông ghê sợ những “tình huống ổn định”, và trong các nhà ăn của khu vực người ta tấm tắc lặp lại câu ông nói với một đại úy trước khi phái ông này đi công tác ở Strasbourg: “Tôi muốn tọa độ của trại chỉ huy bao giờ cũng mang những thông số bất định”. Bao nhiêu dự án, bao nhiêu ý nghĩ bâng quơ của Puyjalon được Granet giữ ém nhẹm, ông này sợ nhất là chuyển đổi khu vực trước khi thu hoạch cà rốt mới và đậu Hà Lan.
Các biến cố dồn dập kể từ ngày 10 tháng 5 làm cho sự đối nghịch hóa ra gay gắt. Puyjalon đinh ninh rằng đạo quân phía đông tấp sau đường hào Maginot là vô ích và sắp sửa được gọi chuyển quân tiếp cứu tướng Georges đang gặp nạn ở phía bắc và đang sẵn sàng cho một cuộc diễu động tức thì. Granet, trái lại, cho mình có lý do tin rằng quân Đức của Von Leeb sẽ toan tính xuyên thủng phòng tuyến với các đơn vị hiện đàn đóng bên kia sông Rhin. Quân đội Bỉ đầu hàng ngày 28 tháng 5 kéo theo những tan rã liên tiếp đưa dẫn quân đội Đức tiến vào Paris, sự kiện này báo trước là phía nam sẽ bị bao vây và khiến cho đại tá sợ rằng bộ tham mưu của Nancy, càng ngày càng ít thông tin, dễ đường rút lui không buồn báo động cho Erstein. Ông quyết định làm cho ra lẽ và thuê một chiếc xe hơi nhỏ đi dò là một chuyến ngắn. Ông đem theo gã tài xế thân tín là Ernest cùng với hai sĩ quan của bộ tư lệnh. Vào giờ phút chót, sợ mất liên lạc với Erstein, ông quyết định bố trí thêm liên lạc bằng chim để phòng ngừa. Thế cho nên, Tiffauges mang theo một giỏ bốn con chim ngồi sau xe, sáng hôm 17 tháng 6. Anh đã chọn lựa, theo tình cảm, vì linh cảm sẽ không còn gặp lại chuồng bồ câu ở Erstein, con đen nhỏ, con lông bạc lớn xác và hai con sinh đôi lông màu lá úa.
Mặt trời sáng rạng trên bầu trời không mây, các cánh đồng lốm đốm hoa, các cây đỏ tía với chòm lá lao xao, vạn vật như muốn bao bọc chung quanh cơn đại nạn của nước Pháp bằng một cảnh trí tưng bừng, đằm thắm. Cong người trên ghế xe, chiếc giỏ đặt trên đùi, Tiffauges chuồi bàn tay trái vào giỏ ve vuốt chim mà anh nhận rõ từng con chẳng cần nhìn, anh tự hỏi, bây giờ đúng một năm, tính từng ngày, sau cuộc thảm sát Weidmann ở Versailles, rồi đây cái hình phạt linh cảm và đáng đời sẽ đến với lũ dân yếu hèn và ác độc như thế nào đây. Câu trả lời đã rõ tại thành phố Epinal vì phải đi vòng xuống đây, trong khi con đường trực chỉ đến Nancy, vì những lý do nào chẳng hiểu, bị cấm cản do một tốp cảnh binh không chờn lòng trước quân hàm đại tá. Cái thành phố nhỏ vùng Vosges này ngập chìm trong một làn sóng người đang tuôn chảy hỗn độn gồm có người đi bộ, ngựa, xe hai bánh và bốn bánh, đang cố vẻ chìm vào một cơn ác mộng của ngày tận thế. Các trạm bơm xăng ráo hoảnh, các cửa tiệm lương thực trống vốc, mọi nhà buôn đã quyết định đóng cửa, và không đào đâu ra nổi một thứ gì hết. Cả đoàn người hào hển, càu nhàu từ Nancy sắp tới đây vì hôm qua người ta thông báo quân Đức sắp tới Nancy và đoàn người thẳng đường đến Plombières trong một phản xạ chạy trốn không cần lý luận. Một chiếc xe hai bánh có ghế dài dừng lại trước một cửa tiệm đóng cửa và nhiều người, sau khi gõ chán trên các liếp sắt và gọi chán để tìm nước uống, đang bắt tay vào việc phá cửa bằng cách dùng những chiếc ghế nhỏ vừa nện vừa húc vào cửa, Puyjalon dợm can thiệp, nhưng lập tức đám đông phân bua với ông, ông tháo lui và ra lệnh cho tài xế trực chỉ phía bắc Bắc, dọc theo sông Moselle. Tiffauges vừa kinh sợ vừa hả dạ, nhưng trong tai anh vẫn cứ còn lời trêu chọc của một tên vô lại thò cái đầu bù xù ngặt nghẽo của nó ra cửa xe, nhìn vào giỏ chim và tru tréo. “Thế nào, chim du lịch, chúng nó đang du lịch đấy à”
Chín cây số đi mất hai tiếng, đi ngược dòng đoàn người trốn chạy tạp loai, nhung nhúc. Đến Thaon, hoàn toàn tắc tị. Một người đàn bà tru tréo lăn ra đất vật lộn một mình, và người ta xúm quanh làm nghẽn lối. Người ta rỉ tai nhau rằng bà ta uống nước sông Moselle bị Đệ Ngũ Quân bỏ thuốc độc, có kẻ bảo bị trúng gió, một bác nông dân ria quặp quả quyết rằng bà ta vờ vĩnh và phải sửa trị bà đi thôi. Cuối cùng bà này người lên làm tung chiếc váy và giữa hai đùi dạng ra, người ta thấy nhú ra cái đầu của một đứa bé chết.
Viên đại tá hết chịu nổi ra lệnh quảy xe sang phải và qua sông Moselle để tránh mớ người dính đùm với nhau này. Chiếc cầu vô sự, như vậy rõ ràng chứng tỏ bọn Đức còn xa, theo lời của ông. Sau khi qua khỏi đám người khủng khiếp ở quốc lộ 57, con đường tỉnh lộ nhỏ bé vòng vèo giữa bao nhiêu cánh đồng lúa mì và lúa đại mạch mới lớn gây cho những người đi xa một không khí tĩnh lặng và tràn đầy hạnh phúc của làng quê. Xe băng nhanh qua ngôi làng Girmont đang ngà ngật trong không khí nằng nặng của buổi giữa trưa, kế đó là mấy cánh rừng im mát và đầy tiếng chim hót. Lên đến một con đường dốc nhỏ, xe đổ vào một cụm nhà lúm xúm quanh một lữ điếm bề thế mang bảng hiệu Vòi nước bạn và, quả nhiên, sát cạnh một chiếc cổng dành cho xe đi vào, một vòi nước bằng đồng phun nước rộn rã vào một chiếc vạc bằng đá hoa cương hình trái tim. Đại tá truyền lệnh đỗ xe lại và một mực lao vào lữ điếm. Ông quay trở lại gần như liền sau đó kèm theo một gã phốp pháp mặt mày nhợt nhạt hẳn nhiên là chủ quán và gã đang vung tay diễn tả sự bất lực và vô khả năng phục vụ. Đại tá giải thích cho bọn người đi cùng:
- Quán đóng cửa. Có đồ uống nhưng chả có gì ăn. Đề nghị Tiffauges với Ernest đi vào nhà dân gặp cái gì mua cái ấy, còn tôi thử đi điện thoại về Erstein.
Khi Tiffauges về lại lữ quán bốn mươi lăm phút sau, đã gõ khắp các cửa của ngôi làng mang tên Zincourt, anh mang về một hộp đậu Hà Lan, một kilô bánh mì và hai trăm rưỡi gam bơ mà anh đã phải trả tiền gấp ba lần giá trị thực thụ. Đại tá ngồi vào bàn trong một căn phòng lớn với mấy viên sĩ quan trước mặt nhiều chai rượu mặt mày hớn hở. Ông reo lên:
- Đậu Hà Lan! Cậu khá lắm, Tiffauges! Chim bồ câu mà gặp đậu thì phải biết!
Lúc đầu Tiffauges không hiểu, tiếp đó anh linh cảm điều chẳng lành, bước xuống bếp. Chiếc giỏ nằm trên bàn chỉ còn mỗi một con bồ câu.
Những chiếc lông vũ màu hung và màu bạc khắp cùng sàn nhà, và trong lò, trên một ngọn lửa cui hừng hực, ba tấm thân bé bỏng trùi lùi, đang bị xiên, loang loáng mỡ, đang quay đều thảm thương. Ernest báo:
- Lệnh của đại tá. Đại tá muốn chừa lại một con, con nào cũng được. Biết đầu chừng, ông bảo vậy. Tôi chừa con đen, con gầy nhất trong bốn con.
Và vì Tiffauges há hốc mồm không nói được một lời, y nói tiếp:
- Không sao, năm người ba con bồ câu, chẳng thấm vào đâu!
Tiffauges im lặng đặt các thứ lương thực xuống, tiếp theo, sau khi quẳng ánh mắt cuối cùng vào chiếc giỏ có con bồ câu đen thu mình khiếp hãi, anh trở lên gian phòng chung và tìm chỗ ngồi cách xa các viên sĩ quan đang vừa uống vừa la lối. Anh nghĩ thầm mà giận cành hông: “Năm người ba con ư? Nhất định không phải như vậy, ít nhất có một thực khách không động tới chim là anh, là Tiffauges, kẻ đã trìu mến nuôi dưỡng chim để làm thành những kẻ đưa tin trung thành, những kẻ mang tín hiệu sống động phập phồng” Kế đó anh nảy ra ý nghĩ. Anh há chẳng phải là kẻ duy nhất ngược lại cần ăn mấy tấm thân bé bỏng bị sát hại này sao? Trước hết anh đói chết được và trong cảm giác nhức nhối này anh cảm thấy có một sự dấn thân, gần như một mệnh lệnh phải lao vào bữa tiệc đơn độc và dư dật này. Điều bỉ ổi, là cái mặt đê tiện ấy bên cạnh mấy đứa khật khừ chếnh choáng. Bù lại động tác lặng lẽ và sùng mộ là nuốt vào mình thi thể ba tên binh sĩ tí hon bị chặt đầu sẽ mang một tính chất gần như sùng đạo, và dù thế nào sẽ là mối cảm kích đáng quý hơn cả đối với chúng nó. Tiffauges cảm thấy dâng dậy trong mình một mối căm hờn dữ dội đối với tên Puyjalon lớn lối mà hai tên sĩ quan bộ tư lệnh nhũn nhặn và lép vế lắng nghe. Còn thằng Ernest, dĩ nhiên chính hắn muốn tránh xông pha vào làng đi tìm thức ăn nên mới ngỏ lời với đại tá hy sinh mấy con bồ câu. Một lần nữa Tiffauges lại bắt gặp mình đơn độc, đối diện với bọn người thô lỗ đang khinh bỉ anh vì anh vụng về, lầm lì, nhưng kỳ thật anh là kẻ tốt nhất, khỏe nhất, kẻ duy nhất được tuyển trạch và vô tội, và nhờ định mệnh, anh sẽ thắng cả bọn đê tiện lướt khướt này.
Những suy nghĩ ủ ê của anh ngang đến đây thì bỗng cửa lữ điếm vụt mở ra vừa tàn bạo vừa lặng lẽ trong ánh nắng tràn ập vào. Gã chủ điếm lao đến chiếc bàn của đại tá.
- Báo động! Bọn Đức! Gã ghìm giọng nói ra mấy tiếng ấy, nhưng rất mạnh giống như thể gã đã dùng hết sức để thét lớn.
Ba người đàn ông bật dậy và nai nịt. Ernest thò đầu hớt hải qua khe cửa nhà bếp. Gã chủ điếm nói rõ hơn:
- Bọn nó đến từ Hadigni đến đây bằng xe gắn máy, trốn đi! Nhưng đừng đi xe, chúng nó thấy bắn theo thì chết. Các ông hãy chạy băng đồng và tìm cách lọt vào rừng Fiefs. Tôi chỉ đường cho.
Và gã lại lọt ra ngoài trong ánh nắng chứa chan của buổi chiều, theo sau là Puyjalon, Ernest và hai sĩ quan.
Còn lại một mình Tiffauges chầm chậm đứng lên, anh mỉm cười và hít vào một hơi dài. Mặt đất vẫn chưa hết chấn động kể từ bãi nước miếng trong Bộ Nội vụ nó sửa soạn tác động thêm nữa. Anh nhớ lại câu nói lừng lẫy của Puyjalon. “Tôi ghê sợ hoàn cảnh ổn định!” Cầu được ước thấy, đại tá nhé! Anh băng qua gian phòng tối ẩm và lạnh lẽo và đi xuống bếp. Trong chiếc giỏ, vùng vẫy chiếc bóng đen của con bồ câu còn lại. Tiffauges kẹp giỏ vào trong tay. Anh sửa soạn bước ra thì sực nhớ lại và đặt giỏ xuống bàn. Ba con chim bồ câu chín vàng xếp hàng ngoan ngoãn trên cái xiên. Anh trải ra trên lò một tờ giấy của hàng thịt và cho tất cả và đó và nhét hết vào trong xách con. Anh bước ra cửa, kẹp chiếc giỏ dưới cánh tay, bỗng nhiên đụng đầu gã chủ điếm. Gã này la toáng lên:
- Vẫn còn ở đấy à! Bọn Đức vào tới làng rồi! Tôi chẳng muốn chúng nó bắt gặp lính Pháp trong nhà tôi. Anh đi theo mấy người ấy còn kịp. Tôi dẫn đường cho.
Tiffauges dửng dưng đi theo. Hai người băng qua đường vắng. Mặt trời tưởng chừng như đã quét sạch người trong làng. Chỉ còn vòi nước hình trái tim rả rích bất tận. Hai người lòn lõi giữa các ngôi nhà, ở giữa đám nhà là một con đường nhỏ sỏi đá, rồi lọt vào một vườn rau. Tiffauges sực nhớ tới Granet. Đối với ông này, ít ra chiến tranh có một ý nghĩa, cụ thể, không chối cãi được, nhưng sự bại trận ở đây đầy ông xuống số phận tất cả bọn người khác. Còn đối với anh, Tiffauges ….
Hai người đi đến đầu một con đường mòn vào sâu trong rừng. Gã chủ điếm ra dấu cho anh nhanh chân vào con đường ấy, và gã canh chừng anh trong chốc lát trước khi quay gót. Tiffauges nghĩ thầm: “Tên này sắp sửa dọn rượu ngâm mát ra đón tiếp bọn Đức, đối với hắn, chính bại trận mới có ý nghĩa”.
Anh bước đi hai ba cây số theo hướng có vẻ đối với anh là hướng nam, băng qua một con đường nhựa, qua một con sông nhỏ và thấy liền một hàng cây chắc hẳn là rừng Fiefs đây. Chính nơi này anh bắt gặp Ernest đột hiện ra từ một cái hố chắc hẳn là nơi hắn đứng canh chừng. Đại tá và đội sĩ quan núp gần đó trong một túp lều làm than để chờ tin tức, Ernest và Tiffauges nhập bọn. Puyjalon hài lòng thaayss Tiffauges không bỏ rơi chiếc giỏ còn một con chim trong đó. Ông bảo:
- Được đấy, cậu, trong những hoàn cảnh gay go nhất cậu vẫn không bỏ rơi vũ khí, dù là loại khiêm tốn. Nếu có thưởng, tôi sẽ nghĩ đến cậu. Mà này, ta vẫn còn liên lạc được với Erstein, tôi đọc cậu ghi một tờ thư gửi đi, phòng chúng ta bị bắt.
Tiffauges ngoan ngoãn rút trong giỏ ra cây bút mực và cuốn sổ tay có giấy mỏng đặc biệt dùng cho thư chim. Và trong khi đại tá đi đi lại lại trong lều, cầm chiếc que nhỏ đập vào ủng da, đọc lên một địa chỉ tràn đầy cảm khái gửi cho mọi binh sĩ trong khu vực (“Các cậu ạ, đại tá của các cậu rơi vào tay địch sau một trận chống trả kịch liệt. Các cậu từng sống dưới quyền chỉ huy của tôi, các cậu đã chứng tỏ khá đầy đủ rằng các cậu dũng cảm khiến tôi tin tưởng giữa cảnh loạn lạc đang dày xéo đất nước…”), Tiffauges viết một tờ thư hoàn toàn khác để gửi cho thiếu úy Bertold: “Thưa thiếu úy. Chúng tôi bị bắt làm tù binh. Con trắng và hai con màu hung đã bị đại tá giết. Con đen phải đi đường xa rất nóng nực. Nó cần uống nước, nhưng chỉ uống nước hâm hẩm, và vì nó hơi yếu, thiếu úy nên cho nó hai viên dầu cá mỗi ngày. Con mập quê lậu vẫn đẻ trứng trắng dẻ, có nghĩa chỉ thích giao du với mấy con cái. Sáu con màu xanh Vendôme phải được xổ súc ruột. Xin cho mỗi con uống hai viên dầu đu đủ bụng trống. Tôi chắc con vẩy trắng bị sưng ở cánh trái. Tôi có thấy ở nách một chỗ u nhẹ vàng vàng. Thiếu úy thử phết thuốc sát trùng cho nó…” Cứ thế dài hai trang đặc chữ với tất cả chăm chú yêu thương của Tiffauges tuôn trào ra cho đám tí hon vận chuyển tín hiệu. Đại tá đọc xong đã ngót một phút trong khi Tiffauges còn hí hoáy say sưa. Cuối cùng anh ký tên và vội vã cuộn tròn lại trước khi đại tá mở lời yêu cầu đọc lại. Con chim đen hết cóng chân và sốt ruột cất cánh ngay khi nó cảm thấy chân trái có nặng vì chiếc ống. Nhưng Tiffauges cho nó vào lại trong giỏ.
Mặt trời sửa soạn khuất thì cả năm người bị bắt làm tù binh trong một bãi trống của khu rừng Piefs chỗ vào làng Girmont. Một toán tuần tiễu, dẫn đầu là một Thượng sĩ, vây họ lại. Nghe hiệu lệnh “Bỏ vũ khí xuống!”, ba chiếc súng ngắn rơi nhẹ xuống nền rêu. Tiffaudes mở cửa giỏ, len lén lấy con đen ra và ẩy nhẹ nó về phía mấy khẩu súng ngắn. Con chim đập cánh rồi sà xuống đất. Con mắt tròn và nhỏ của nó nghiêng nhìn một chiếc báng súng, đôi chân khô lướt trên mặt theo ánh đen của nòng súng. Rồi hắn rút người lại và lấy đà bay ào vượt qua đầu bọn Đức.
Tiffauges cúi xuống và đặt chiếc giỏ không xuống chân. Anh sửa soạn đứng thẳng người dậy thì nhận ngay một chiếc ủng đá vụt vào mông mình. Anh đay ran luôn cả cột sống. Thấy anh đưa hai tay nhăn nhó đỡ vào hai mạng sườn, đại tá đỡ giúp anh đứng thẳng. Ông bảo:
- Khá lắm, cậu ạ. Cậu chơi được chúng nó! Chậm nhất là ngày mai thông điệp của tôi tới tay binh sĩ Erstein. Cậu đau phải không? Tôi sẽ đề nghị cho cậu được huân chương thương binh.
—★—
Ngay sáng hôm sau, Tiffauges bị cách ly xa ba người sĩ quan và anh lọt vào một chiếc sân ở xưởng máy Strasbourg cùng với vài trăm bạn tù. Anh quen biết ít nhất là một người, đó là tài xế Ernest nhưng anh ít buồn chơi với bất cứ ai, với Ernest thì lại càng không, là kẻ sát hại chim câu, với kẻ khác cũng không. Đêm đầu tiên, anh một mình ăn một con. Anh tin đó là con lông bạc. Có thể là do trọng lượng của chim, nhưng cũng là do một mùi vị như thế nào đó không phải không gần gũi với mùi quen thuộc của con chim khi còn sống. Hai con chim rán kia cho phép anh không những đỡ cơn đói lòng vốn hành hạ chúng bạn mà còn giúp anh dinh dưỡng lòng mình bằng cách ngấm ngầm tưởng tới những sinh vật duy nhất mà anh yêu thương từ sáu tháng nay. Bọn tù vì mất gần sạch các tin tức nên bám víu vào các tin đồn phi phỏng hơn cả. Hữu chiến đã ký kết giữa nước Pháp và nước Đức, bọn họ không dè mình sắp được phóng thích. Người ta chỉ còn chờ đợi các phương tiện vận chuyển được tái lập và đám người dân chính chạy giặc trở về quê quán. Tiffauges không nghĩ đến ảo tưởng ấy, chẳng phải vì sáng suốt hơn người mà vì anh biết rằng chân lý của mình nằm ở phương Đông, còn chuyện trở lại Paris với hãng sửa xe Ballom là một điều hài hước không quan niệm nổi. Định mệnh riêng của anh đã rõ nét từ bao giờ nên không thể nào mơ mòng chạy vạy. Thế nên, hôm 24-6 người phóng thích từng đám sáu chục mạng đi về hướng cầu tàu bắc nổi trên dòng sông Rhin thay cho chiếc cầu Kehl, anh cảm thấy dậy dàng một nỗi vui sướng mãnh liệt và thầm lặng hào nhịp với hành động quan trọng mà anh đang hình thành. Trong đám người đồng hành, có kẻ biết giấc mộng giải phóng nay mai đã tiêu tan nên lầm lì tuyệt vọng, kẻ khác thì tiếp tục nuôi mộng hão huyền mà họ truyền miệng từ tốp này sang tốp khác như những thứ bạc giả: được chuyển qua nước Đức thu hoạch mùa màng, sau đó được trả về nhà, hoặc được đưa đến một cảng sông tạm thời rồi cho hồi hương về đường thủy.
Ra khỏi thành phố Strasbourg, mặt trời đã lên cao và mọi người đã cảm thấy khát nước. Nhiều thiếu nữ từ nhà ở bờ sông đi ra đem nước cho tù binh, trong khi lính Đức canh gác cũng muốn làm ngơ. Tuy nhiên tốp của Tiffauges bị chậm lại vì một cuộc xô xát giữa một ông già người vùng Alsace đưa ra lề đường một xô nước với nhiều cốc và bị một hạ sĩ quan Đức cho rằng ưu ái như thế là không phải cách. Nương theo sự lộn xộn nhất thời điểm tiếp theo đó, một người đàn bà từ nhà chạy ra cầm tay Tiffauges kéo vào nhà và hối hả nói từng tiếng một tỏ ý giúp cho anh lẩn trốn và cho anh quần áo dân sự. Lúc đầu chẳng có ai gọi tên anh, sự biến mất của một người trong đám sáu mươi mạng khó nhận ra được. Cuộc toan tính này rất dễ dàng thành công. Tiffauges nghiêm khắc phán xét cái số phận trớ trêu chọn nhằm mình để được cái may mắn duy nhất là thoát nạn. Anh nhận một cốc sữa, cám ơn với một nồi xúc động không hề giả dối, rồi lại trở về chỗ cũ của mình trong đoàn người. Một thời gian ngắn sau đó, tiếng dậm chân mệt mỏi của đám lính vang lên trên ván gỗ của chiếc cầu tạm bợ, qua khe gỗ ta thấy nước sông Rhin chồm lên thành những đợt sóng dập dồn.
- Chúng ta vào nước Đức, Tiffauges lên tiếng ngỏ lời với người đi bên, một gã nhỏ con nâu sạm với đôi lông mày dày đen.
Mặc dù quyết định không nói năng, anh không kềm giữ nổi mấy tiếng vừa rồi, vì hoàn cảnh đối với anh thật là nghiêm trọng.
- Nếu tớ không chắc chắn được trở về nhà trước Noel thì thà nhảy xuống nước còn hơn, gã nhỏ con nâu sạm trả lời.
Tiffauges vui sướng tràn lòng, nhất là vì anh cảm thấy chắc chắn sẽ không bao giờ trở lại Pháp.