10.11.1938. Suốt đêm, thứ nước bạch chỉ bắt tôi ngột ngạt và mơ toàn chuyện chết đuối và cát vùi, xuống đất, xuống bùn… Tôi đứng dậy, ngực vẫn đau như dần, nhưng mừng thoát khỏi những hình bóng đang phình trướng hình ảnh thực tại vốn không thuận cho lắm. Cà phê đắng nghét uống không xuống. Rú lên một tiếng nai. Tiếng thứ hai. Chẳng đỡ phần nào. An ủi độc nhất suốt buổi sáng là chuyện phân. Tôi làm ra một cục tuyệt đẹp, một cách lặng lẽ, không rây một tí nào, cục dài đến độ hai đầu mút phải uốn mới nằm gọn vào lỗ. Tôi mềm lòng nhìn ngắm con búp bê tí hon bụ bẵm ấy, làm bằng một thứ phù sa sống mà tôi vừa đẻ, và tôi thấy yêu đời trở lại.
Bệnh táo bón là một nguồn chính yếu sinh ra ủ trệ. Tôi thấu hiểu Đại Thế Kỷ với cái thói tật rửa ráy và súc ruột, tôi hiểu lắm! Điều khiến cho con người khó an nhiên với bản thân, chính vì con người là một thùng phân đi hai chân. Phương thuốc chữa trị sự thế này, là sự bài tiết tốt đẹp, phong phú và đều đặn mà thôi, nhưng ân huệ này đến với chúng ta thật quá sim so.
12.11.1938. Rachel và hành động thuần túy (năng suất = 0). Jeannot và sự sung mãn. Những bài học trong thánh kinh tế về ông Adong cổ sơ. Các phần tử này kết hợp lại trong trí tôi để tạo thành một tổng thể mạch lạc trong đó tôi thấy hiện ra lờ mờ sáu chữ cái của một cái tên: Nestor.
Sự đòi hỏi thống trị. Không có gì định nghĩa cá tính của Nestor cho bằng những từ ngữ ấy. Để đạt đến ý nguyện, để biết chắc mình chiếm lĩnh kẻ khác, ngày nay tôi cảm thấy rằng nó viện tới hai con đường. Con đường thứ nhất không thoát ra ngoài vòng cái thế giới kín là trường hợp Saint-Christophe, cái tính cách trường học trong đó hắn thu mình lại như con nhện trong mạng lưới, con đường ấy cũng không thoát ra ngoài những dãy nhà mà hắn nắm giữ tất cả các chìa khóa, trong đó có bầy trẻ khâm phục hắn một cách mù quáng và có bọn người lớn run sợ trước mặt hắn. Một thế giới kín mà hắn kỹ lưỡng đo lường tỷ trọng khí quyển đổi thay từ nơi này sang nơi kia, trong sân chơi ngoài trời nhẹ hơn là trong nhà nguyện, trong nhà ăn nặng hơn là trong vườn cây, và trở nên phong phú hơn cả là ở trong nhà ngủ, ngay giữa đêm.
Con đường thứ hai, chắc chắn hắn đã linh cảm con đường này, chắc chắn hắn cũng đặt chân phần nào trên con đường này, nhưng chậm trễ và chưa đi sâu. Tôi muốn nói đến con đường mang đèo. Câu chuyện về Christophe, về Albuquerque, cuộc giao chiến giữa hai đoàn người ngựa, và cho đến chiếc xe đạp uy tín của hắn – cái dụng cụ để mang đèo chủ yếu đối với học sinh - bấy nhiêu thứ chỉ rõ nó không phải là không biết con đường ấy. Và đến đây, tôi muốn đưa ra một giả thuyết khá mong manh thật đấy, nhưng sẽ tùy tương lai xác chứng. Tôi tự hỏi không hiểu hai con đường ấy loại trừ nhau chăng, cũng như không thể đi trên hai con đường một lúc được, dù cả hai con đường hướng đến mục đích như nhau. Việc nhốt kín của trường trại – được gọi một cách hay ho là “nội trú” – khiến cho sự mang đèo thành ra vô dụng, ngoại trừ đó là một sự diễn tập có lợi cho việc ngăn ngừa một tương lai khoáng đạt sắp tới. Do đó sự mang đèo đi đôi với một môi trường mở, tỷ trọng khí quyển rất thấp, vì vậy nó giống như chiếc mặt nạ dưỡng khí mà phi công phải mang vào để bay cao.
Tất cả những điều ấy thật là tư biện, nhưng tựu trung đó chỉ là nỗ lực của trí óc tôi tìm hiểu các dữ kiện thô sơ áp đặt võ đoán cho tôi.
Và thế là cái “tỷ trọng khí quyển” ấy vốn được quên lãng từ thời nội trú, tôi đã hai lần tìm lại được trong vòng mấy ngày thôi, đầu tiên bằng cách thoáng qua ở viện bảo tàng Lourve, tiếp đó là ngay sáng hôm nay, quá sức dữ dội!
Đường Rivoli, chính xác là tại số nhà 119. Ở đây có lối vào một ngõ tiếp chạm đường Charlemagne, không xa ngôi trường cấp hai cũng mang tên này. Tôi lọt vào con ngõ tối, nó chạy băng qua lần lượt hai chiếc sân nhỏ chung cư vì tôi có việc đến gã cung cấp thiết bị ở đường bến Célestins. Dễ thường ngôi trường mới mở cửa. Tôi bỗng lọt vào ngược dòng một đợt song trẻ con ùa ra huyên náo trong cái ngách hẹp này, chúng tràn ngập hai chiếc sân chẳng rộng rãi gì, và lại xô đẩy nhau tuôn về hướng đường Rivoli. Tôi đối mặt chúng, tương tự con cá hồi giữa thác núi, bị lay giật, xô đẩy, nhưng cũng vui sướng êm dịu, nỗi vui sướng của chiếc hoa nhỏ mở rộng cánh chịu trận gió ào ạt đầy ắp phấn hoa. Hạnh phúc chắp cánh, rất giống với hạnh phúc ập xuống người tôi lúc tôi xốc Jeannot bị cánh quạt đập vào đầu. Nhưng lần này là nỗi vui đông đảo, om sòm, nó chỉ còn thiếu một yếu tố nữa thôi là vượt luôn cả sự xuất thần được mang đèo: yếu tố toàn thể.
Bởi lẽ bây giờ tôi hiểu tại sao mấy dòng vỏn vẹn của Descartes trước đây lại bỗng dưng rực sáng lên đối với tôi giữa khung cảnh xám xịt của giờ học triết. Tôi lờ mờ tin tưởng rằng cái quy tắc này trong phương pháp luận có mối tương quan với mối ưu tư hàng đầu của Nestor: “Tạo ra khắp nơi những phân chia thật trọn vẹn và xem xét lại thật đầy đủ để tin chắc rằng không bỏ sót một cái gì hết.” Cái ưu điểm lớn của một thế giới khép kín, không mở ra phía bên ngoài, chỉ vâng theo những quy luật nội bộ tự nó thiết lập, chính là tạo điều kiện thỏa mãn quy tắc nền tảng ấy.
Nhưng còn tôi, tôi sống trong môi trường mở, bị đày đi xa khỏi kinh thành của Nestor cùng các thần dân được phân chia. Tôi mò mẫm, chỉ yên lòng vì tin rằng có một sợi dây vô hình sẽ dẫn dắt tôi đến một hồi chung cuộc huyền nhiệm. “Cứ ngắm Christophe mà vững bước.”
Trở về hãng, tôi muốn biết hiện nay có bao nhiêu trẻ con tại Pháp. Tôi dừng ngang tuổi mười hai, đúng thật là tuổi trẻ con, có nghĩa là đã đạt toàn vẹn tuổi trẻ con, đến mức nảy nở đẹp đẽ và hỡi ơi cũng đến ngưỡng cửa của tai họa dậy thì. Sau đây là những con số do một người bạn làm báo chuyên đề về các vấn đề dân số cung cấp cho tôi.
SINH ĐẺ TẠI PHÁP
Tổng số Trai Gái
1926 767.500 392.100 375.400
1927 743.800 379.700 364.100
1928 749.300 383.600 365.700
1929 730.100 373.000 357.100
Vậy là chúng ta đang ở năm 1938, một năm tốt lành đặc biệt. Khí quyển bên ngoài, tức là tình trạng tan loãng tối đa, có một tỷ trọng sẽ không lặp lại trong nhiều năm nữa vì lứa mười hai tuổi sẽ giảm nặng năm 1939 rồi tăng lên tí đỉnh năm 1940 và giảm nhiều hơn nữa vào năm 1941.
15.11.1938. Tối hôm qua tôi từ chối vợ chồng Hervé không xong và họ lôi tôi đi xem ca kịch Don Juan của Mozart.
Tôi biết mình ghét ca kịch, nhưng bây giờ tôi biết luôn vì sao tôi ghét. Bởi vì trong cái thế giới được trình diễn, giới tính của nhân vật được cường điệu hóa đến mức tối giản. Đàn ông thì nam tính lên gần kề thú tính, đàn bà thì nữ tính cùng cực thường dẫn tới loạn trí. Cuối cùng tôi không rõ tại sao nét tính tươi trẻ vốn biểu thị giá trị hàng đầu đối với tôi – đem so sánh, các giá trị khác chỉ như ngân phiếu không tiền bảo chứng và toàn là những thứ hão huyền – lại là giá trị mà hình như bộ môn ca kịch xiển dương ít thành đạt hơn cả. Nét can đảm, cao thượng, oai phong, một nét đẹp nào đó – đẹp sang trọng, cao cách, bão táp, sự thâm trầm, hung ác, tình yêu, thì đạt. Nét tươi trẻ, không. Từ âm nhạc, trang trí, đến câu chuyện, luôn cả nhân vật, đều không dành cho sự tươi trẻ một chỗ đứng nhỏ nhoi nào hết. Thật tình sinh hoạt ca kịch – không gian của khán giả hay sàn diễn cũng thế - đối với tôi nó thuộc loại những nơi chốn ngột ngạt mà hiển nhiên trẻ con không léo hánh tới. Thèm vào!
Nói tới buổi diễn tối hôm qua, tôi buộc lòng nhìn nhận rằng nó đi vào tim tôi như gai đâm, và chỉ vì một lý do vô cùng đơn giản: vì Don Juan chính là tôi. Thì đã đành là có bôi son trát phấn, bịt mặt và hóa trang, như thể là định mệnh nếu người ta muốn đưa tôi vào một vũ trụ loại bỏ nét tính tươi trẻ để làm thế nào cho mọi người đều bị phỉnh gạt và nhân vật vẫn là kẻ khó dò đối với kẻ khác ngoài tôi ra. Nhưng cảnh thằng Leporello trưng ra danh sách chinh phục trái tim của ông chủ và đếm được một trăm bốn chục ở Đức, hai trăm ba chục ở Ý, bốn trăm năm chục ở Pháp và một ngàn lẻ ba ở Tây Ban Nha, nó nói lên khá đầy đủ cái ý hướng tính toán triệt để mà tôi thừa hiểu. Đối với Don Juan, một người như Rachel có thể bảo: “Anh không phải là người tình, anh là hung thần!” Và vì tôi có mắt để thấy, có tai để nghe, tôi hiểu rõ hồi kết cuộc đáng sợ, đó không phải cái gì khác hơn là cái chết của chính tôi lắp ráp vào tiền đề của hư cấu. Là vì tôi tin chắc rằng một đêm nào đó sẽ có vị khách từ bia mộ đi ra và đến nhà tôi đưa nắm tay cẩm thạch gõ cửa, và tôi sẽ đưa tay ra cho người nắm lôi tôi đi vào bóng tối và cả hai không trở lại. Nhưng vị ấy không mang khuôn mặt của người cha bị ô nhục hay bị thảm sát đâu. Vị ấy mang khuôn mặt của chính tôi.
Bây giờ tôi biết hồi kết của tôi như thế nào rồi: Nó sẽ là chiến thắng quyết định của con người đá trong tôi chống lại những gì còn lại bằng máu bằng thịt của mình. Nó sẽ hoàn tất vào một đêm sau khi số mệnh của tôi đã chiếm lĩnh con người tôi, tiếng kêu cuối cùng của tôi, hơi thở cuối cùng của tôi sẽ tắt trên đôi môi bằng đá.
2.12.1938. Hồi nãy chứng kiến giờ tan học của ngôi trường làng trên đại lộ Saussaye, tôi tưởng ra hình ảnh một chiếc vợt khổng lồ chụp gọn cả bầy trẻ con. Chiếc vợt hốt hết phần lớn chúng nó ngay bờ thành cổng trường, nhưng cũng phải rà theo lề đường để vớt mấy đứa ra trước. Rồi giao cho tôi cả mớ nhung nhúc những tạp giề đen nền đỏ, mớ chân cẳng để trần cùng những khuôn mặt cười cười.
9.12.1938. Báo chí tràn đầy hình ảnh về anh chàng Weidmann, người Đức bị bắt, tại La Celle-Saint-Cloud trong biệt thự “La Voulzie” của anh chàng, bị tình nghi ám sát bảy mạng người.
12.12.1938. Một lớp tuyết mỏng phủ lên thành phố sáng nay. Sự kiện khá hiếm hoi tạo lý do cho một vòng đi dạo chụp hình. Tròng bàn máy Rollei, tôi ngược lên đại lộ Roule. Đến trước sân chơi trường Sainte – Croix, tôi quan sát một lúc cảnh chạy qua chạy lại của đám trẻ. Chắc hẳn loại vũ ba – lê phi thường này, các hình thể không ngừng tái đi tái lại, rồi xóa và nhập này, phải có một ý nghĩa nào đó. Ý nghĩa nào đây? Từng nhóm, kết hợp, tập hợp, phức hợp, phân rã, ở đây mọi thứ là ký hiệu, mà nơi khác cũng vậy, nơi đây có nhiều hơn nơi khác. Nhưng ký hiệu là gì? Đó là câu hỏi muôn đời của tôi trong thế giới đầy rẫy những nét chữ kỳ bí không có khóa mở.
Tôi xáp lại rào sắt chắn sân chơi của trường Sainte – Croix với lề đường, và qua song rào, tôi chụp lia lịa, với nỗi vui thú mạnh mẽ và phạm tôi của kẻ đi săn như đang bắn vào các con thú ở vườn bách thú ngay trong chuồng. Tôi sẽ nghiên cứu các hình ảnh này một cách bình thản ở nhà. Tôi sẽ so sánh các tình trạng nối tiếp nhau của xã hội nho nhỏ này tự thân hoạt động với chính nó khi bị thu hình qua từng giây. Nếu chẳng khám phá được gì thì thật là kỳ quái. Nhốt trẻ con vào chuồng… Linh hồn ăn thịt người của tôi sẽ thỏa thích. Nhưng có một cái gì khác đi xa hơn là trò chơi chữ thuần túy. Tấm rào nào cũng là rào giải mật mã, chỉ cần biết ứng dụng nữa thôi.
15.12.1938. Nghỉ ngơi giữa ngọ. Ngồi trước mặt tôi, bàn tay trái luồn giữa đám tóc hung hung, Jeannot đọc sách. Ngắt ngang, hắn đưa ngón tay làm dấu ở dòng đang đọc, hoặc giả, nếu phải nghỉ đọc, hắn rút trong túi ra cây bút chì đánh dấu chéo ở lề sách ngang đoạn sẽ đọc tiếp về sau.
Sách hắn đang đọc là cuốn Pinocchio của Collodi, nhà văn người Ý. Tôi lật cuốn truyện mới rời tay, chưa chi đã thót người chờ đọc những điều tai ác thường tràn đầy trong truyện trẻ con. Làm như thể trẻ con là bọn phàm tục thô lậu, quá ít thông minh nhạy cảm, may ra chỉ có những câu chuyện gớm ghiếc – loại văn chương rượu mạnh chính cống – mới lay động được chúng! Những tác giả tàn ác như Perrault, Carroll, Busch chẳng học được gì ở ông hầu tước thánh thiện này.
Pinocchio làm cho tôi yên tâm trước hết. Đây là câu chuyện một con rối bỗng nhiên được tiếp sự sống, câu chuyện này tiếp nối một truyền thống thần tiên cổ xưa và đằm thắm. Nhưng chỉ tổ cho tôi cảm nhận khổ sở hơn cái đoạn ghê rợn nói đến Pinocchio với bạn là Lumignon vì học dốt ở trường mà bị biến thành lừa. Hoảng sợ, hai đứa quỳ gối, chắp tay, xin tha tội. Nhưng người ta nghe thấy tiếng than khóc của chúng dần dần biến ra tiếng hí hố lố lăng, bàn tay chấp lại thành vó, miệng ra mõm, đũng quần trương lên và rách tẹt một tiếng thô tục vì chiếc đuôi đen đủi lông lá thò ra. Quả tình tôi không ngờ có thể đẩy sự ghê rợn đi xa đến thế. Ngay cả nàng Da Lừa làm cho mình xấu đi để làm thối chí người cha loạn luân vồ vập cũng không gây cho tôi cái cảm giác rùng rợn dữ dội cho bằng con ngoắc ngoải của hai đứa bé.
Nhưng tôi nghĩ ra rằng sự dập vùi rợn người của Pinocchio với Lumignon là điều tôi ghi nhận từ lâu. Nàng tiên tai quái dùng đũa thần đánh xe song mã hóa thành quả bí và thằng bé thành con lừa, tôi gặp nàng hàng ngày, đó là nàng tiên Dậy Thì. Đứa trẻ mười hai tuổi đã đạt tới mức quân bình và nảy nở không thể nào vượt hơn và tạo nó thành tuyệt tác của tạo hóa. Nó hạnh phúc, tin tưởng vào vụ trụ bao quanh và nó cho rằng tất cả mọi thứ đều đâu vào đấy. Hắn vừa đẹp mặt, đẹp hình, khiến mọi nét đẹp của con người chỉ là ánh phản chiếu phần nào xa xôi của độ tuổi ấy. Tiếp theo đó, là tai họa. Mọi cái gớm ghiếc của nam tính - lớp da cáu bẩn lông lá, cái màu chết trôi của thịt da người lớn, hai má nhám xịt, dương vật giống như là của con lừa trông ra ngoại khổ, không có hình thù và hôi hám – cùng nhau vùi dập cậu hoàng tử bé con bị hất xuống ngai vàng. Thế là nó trở thành con chó gầy còm, mụn mằn, mắt lơ láo, ngốn nghiến hau háu những rác rến của phim ảnh, của hi trường, nói tóm lại nó là thằng mới lớn.
Hướng tiến hóa đã rõ. Thời kỳ đóa hoa đã qua. Phải ra trái, phải ra hạt. Cạm bẫy lứa đôi thấm thoắt ngậm đôi hàm lại để nhốt kẻ khù khờ. Và thế là, cùng với bao nhiêu đứa khác, hắn bị buộc vào cổ chiếc cày nặng nề lưu truyền nòi giống, buộc phải góp phần vào bệnh tiêu chảy dân số đang giết chết loài người. Buồn, bất bình. Nhưng lợi gì? Rồi đây bao nhiêu hoa khác chẳng nở ra trên đống phân ấy sao?
18.12.1938. Việc hỏi cung vụ án Weidmann, kẻ ám sát bảy mạng người, đang tiến hành. Bợm này con một thước chín mươi mốt và nặng trăm mười ki – lô. Số cân đo y hệt của tôi.
21.12.1938. Sáng hôm nay, đại lộ Roule. Tôi chuẩn bị đi qua khỏi mút sân trường Sainte – Croix rồi đi dọc theo mấy gian xưởng cùng các trạm bơm tiếp giáp với hãng của tôi thì thình lình dừng phát tại chỗ vì một tiếng thét kéo dài to hơn bao nhiêu huyên náo từ đám trò chơi trong giờ nghỉ học. Đây là âm thanh từ cổ họng, thật trong trẻo, kéo dài lâu, như một tiếng kêu từ trong sâu thẳm cơ thể, rồi kết thúc bằng một tràng run giọng vừa vui vẻ vừa thê thiết. Cái cảm giác kỳ lạ là tiếng ấy vừa chuẩn mực vừa đầy đặn, vừa quân bình mà vừa dạt dào!
Lập tức tôi lui gót, tin chắc sẽ khám phá thấy trong sân chơi một cái gì đó hoặc một ai đó khác thường, nổi bật. Nhưng không, không có gì. Tôi vẫn còn giữ trong tai cái tiếng thủy tinh được bồi thêm bằng những cung bậc của da thịt, và nhịp độ chạy đi chạy lại của đám trẻ vẫn tiếp tục như trước đây, như thể phép lạ bằng âm thanh kia không xảy ra. Đứa nào trong đám trẻ đã thét lên cái tiếng vui sướng trong trẻo kia? Đứa nào cũng có vẻ như đứa nào, nghĩa là cũng cốt yếu như nhau cả.
Tôi đứng hồi lâu đong đưa theo âm hưởng mỗi lúc một lùi xa của “tiếng thét” đang làm trỗi dậy trong tôi kỷ niệm về ngôi trường Saint – Christophe bị phủ lấp và xóa nhòa vì loại âm nhạc đa tạp và chói tai từ các trò chơi và xô xát nhau của bọn trẻ. Rồi một hồi chuông ngân lên, chúng xếp hàng ở các cửa lớn. Sau cùng tôi rời bỏ sân trường trở nên trống vắng.
Trước khi về lại hàng, tôi vẫn nhẩm lại ngày giờ của “tiếng thét”, bề ngoài nó cũng phi lý giống như tôi nghĩ rằng có một phép lạ lặp đi lặp lại đều đặn.
23.12.1938. Đại lộ Saussaye, một tòa nhà to lớn khắc khổ bao gồm trường mẫu giáo nhập với những trường nữ tiểu học và nam tiểu học. Giờ đây tôi có thói quen nhìn xem giờ tan học của trẻ con vào lúc sáu giờ chiều. Đầu tiên tôi lắng nghe đợt âm thanh dậy lên từ sau tường cao, một hôm đi ngang qua đó vào lúc giờ chơi. Tôi dừng lại, được phủ vây êm ái bằng bản hòa âm lan rộng đông đảo một nhịp, bị ngắt quãng không đồng đều bằng những lúc lặng lẽ và bằng những tiếng reo vang, bằng những âm thanh giãn nhịp rồi những hồi vang vang trung bình. Tôi chờ “tiếng thét” mãi, cái tiếng đã gieo ấm áp vào lòng tôi hôm kia, trước bờ rào trường Saint – Croix, bởi tôi đinh ninh rằng đó không phải là biểu hiện riêng biệt của năng khiếu thanh nhạc của cá nhân, mà chính là chất cốt yếu của đứa trẻ dưới dạng âm thanh.
Tôi không nghe thấy “tiếng thét” sáng hôm nay, nhưng thay vào khối lượng âm thanh mạnh mẽ bay bổng là một tiếng rung mảnh dẻ bỗng đâu trỗi lên, một loại âm thanh dây đàn cao vút, mảnh như ren tua, vừa trêu ghẹo vừa ve vuốt làm mắt tôi cay cay đến độ rưng rưng. Tôi quyết định hỏi Karl F. mượn chiếc máy Mỹ thu âm các thứ tiếng. Tôi sẽ đến đây ngày này sang ngày khác để ghi mỗi giờ ra chơi trên băng từ. Rồi tôi sẽ trở về nghe trong vắng lặng, bao nhiêu lần còn tùy, để tìm cho ra nét giao hưởng. Và biết đâu? Có thể sau đó tôi hát theo bản giao hưởng ấy được và có thể làm sống lại trong tôi bằng ký ức buổi ra chơi lối năm giờ ngày 25 tháng 11 hoặc buổi ra chơi lối mười giờ ngày 20 tháng 12, giống như có thể gợi ra trong trí tưởng tượng bản tứ khúc của Beethoven hoặc một bài tập của Chopin.
Trong khi chờ đợi thu hoạch thứ nhạc loại mới ấy, bằng một thái độ kinh ngạc tươi trẻ không hề suy giảm, tôi quan sát bầy trẻ túa ra bên ngoài, được buông thả đột ngột ra đường sau nhiều giờ cấm cùng dằng dặc. Tôi ghi nhận rằng những đứa ra đầu tiên vẫn là những đứa trẻ ấy và bọn chậm chân vẫn y như cũ. Tôi biết chúng nó và nhận diện chúng nó dễ hơn nhận diện đám đông kia đang tru tréo bị chẹt lại ở họng cổng trường.
Bằng lối cửa kia tuôn chảy ra một đàn líu lo những bé gái mà tôi quan sát tò mò say sưa. Không thể nói hết cái dở chia biệt con trai con gái thời nhỏ của chúng tôi. Đàn ông và đàn bà xa lạ với nhau thế, khó lòng hòa hợp với nhau trong một đời sống chung đến nỗi nếu không tạo thói quen cho họ chia sẻ một điều từ tấm bé thì đó là một việc làm ngốc xuẩn và gây nên tội phạm. Người ta nên biết chó với mèo có thể chung sống với nhau nếu đã được bú chung bình sữa.
28.12.1938. Nỗi buồn không thấu nổi ở các nhà trường và sân chơi trống rỗng do những ngày nghỉ Noel. Làm thế nào sống đây nếu không có các tiểu đảo đầy chất tươi trẻ bồi dưỡng, nếu không có những bầu dưỡng khí làm quên đi giây lát cái xú khí của tuổi người lớn? Tôi nghiệm thấy rằng không có cái gì tổn hại đối với tôi cho bằng tự do của đám trẻ. Chúng nó tứ tán, chỉ để lại một bầu không khí ráo hoảnh đến độ khó thở.
Ngay giữa tâm trạng rầu rĩ đó, sáng hôm nay tôi tham dự buổi lễ nhà thờ dâng lên các thánh Vô Tội đã bị vua Hérode ra lệnh tàn sát thuở xưa. Sao tôi không nghĩ ra sự kết hợp cuộc giết người khủng khiếp rộng lớn ấy với những giao hưởng làm bằng tiếng la hét của trẻ con mà tôi thưởng thức hàng ngày? Nghe đọc Thánh Kinh theo thánh Matthieu thuật lại tội ác, tôi núp sau chiếc cột và đau đớn thương cảm nấc lên.
31.12.1938. Vài lát nữa năm 1939 mở màn. Đàn ông đàn bà đội mũ hề vứt hoa giấy vào mặt nhau. Tôi ra khỏi cái giường đã trở nên khô rốc, nhạt nhẽo và chán ngắt vì bệnh mất ngủ, và tôi mấp mé bên bờ vực cô độc, như kẻ thụy du lảm nhảm ở mép ống xối. Tin chắc rằng năm cùng tháng tận không khỏi kéo theo từng trận chớp lửa với mùi diêm sinh, tôi co rút người lại sợ hãi buồn bã. Tôi giở Thánh Kinh, nhưng tập sách này do những vị viết về đêm như tôi chỉ đem lại cho tôi lời dội lại từ những lời than thở của tôi đã được khuếch đại lên nhiều:
Mắt tôi tràn đầy sầu muộn
Và tay chân tôi như cái bóng.
Nơi chốn ở mà tôi mong, là cõi chết,
Ngay trong tối đen tôi trải chỗ nằm.
Tôi nói với ngôi mộ: Ngươi là cha ta!
Và nói với sâu bọ: Chúng bay là anh em!
Các bóng người khuất mặt lung linh dưới nước,
Cõi chết bóc trần ra trước Chúa,
Và hố sâu không che đậy.
Người rải các vì sao trên miệng hư không,
Người treo trái đất trên cõi hư vô,
Người nhốt nước lại trong mây,
Và mây không tan tành vì sức nặng của nước.
Người đem ngôi sao ra che mắt,
Người lấy mây phủ lấp,
Người vạch vòng tròn trên nước,
Biên giới ánh sáng và bóng tối.
Chúa buông màn đêm xuống lối tôi đi,
Người rút tấm áo choàng màu tía của tôi ra,
Người lấy vương miện trên đầu tôi và ném tan tành xuống đá,
Người đập vỡ tôi cùng khắp,
Người nhổ hy vọng của tôi như nhổ cây.
Nhưng Chúa gây thương tích và băng bó lại,
Người tạo vết và tay người điều trị
Còn tôi đây biết người một ngày nào sẽ trả lại nụ cười cho môi tôi,
Sẽ đặt vào miệng tôi những khúc ca khoan khoái.
Và trái đất sẽ giật mình vui sướng,
Biển sẽ vang động tiếng cười,
Làng mạc run rẩy yêu đương,
Cây rừng rung chuyển tàn lá rì rào
Như bầy ngựa khóe khua động bờm lông.
2.3.1939. Tôi không viết gì kể từ đầu năm. Nói cho ngay, sống là may! Hồi nhỏ, sự hụp lặn vào bóng đêm, vào không khí ẩm thấp và lạnh lẽo của mùa đông đối với tôi nó trộn lẫn với nỗi khổ phải sống còn. Lâu lắm tôi mới hiểu rằng tựu trung đây chỉ là một mùa mà thôi, mùa xấu trời. Năm nay qua năm khác, càng già thêm, đối với tôi, thời gian trôi nhanh hơn, và cứ thế những đoạn thời gian dài thêm từng ngày một đối với tôi trở nên đo được và làm chủ được. Nhưng mùa hè vẫn chưa rút ngắn được bao nhiêu để tôi có thể hùng hồ nhảy băng qua và đặt chân lên miệng lỗ phía bên kia.
Một ngày nào đó, biết đâu. Nay tôi còn hụt chân, và tôi sa vào cái hố tháng giêng – hai với cảm tưởng rằng không bao giờ, sẽ không bao giờ ra lọt.
Thật tình tôi ghét mùa đông, vì mùa đông ghét da thịt. Nơi nào bắt gặp da thịt để trần, nó hành hạ, nó quất vào, như vị rao giảng giáo lý hành xác. Cái lạnh của một bài học luân lý, một bài học của cảm hứng khắc kỷ ghê gớm nhất. Và nói một cách chặt chẽ, bởi vì những ký hiệu cần tới da thịt để hiện ra bên ngoài, cho nên mùa đông buộc giọng người câm bặt và thổi tắt các ngọn đèn thông thường rắc rải trên con đường tôi đi. Thế nên tôi cũng nằm đám. Tôi cuộn tròn, mặt day vào tường và hai tay bịt hai tai...
Nhưng sáng hôm nay nhiều đợt gió hâm hấp lau chùi cơn mưa đã tí tách suốt đêm trên mặt gương của hãng. Một lần hơi nước biển làm mềm mỏng bầu trời. Bước ra ngoài đường tôi bỗng thấy mình bị vây quanh giữa đám con gái nhỏ của một ký túc xá, chúng để chân trần, trắng thêm vì mùa lạnh. Rồi nay mai ta sẽ gặp lại những chiếc áo cụt tay và guốc trắng, áo hè cùng quần cụt! Cậu có thể chuẩn bị, Abel ạ, chiếc máy ghi trộm những tiếng la hét và âm thanh, và luôn cả chiếc máy chụp trộm hình ảnh.
Nhưng cậu cũng nên đề phòng vì không sớm thì muộn những linh cảm sẽ đổ xô kéo đến, cậu ạ!
4.3.1939. Sáu mươi hai vị hồng y, mỗi vị được một hội nghị viên và một người hầu cận phò tá, đã cấm phòng sáng ngày hôm kia trong một nơi riêng của Tòa Thánh dành cho cuộc hội nghị tuyển cử Giáo hoàng. Họ cất cao giọng bài Vị Sáng Thế xuất hiện, nhưng trời nổi giận đã át giọng họ bằng một cơn dông dữ dội. Như thế là tinh hoa của đám tu sĩ đủ màu da bị cấm cung trong một không gian kín bưng do ông Hoàng Chigi xếp đặt, cai quản hội nghị, và mọi lối ra vào được giám sát do binh lính của Giáo hoàng cùng các học viên của tòa án Thánh.
Người ta rùng mình khi cố sức tưởng tượng yến tiệc của 186 lão gia hưởng thụ cái tỷ trọng của khí quyển chưa hề xảy ra từ trước đến nay. Riêng những vờn khói đen tỏa ra từ ống khói nhà nguyện Sixtine đủ làm bằng chứng cho những trò quỷ lộng mà bọn người say mùi miễn tội đang hành lạc.
Đúng mười bảy giờ ba mươi, đức Hồng y Caccia Dominioni bước lên khoang trung ương Saint – Pierre mà bộ phận nghi lễ đã mở sẵn, và phía dưới khoang họ đã trải ra một tấm thảm lớn mang giáo hiệu của Pie IX,
Vị Hồng y tuyên bố:
- Xin báo cho toàn thể một tin vui lớn. Chúng ta có một vị Giáo hoàng là Đức Tối Cao Ngải Hồng Y Eugenio Pacelli
Đám đông lập tức cử bài Tạ ơn...
Tôi chẳng biết vị Pacelli ấy là ai. Người tên là Eugène, trùng tên Weidmann mà người ta đang hỏi cung. Và sau đó tôi có trông thấy hình chụp trên báo: đúng là hình ảnh xác ướp của vua Ramsès II nhưng khô khốc hơn, ít nhân tính hơn. Hoàn toàn nhân vật phản diện với vị viên chăn chiên rạc vì bầy quỷ Trong Trắng do thời buổi mạt vận đến gần đang cần phải có.
15.3.1939. Ra đi với một nhóm người hướng dẫn của ngôi trường làng ở đại lộ Saussaye, tôi để ý thấy một bé gái đẹp lạ lùng, theo tôi có vẻ là rất đàn bà, dù thân hình lép và đôi gối trầy trụa. Tôi để ý thấy nó, nhưng có lẽ đúng hơn phải nói rằng chính nó đã để ý tôi. Thật là duyên nợ. Đã mấy tuần nay tôi đến đây hoặc cùng với chiếc máy ảnh Rollei, hoặc cùng với chiếc máy ghi âm của Karl F. giấu trong chiếc xe hơi cũ Hotchkiss của tôi chỉ chìa ra cái micro ở đầu một chiếc cần mà tôi dựng thẳng giữa hai cửa xe, đôi khi cùng với cả hai máy, vì sử dụng vào những lúc khác nhau, giờ ra chơi thì ghi âm, giờ ra khỏi trường thì thu hình.
Tôi biết nó tên là Martine vì nghe chúng bạn gọi. Câu hỏi mà tôi tự đặt ra là: Cái gì là sung mãn đối với một đứa con gái nhỏ? Tôi được giáo dục riêng biệt về phương diện con trai tại trường Saint – Christophe, giáo dục này biến những đứa trẻ con giống cái đối với tôi thành ra một vùng đất lạ mà tôi nôn nóng khai phá.
21.3.1939. Ngày đầu tiên của mùa xuân đối với tôi được đánh dấu bằng một viên đá đen và một viên đá trắng làm như thể từ nay điều lành và điều gở phải tạo thăng bằng với nhau không ngừng ờ hai bên con đường tôi đi.
Viên đá đen: Nhờ báo chí tôi biết rằng Weidmann mà tôi theo dõi hàng ngày việc hỏi cung trong vụ án, sinh nhằm ngày 5 tháng 2 năm 1908 ở Francfort, và là con trai một. Tôi là con một. Tôi sinh ngày 5 tháng 2 năm 1908 ở Gournay – en – Bray. Như thế có nghĩa là kẻ sát nhân bảy mạng nặng bằng tôi và cao bằng tôi chưa đủ, còn phải sinh cùng một ngày với tôi nữa. Đó là những trùng hợp làm tôi nhói người hơn tôi tưởng.
Viên đá trắng: Cái phản ứng hồi bốn giờ rưỡi hôm qua được thu băng và đáng trở thành một mẫu mực cổ điển về mặt này. Lần đầu tiên tôi chứng kiến một giao hưởng thuần túy của nhạc khí dần dần chuyển sang kịch, tựu trung là loại nhạc kịch tôn giáo. Nó nằm đó, khoanh tròn trong cuốn băng máy ghi âm. Tôi nghe dễ đến hai chục lần, và tôi nghĩ nghe nữa tôi vẫn không chán.
Đầu tiên là một tràng âm thanh đắc thắng dẹp im mọi thứ chung quanh, hút hết mọi âm thanh khác. Tiếp đó cái khối lượng có vẻ thuần nhất ấy rạn ra thành ngàn tiếng vang nhỏ lại làm tăng thêm nhiều vẻ nhưng đồng thời làm suy yếu khối lượng. Và đột ngột là một nốt giãn nhịp, ầm một tiếng, tức ngực, làm thót tim. Và lúc bấy giờ là một tràng khác nhưng lần này những tiếng ơi ới hóa thành lời, tiếng rầm rì đa tạp trong đó tiếng trỗi lên là nỗi lo sợ lặp đi lặp lại ngàn lần, phát ra dưới nhiều dạng khác nhau. Cuối cùng một tiếng thốt lên làm bằng những chữ nhớp nháp đỏ chạch nổi lên trên cái nền run rẩy ấy: KHỐN KIẾP! Lời rủa ấy, hỡi ôi, đã hợm sẵn từ lâu, và được lớn tiếng một cách đầy ý nghĩa, mỗi lần chờ nghe nó là tôi run, và khi nó vang dội, tôi co mình lại trên ghế, mấy giây trước đó tôi đã chực sẵn, để đón tiếng ấy bắn ra. Sau đó, điều khó tránh, khối âm thanh tan rã, từng nhóm tụ thành nơi này nơi nọ - và những ai chuộng âm thanh miêu tả đều dễ dàng ra một cuộc chơi bóng đá, hoặc một cuộc cãi cọ gắt gao giữa hai đứa nhỏ, hoặc trò chơi bốn góc, một tốp hát đồng dao – nhưng ta nên coi nhẹ những lúc suy diễn văn vẻ ấy mà nên đọc trong sự phân tán ấy những nỗ lực của môi trường học đường đang tìm cách tạo ra sự khác nhau, thậm chí đang mạo hiểm đẻ ra những cá nhân đặc biệt. Nhưng rồi tất cả lại hòa lẫn vào một tràng âm thanh ồ ạt tràn đầy tiếng chói lói và rên la như một màn hơi loáng bạc lung linh những khuôn mặt vui tươi hoặc thê thiết. Cho đến lúc tiếng chuông đổ liên hồi đập vào vòm âm thanh ấy, chặt đứt nơi này nơi khác, thu rút nó lại, làm tiêu hao hoàn toàn, và chỉ còn nghe thấy tiếng guốc lạch bạch trên nền đất nện.
Khi nghe lại cuốn băng từ chạy tròn có đến lần thứ hai mươi, tôi cảm nhận ra rằng cái chi tiết quá rõ rệt, quá hiển nhiên của mười lăm phút ấy lại hoàn toàn khiến tôi không chú tâm khi ghi âm – lúc ấy tôi chỉ nhận ra tiếng huyên náo xúc tác những hỗn độn – và nó chỉ lộ rõ một cách chậm trễ khi nghe lại lần này đến lần khác.
Muốn đâm thủng bức tường mù đặc và điếc đặc của ta, điều cần thiết là các ký hiệu đập mạnh vào ta dồn dập. Muốn hiểu rằng vạn vật là biểu tượng và ngụ ngôn khắp cùng, chúng ta chỉ thiếu cái khả năng chú ý cao độ nữa thôi.
6.4.1939. Albert Lebrun tái đắc cử tổng thống cộng hòa với năm trăm linh sáu phiếu trên chín trăm mười người bỏ phiếu của thượng và hạ viện hội họp tại dinh Hội nghị ở Versailles. Với sự lựa chọn này, các vị đã chứng tỏ một năng khiếu biện biệt tinh tế. Lebrun là người duy nhất kết hợp được hai điều khó khăn này: vừa vô vị vừa ti tiện.
14.4.1939. Chiều hôm nay Martine trùm lên đầu một chiếc khăn lụa đen làm cho khuôn mặt kéo dài bên dưới của nó thu lại gọn ghẽ. Như vậy là loại trừ được nét phơ phất và túi bụi của mấy lọn tóc hoe, khuôn mặt của nó thu vào mấy đường nét chính, mang một vẻ trong bóng của Đức Mẹ càng linh hoạt thêm vì dáng dấp trẻ con của nó, mặc dù nó trang nghiêm. Nó xinh tê! Chăm chăm nhìn tôi nhưng không mỉm cười.