Chúa Tể Đầm Lầy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
6

❊ ❊ ❊

1.5.1939. Khi nào dạo chơi phố xá trong chiếc Hotchkiss cũ kĩ, niềm vui của tôi chỉ thật sự trọn vẹn khi nào chiếc máy Rollei lủng lẳng nơi cổ được kẹp cứng giữa hai đùi tôi. Tôi khoái trá vì như thế được trang bị bằng một vật to tướng, bọc da, với con mắt chợt mở ra chớp nhoáng khi nào tôi bảo “Nhìn vào!” và khép lại ngay sau khi nhìn. Một bộ phận tuyệt diệu vừa nhìn vừa nhớ, con diều hâu chằm chặp chực lao xuống con mồi để đánh cắp và đem về cho chủ cái sâu thẳm nhất mà cũng là cái phỉnh gạt nhất ở nơi con mồi, đó là ngoại hình của nó! Một sự sẵn sàng đáng được ưa chuộng, của món đồ vật đẹp, đầy đặc nhưng vẫn rỗng một cách kỳ bí, lủng lẳng ở đầu dây như bát trầm hương đựng mọi vẻ đẹp của trái đất! Cái miếng nhựa trinh khôi lót kín làm bền là lớp võng mạc to tướng mà mù đặc chỉ nhìn được một lần - vô cùng lóa mắt – nhưng sẽ không bao giờ quên được.

Từ bao giờ tôi vẫn thích chụp hình, rửa phim, sang ảnh, và ngay khi ổn định tại Ballon, tôi đã tạo phòng ảnh từ một căn phòng nhỏ dễ che chắn và có nước máy.

Nay tôi mới lường được cái ham thích ấy là do trời định, và nó giúp đắc lực cho những điều tôi quan tâm hiện thời. Vì chụp hình rõ ràng là một sự hành nghề mê say nhằm quyết chiếm hữu đối tượng được chụp hình. Kẻ nào sợ “bị” chụp hình tỏ ra tinh khôn một cách dễ hiểu. Đó là một lối tiêu thụ thường dùng đến khi không có gì tốt hơn, và tất nhiên nếu những phong cảnh đẹp là những thứ ăn được, người ta sẽ chụp phong cảnh ít hơn.

Đến đây cần phải so sánh với người họa sĩ sáng tác giữa thanh thiên bạch nhật, bằng những bệt màu nhỏ, kiên nhẫn, rõ ràng để bày tình cảm và cá tính của mình lên mặt vải. Đối nghịch lại, hành vi chụp hình tức tốc và huyền hoặc, về phương diện này giống như chiếc đũa thần của bà tiên biến trái bí thành cỗ xe song mã, hoặc biến một thiếu nữ tỉnh thức thành thiếu nữ ngủ vùi. Nghệ sĩ là một kẻ chan hòa, hào phóng, có sức ly tâm. Gã phó nháy là một kẻ hà tiện, tham lam, háu ăn, có sự hướng tâm. Có nghĩa là tôi là gã chụp hình bẩm sinh. Tôi không có được những quyền năng của bạo chúa bảo đảm cho tôi chiếm hữu những đứa trẻ con mà tôi quyết định nắm bắt nên tôi cầu viện tới chiếc máy chụp hình làm bẩy – và tôi nói rõ ngay rằng đây không phải là một cái gì cực chẳng đã. Tương lai có dành cho tôi bất cứ cái gì đi nữa, tôi sẽ gìn giữ lòng yêu thương những hình ảnh sáng láng và sâu đọng này như những mặt hồ để tôi trầm mình ngất ngây vào đó những buổi chiều đơn độc. Đời sống sẵn bày ra đó, tươi mươi, đầy nhục thể, hiến dâng, nhốt lại trên mẩu giấy phù phép, sự sống sót tối hậu của cái thiên đường đã mất mà tôi khóc mãi không thôi, đó là tình cảnh nô lệ. Sự mê hoặc và bao nhiêu thủ thuật của nó đã khai thác sự chiếm hữu nửa yêu nửa hại kẻ bị chụp hình do kẻ chụp hình. Đối với tôi, dù không gạt bỏ những quyền phép của mê hoặc, mục tiêu của hành vi chụp hình đi xa hơn và cao hơn. Nó nhằm nâng vật thực lên mức độ một quyền năng mới mẻ, một quyền năng tưởng tượng. Hình chụp, tất nhiên xuất xứ từ việc thực, đồng thời nó đồng nhất với ý ngông của tôi, đúng tầm với vũ trụ tưởng tượng của tôi. Nhiếp ảnh nâng thực tế lên mức của giấc mơ, nó hóa thân vật thực thành ra huyền thoại của chính nó. Ống kính là khung cửa hẹp, những kẻ được tuyển chọn và được mời trở thành thần thánh và anh hùng bị chiếm đoạt lẳng lặng bước qua đó vào điện thờ ở trong tôi.

Lúc bấy giờ rõ ràng là tôi không cần chụp tất cả trẻ con nước Pháp và thế giới để thỏa mãn nhu cầu thực hiện đầy đủ là nhu cầu vốn dày vò tôi. Bởi lẽ mỗi một hình chụp nâng đề tài lên một mức độ trừu tượng làm cho đề tài này đạt được một tính tổng quát nào đó cho nên một đứa bé được chụp hình, đó là X – một ngàn, mười ngàn – đứa trẻ được chiếm hữu…

Như thế là, ngày 1 tháng 5, hôm ấy đẹp trời, có nắng, điểm tâm thoải mái trên một góc bàn xong, tôi lao vào cuộc săn bắt hình ảnh, chiếc máy ảnh Rollei được trìu mến kẹp lại ở chỗ hiểm. Đôi mắt tôi lo nhắm mà thôi, hái lượm những hình ảnh khả dĩ trên cành cây, bên lề đường, và luôn cả tận ở trong những chiếc xe chạy sát tôi. Khách bộ hành ngày 1 tháng 5, các con chó ngày 1 tháng 5 đủng đỉnh bằng bước chân ngày chủ nhật trên các con phố lắng dịu xuống vì ngày lễ lao động. Thiên hạ rểu rảo đằng sau lớp kính chắn gió của tôi. Thế giới là một tủ kính xếp đặt đẹp đẽ do một kẻ bài trí quầy hàng có tên là Mồng Một Tháng Năm. Những anh cớm lấy việc điều độ giao thông làm vui trong ngày nghỉ Mồng Một Tháng Năm của họ đưa chiếc gậy trắng lên vẫy chào thân thiện với tôi.

Tôi bỏ lại chiếc Hotchkiss trên bờ sông của cây cầu Champs-Élysées. Chim hải âu xám, những người câu cá bất động, du thuyền bỏ không, dăm anh công chức loàng xoàng lau rửa xe ở bợ nước – và có lẽ đó là giây lát đẹp nhất trong tuần đối với họ. Một người thợ hì hà hì hụp với chiếc bơm nước trên một chiếc tàu hàng, và mỗi lần y gắng sức là một vòi nước vàng ợt bắn ra sát với đường phân ranh giữa nước và tàu. Tôi lọt xuống một chiếc thuyền và, bất chấp có thể nhào xuống nước, tôi thu vào ống nhắm cái vòi nước vàng, cái khối đen và thẳng cao của vỏ tàu, kèm theo, ở phía trên cao hẳn, trên một góc bầu trời xanh, luôn cả hình ảnh người đàn ông nhỏ bé nhún nhảy để thu hết sức nặng của mình đè xuống chiếc cần bơm. Trên bờ sông một thằng mãnh giở trò chơi lấy miếng gươm bể rọi vào mắt khách qua đường. Tôi bảo nó xoay tia sáng của nó vào ống kính của tôi, và chưa chi tôi đã tưởng tượng ra tấm hình đánh dấu cuộc gặp gỡ này: một mảng vỡ òa trắng bệch mà đầu mút là một chiếc đầu người tóc rối và miệng há hốc ra cười không được nguyên hình.

Trên bãi ở mặt tiền điện Tokyo, đám con trai trượt patin có bánh xe, mấy đứa khác chơi bóng. Bọn trượt không bao giờ rời patin. Bọn chơi bóng không bao giờ trượt. Hai nhóm không lẫn lộn, chia cắt bằng một sự khác biệt gần như không có tính sinh học. Ta tưởng tới loài kiến: có con có cánh, có con không.

Tôi chú ý hai đứa trượt, cả hai màu da ngăm nâu, chắc là anh em, ăn mặc giống nhau, khuôn mặt và thân hình giống nhau, chỉ khác nhau về tuổi và vóc, như một thần đồng và một tiểu thần đồng. Chúng lượn vòng vèo vùn vụt, vọt băng nhiều bậc cấp bằng một cái nhún người không thôi. Tôi bảo cả đôi cầm lấy tay nhau và quay tròn dưới chân tấm phù điêu khổng lồ tạc hình Terpsychore cùng với một nữ thủy thần múa lượn trong một cảnh trí vùng Arcadie xưa. Và tôi chụp hình luôn cả hai cặp – cặp nhỏ bằng thịt, cặp lớn bằng đá – chẳng quen biết gì nhau nhưng rất hợp điệu với nhau. Kế đó tôi bày vẽ cho chúng nó biết Terpsychore là ai: một nữ thần Hy Lạp, thánh bổn mạng của những ai trượt patin có bánh xe. Sau đó mọi người đều chú ý đến bánh trước của xe vào một chiếc patin có bánh. Sự bày trò lạ lùng, sự kết hợp hai thuộc tính cốt yếu và theo nguyên tắc là khó kết hợp của đứa học trò. Chiếc bánh trước của xe, bị cột cứng, vẫn lướt trên nền đá trong tiếng rầm rít của sắt.

Các trò chơi vừa ngưng chốc lát giờ đây tái diễn. Đuổi bắt, quay vụt, nhảy, vòng tròn đan chéo nhau trong một tiếng động ầm ĩ của kim khí. Cuộc lướt vòng tròn tan vỡ nhường chỗ cho bước vọt nhiều bậc cấp một lúc. Một đứa bé vấp ngã. Mất trớn, nó bồng bồng mấy nhịp trên bậc cấp và xuống chân thang đùn thành một đống áo quần co quắp thảm hại và bất động. Tôi nhận ra đứa trẻ nhất trong hai anh em, tên tiểu thần đồng. Hắn chầm chậm lật người lại, lấy thế ngồi, rồi cúi nhìn đầu gối bên phải. Hắn không khóc, nhưng mặt mày nhăn nhó đau đớn. Quỳ gối xuống cạnh hắn tôi chuồi tay xuống bên dưới đầu gối hắn, trong cái hõm ươn ướt, mềm và run giật – đúng là bắp chân – trong khi đó một nỗi êm ái kỳ lạ thấm vào ruột tôi. Vết thương chắc hẳn do cạnh sắc của bậc cấp cẩm thạch mà ra, nó rõ nét vô cùng: một đường nứt nẻ đỏ au chạy thành hình bầu dục tròn trịa như con mắt độc nhãn của gã khổng lồ Cyclope có viền lông mi, có vết khóe rít lại, hẳn nhiên con mắt đã bị múc ra ngoài, chỉ để lại một ánh mắt tắt ngấm, nhưng nhỏ máu ít thôi và giống như tinh dịch của mắt nó ứa ra một chất nước trắng tạo thành một dòng dịch an-bu-min dọc theo trái chân và xuống tận bít tất đang cuốn lại. Hai đứa nhỏ cắm cúi tháo giày patin cho hắn, trong khi đó tôi ráp hai miếng thấu kính hai đi - ốp vào bộ phận nhắm và ống kính của chiếc máy chụp hình. Bây giờ tên bị thương cần phải đứng lên và thẳng người ít nhất là vài giây mới được. Tôi đặt cho hắn đứng, nhưng hắn xiêu xiêu, xanh mướt. “Hắn ngã mất”, có đứa lên tiếng như vậy. Không thể được. Tôi thẳng tay tát vào mặt nó, rồi tôi đặt nó tựa lưng vào tường. Tôi bấm tấm hình đầu tiên, nhưng hình này sẽ vô vị với thứ ánh sáng trực tiếp như thế này. Tôi cần có một thứ ánh sáng dợn sóng mới lột được bề sâu đỏ tía của trũng mắt. Tôi quay thằng bé một phần vòng tròn. Trên con mắt độc nhãn của gã khổng lồ bị múc ra ấy, chiếc máy của tôi áp con mắt độc nhãn rô – bô bằng thủy tinh, một sự mặt đối mặt cần yếu giữa phần thịt xây xát ù lì không còn nhìn được nữa mà chỉ để cho người ta nhìn vào, một thứ thịt đau đớn, mở hốc ra, và đàng khác là cái nhìn thuần túy, chiếm hữu và định đoạt của món khí giới của tôi. Quỳ gối xuống trước bức tượng nhỏ bé về sự đau khổ này, tôi bấm hết cuốn phim trong một nỗi ngây ngất diễm phúc mà tôi không làm chủ được. Rồi cuối cùng đến giây lát mà tôi chờ đợi hả hê trong lòng. Tôi buông chiếc máy cho nó lủng lẳng ở đầu dây, chuồi cánh tay phải xuống phía sau hai gối của đứa nhỏ bị thương, cánh tay trái của tôi xốc nách hắn và tôi đứng lên kèm theo gánh nặng mỏng manh.

Tôi đứng lên và đôi vai tôi đụng trời, đầu tôi bao quanh bằng các thiên thần nhã nhạc ca tụng danh vang của tôi. Những đóa hồng thần bí tỏa lan ra cho tôi mùi hương tươi tắn nhất. Đây là lần thứ hai trong vòng mấy tháng tôi bồng lên trên tay một đứa trẻ bị thương và sự ngất ngây mang đèo bao phủ lấy người tôi. Chỉ riêng điều này cũng đủ chứng tỏ rằng từ nay tôi đã bước vào một kỷ nguyên mới.

Bọn trẻ con chung quanh tôi hoàn toàn không hiểu gì khi thấy mặt mày tôi sáng rỡ. Thôi nhé, ta phải bước vào lại trong vòng thời gian, phải nói lại xâu chuỗi biến cố hàng ngày, phải vờ vĩnh đóng vai một mẫu người bất kỳ trong đại gia đình nhân loại…

Tôi đi đến chiếc xe của tôi, đặt vào xe cậu tiểu thần đồng bên cạnh cậu thần đồng lo săn sóc em. Tôi để cả đôi vào một tiệm thuốc tây ở quảng trường Alma, và tôi bỏ đi vừa mân mê giữa hai chân tôi cái khối thu hình tràn đầy của báu mới mẻ mà tôi biết trước rằng vẻ đẹp của hình ảnh sẽ vượt trội sự mong đợi của tôi.

4.5.1939. Sáng hôm nay, tôi thơ thẩn dưới các vòm kiến trúc mát mẻ, ửng sáng, nhờ một tia nắng lọc qua ô kính hoa của nhà thờ Saint-Pierre de Neuilly. Tiếng oa oa của một đứa bé sơ sinh kéo bước chân tôi vào ngôi nhà nguyện phía hông có chậu nước rửa tội. Một nhóm bạn bè bà con bao quanh một người đàn ông cao lớn, nước da thâm nâu đang trịnh trọng bế trên tay một đứa bé bọc trong một lớp khăn mỏng như của cô dâu. Cha đỡ đầu bế con trên chậu nước rửa tội. Lần đầu tiên tôi hiểu ý nghĩa lễ rửa tội theo cách của tôi: một đám cưới nho nhỏ có tính cách mang đèo nhau giữa một người lớn và một đứa trẻ.

Dĩ nhiên đây chỉ là một cách diễn dịch rút ra từ một thiết chế mà ý nghĩa nằm ở một nơi khác – và tựu trung điều đáng nói là tôi chưa bao giờ được làm cha đỡ đầu. Nhưng tôi thích thú nhận ra rằng sự thể này có thể gắn liền với ơn trên kêu gọi tôi. Tôi thấy ra ở đó có cái dấu hiệu – nếu không phải là bằng chứng – rằng một sự xoay chuyển của tình thế, có thể là hơi đột ngột nhưng không phải là hủy hoại, là một cái gì vừa đủ để quay hướng về tôi cái khía cạnh của sự vật đã in dấu của tôi lên nó và như thế nó nói lên sự phù hợp giữa tôi và đời sống thật.

7.5.1939. Việc rửa phim kèm theo sự khám phá các hình ảnh âm bản là một công việc đầy cám dỗ và tiếc rẻ. Bởi lẽ các âm bản được nhìn xuyên suốt đều đẹp lạ lùng và điều quá hiển nhiên là việc sang phim cho ra hình ảnh dương bản nó có nghĩa là làm sút giảm giá trị. Tính chất dồi dào của các âm sắc và chi tiết, vẻ sâu thẳm của các sắc độ, cái ánh sáng của bóng đêm trên hình âm bản, những thứ ấy sẽ không có ý nghĩa gì nếu không có tính chất khác thường nảy sinh từ các giá trị bị đảo lộn. Khuôn mặt với mái tóc trắng và hàm răng đen, với cái trán đen và lông mày trắng, với con mắt mà lòng trắng hóa đen và con ngươi hóa thành một lỗ nhỏ màu sáng, với phong cảnh có cây cối tách bạch ra như đám lông thiên nga trên một bầu trời đen mực, với tâm thân trần mà những vùng mềm mại nhất, có màu sữa trong thực tại lại thành ra những vùng có bóng tối nhiều hơn cả, nặng nề hơn cả, sự luôn luôn đi ngược lại với thói quen của con mắt ta dường như thể đưa ta vào trong một thế giới đảo ngược, nhưng là một thế giới hình ảnh và có nghĩa là không có gì tác hại thật sự, luôn luôn có thể dựng trở lại bình thường tùy thích, nghĩa là hoàn toàn lật lại được.

Trong bóng tối, ánh đèn đỏ của phòng làm hình, âm bản ngự trị. Chiều hôm qua tôi giam mình trong chiếc phòng lép khoảng bảy giờ. Như mọi khi, tôi đánh mất ngay ý niệm thời gian. Tôi bước ra thẫn thờ và run người vì mệt giữa đêm khuya. Có một cái gì như thể là một buổi kinh lễ của ngạ quỷ trong những thủ pháp xuất phát từ cá nhân truyền sang người khác, hình ảnh của người khác, giống như thể có bình thán thể chứa trong máy rọi, giống như thể có âm ty trong ánh sáng màu đỏ mà ta chao qua chao lại, như thể có sự bào chế phù phép trong các khay nước thuốc rửa hình, lọc hình và định hình trong đó ta lần lượt vứt vào các ấn bản. Và các mùi vị bi-xun-fit, hydro-qui-non, axit axêtic và hy-pô-xun-fit, không có mùi nào khỏi góp phần ma quái của mình vào bầu không khí đã nặng nề này.

Nhưng chính sự phóng lớn hình ảnh và những khả năng đảo lộn giúp cho anh phó nhòm có được những quyền năng hiếm họa hơn cả. Bởi lẽ không phải chỉ có màu đen hóa thân thành màu trắng và ngược lại mà thôi. Còn có khả năng, khi trở ngược âm bản trong ống nhòm, biến phía trái thành phía phải và phải thành trái. Như thế là hai lần đảo ngược sau khi rửa ảnh, mà trước đó, trong các máy anh cũ kỹ, khi chụp, có thể bắt đầu bằng sự đảo lộn – đầu chúc xuống dưới – của người được chụp. Điều phù phép – tác lợi và tác hại – trong nhiếp ảnh đã được bình phẩm rất nhiều do những hiện tượng thứ yếu nhưng riêng biệt như vừa nói.

Tôi có một hộp đầy âm bản do những chuyến săn hình của tôi qua các hiện trường thể nghiệm. Có một sự cởi mở toàn vẹn của lũ trẻ, ngoan ngoãn như những tấm ảnh. Bất cứ lúc nào tôi cũng có thể đưa hình ảnh một đứa trong bọn lọt vào bộ ngắm của máy rọi, và như thế là nó được phóng lớn chiếm cả phòng, dính vào tường, lên bàn, lên người. Tôi có thể rọi một phần bất kỳ của cơ thể hay khuôn mặt nó lên một tỷ lệ khổng lồ, và bao nhiêu lần tùy thích. Bởi lẽ nếu như thế giới rộng lớn là một khu rừng cấm săn bắn không thể cạn kiệt – và làm nản lòng ý hướng muốn đi đến triệt để - thì cái kho hình ảnh của tôi đã hoàn toàn tát cạn – dù dồi dào, cái đàn trẻ con của tôi đã được tính toán, đếm từng số, và tôi biết tất cả mọi ưu thế của nó một cách cần và đủ. Sau hết số lượng có giới hạn của các âm bản của tôi được cân bằng với cái khả năng khai thác những hình ảnh tích cực của mỗi đứa trong bọn chúng một cách vô tận. Cái vô tận trong kinh nghiệm xuất phát từ cái giới hạn trong sưu tập của tôi lại trở thành một khả năng bất tận, nhưng lần này thông qua con người tôi mà thôi. Bằng nhiếp ảnh cái vô tận man dã trở thành cái vô tận thuần thục.

14.5.1939. Vợ chồng Ambroise. Tôi có thuê của họ ba gian ở tầng trệt để làm hãng sửa xe. Ambroise làm nhiệm vụ gác cổng và gác dan khi hãng đóng cửa. Bà vợ, tên là Eugénie, không làm gì hết, cũng như có lẽ suốt đời không làm gì hết.

Ambroise có đem chuyện đời ra kể với tôi. Năm ông bốn mươi tuổi, ông với Eugénie gặp nhau ở nhà ga phía bắc. Bước vào nghề, ông làm mộc thủ công. Bà từ giã tỉnh Brabant còn trẻ, mang đại tang. Thuở ấy chắc hẳn bà thuộc loại các cô gái tóc vàng, dịu hiền, mủm mỉm, luôn luôn than thở với khí giới duy nhất là cái sức ù lì không lay chuyển nổi. Bà đã từ bỏ tất cả để thừa kế gia sản của cha chết đi tại Paris trong vòng tay của con trai – một linh mục. Người cha có của, của cải này được ông anh chia phần công bằng với em gái. Ít nữa đây là những gì Eugénie đem ra dẫn giải trên vỉa hè của nhà ga cho cậu Ambroise rõ, cậu này lúc ấy đã khô cằn, xương xẩu trong bộ áo quần đen, nhưng say sưa và hăm hở, và cũng đánh hơi được sự cầu tài của mình trong cả hai nghĩa của từ này. Như thế là cậu gánh lãnh hai chiếc vali của cô gái, và vì cô không biết đi về đâu, cậu thẳng thừng mở lời mời cô về nhà cậu, một cách sẵn lòng và đàng hoàng, cậu hứa với cô như vậy. “Hai chiếc va li ấy cho đến nay là bốn chục năm, tôi cứ mang mãi!”, một hôm ông nói với tôi như vậy trong một cơn bất bình và bất lực.

Số là Eugénie, mới vừa về ở, và bị khuyến dụ dễ dàng, đã lọt hẳn vào cái nơi chốn chật chội của Ambroise, và càng ngày càng đè nặng lên đời ông, nhất là một khi bao nhiêu hy vọng thừa kế đã nhanh chóng tan tành ra mây khói, hoặc là vì linh mục bất lương – đó là điều Eugénie khẳng định – hoặc là vì người cha chết đi không để lại một hào. Bốn chục năm nay, theo tôi nghĩ, Ambroise và Eugénie vẫn tiếp tục diễn vở kịch hai vai dưới mái nhà tôi ở.

Ông thì cứng khựng cong queo như khúc củi, vân vê cái ria mép bạc trắng của mình và không ngừng càm ràm theo sự tính toán ngốc xuẩn của bản thân và theo sự chây lười ký sinh của vợ (thật ra, họ không hề cưới hỏi). Bà thì nằm bệt trên ghế, to mập, trắng, xôm xốp, tóc muối tiêu uốn cong như tai chó xù ôm lấy khuôn mặt phì nộn đờ đẫn, bà không ngớt xuýt xoa ông chồng tốt bụng, như ông thánh sống, toàn lo việc nội trợ, lo đi mua các thứ, làm bếp và rửa chén bát ngoài những giờ làm việc riêng. Tình yêu tốn kém thật!

Eugénie nói nhiều. Bằng một giọng vô hồn, luôn một điệu thở than, trở đi trở lại mãi cái vô nghĩa của thời gia, sự vật và người đời. Lâu nay tôi không hề chú ý đến những lời lẽ tuôn ra như cái vòi nước đăng đắng hâm hẩm ấy cứ râm ran bên tai tôi mỗi khi tôi có dịp đi đến với đôi vợ chồng. Cho đến hôm tôi để ý thấy rằng giọng nói của bà, thường thường ở cuối một đoạn, lại tăng thêm một quãng tám âm, thêm vào đó có những hòa âm sắc, những réo rắt mùa xuân, những tiếng lạc của đồng nội. Bỗng dưng tôi lấy làm lý thú khi chờ đợi sự thay đổi thang âm đột ngột ấy, sự chuyển đoạn đến phần mà tôi thầm gọi là “giọng trong”, và buộc lòng tôi nhận ra cái ý nghĩa không suy suyển của tiếng lạc và tiếng réo rắt ấy. Bao giờ cũng vậy, vẫn là trường hợp những lời nói xấu bỉ ổi, một sự đổ lỗi độc địa, một điều ám chỉ giết người tiếp nối theo những câu huyên thuyên dông dài, ủ trệ. Trong chiều hướng này tôi được cho biết rằng thằng Jeannot ăn cắp ở cửa hàng Uniprix, rằng Ben Ahmed “nâng đỡ” một đứa gái điếm người bản xứ ở trong khu phố, rằng thằng thợ bơm người Ý mà tôi thuê mướn những ngày gấp việc không được hài lòng với số tiền phần trăm và tiền thưởng, và nhất là những cuộc săn bắt hình ảnh của tôi không lọt được mắt của tên chứng nhân hăm hở và xấu bụng này.

Một hôm, sau một buổi sục sạo đặc biệt thắng lợi trở về, tôi để chiếc máy ảnh lủng lẳng ở đầu dây, như người ta để cho con chó săn vừa hoạt động xuất sắc chạy tung tăng trước mặt mình, và tôi say sưa một niềm yêu mến và vui vẻ đi ngang qua dưới cửa sổ của vợ chồng Ambroise, tôi nghe lỏm mấy lời này:

- Đấy, ông Tiffauges đi chợ trở về xách đầy cả thịt tươi. Giờ đây ông sẽ giam mình trong bóng tối để ăn cho hết. Có nhiều thứ người ta không làm giữa thanh thiên bạch nhật phải không nào?

- Đúng là Eugénie, và có cả một giàn chuông trong giọng nói của bà.

18.5.1939. Lâu nay tôi vừa chụp hình vừa chạy, có nghĩa là chụp lén. Phương pháp này có kết quả và tiện dụng. Hơn thế nữa, nó vỗ về cái tính hèn mọn nó luôn hối thúc tôi khi bắt chợt một hình ảnh. Nhưng rốt cục lại, đó là một thái độ chẳng đặng đừng, và giờ đây tôi nhìn nhận rằng sự đối đầu với kẻ bị chụp hình, dù có vẻ đáng sợ thế nào đi nữa, vẫn còn hơn. Bởi lẽ động tác chụp hình được phản ánh cách này hay cách khác trên khuôn mặt hay thái độ của người bị chụp hình, điều này có cái hay của nó: cái vẻ ngạc nhiên, giận dữ, sợ hãi, hoặc trái lại là một sự thú vị, thỏa thích kênh kiệu, có khi luôn cả cái vẻ làm hề, cử chỉ dâm đãng hoặc khiêu khích. Cách đây trăm năm, thuở công việc đánh thuốc mê xuất hiện trong phòng mổ, một số nhà phẫu thuật đã la lối: “Phẫu thuật đã chết, có người đã nói như vậy. Trước đây phẫu thuật tồn tại ở chỗ bệnh nhân và bác sĩ kết hợp với nhau trong cơn đau đớn. Với thuốc mê, phẫu thuật bị hạ xuống mức cắt mổ một thây ma”.

Trong nhiếp ảnh cũng như thế. Các ống kính cách không vốn cho phép thao tác từ xa, mất hết tiếp xúc với người bị chụp hình, cho nên giết mất những gì đáng xúc động hơn cả trong động tác chụp: đó là cái đau đớn nhẹ nhàng cùng cảm nhận và ở những cực đối chọi nhau về phía kẻ biết mình bị chụp và đồng thời về phía kẻ biết rằng người ta biết có kẻ đang giở trò tác hại, giở trò xoay chuyển hình ảnh.

20.5.1939. Trong sự đảo ngược đen trắng, các màu xám cũng bị chuyển, nhưng không nặng bằng, độ chuyển này càng yếu đi khi màu xám tiến lại gần màu xám trung bình tức là đen và trắng quân bình đúng đắn với nhau. Màu xám trung bình này chính là cái trục chung quanh đó sự đảo ngược xoay vần, chính cái trục này nó bất di bất dịch, nó tuyệt đối. Có bao giờ có ai tìm cách định nghĩa và sản sinh ra cái màu xám tuyệt đối này không, làm màu sắc cưỡng chế lại bất cứ sự đảo ngược nào? Tôi chưa hề nghe đả động đến điều này.

25.5.1939. Bọn trẻ đã tản mát hết, và tôi vẫn chờ đợi, thất vọng, vì không nom thấy Martine. Sau cùng nó đi ra, một mình, đứa cuối cùng. Tôi tiến lại gần nó, vừa cố mỉm cười để che đậy tính rụt rè của tôi đang bị thử thách gay gắt. Tôi mở lời chào, làm như nó với tôi quen biết nhau lâu ngày, và trong một nhoáng táo bạo tôi đề nghị đưa nó về nhà trong chiếc Hotchkiss cũ kỹ của tôi. Nó không đáp, nhưng nó bước theo tôi, và khi ngồi vào xe được tôi mở cửa sẵn, nó kéo chiếc váy nhỏ phủ lên chân trong một động tác đầy nét nữ tính một cách tuyệt đẹp.

Tôi nghèn nghẹn ở cổ và không nói lấy ba câu với nó dọc đường. Nó không muốn tôi dừng lại trước cửa nhà – sao mà tôi yêu cái cử chỉ đồng lõa có phần phạm tội giữa nó với tôi thế này – và nó yêu cầu tôi dừng lại trên cù lao Grande Jatte, đại lộ Le Vallois, trước một cao ốc đang xây dựng mới xong phần chính. Nó trốn chạy, nhẹ nhàng như nàng tiên nhỏ trong rừng, và tôi ngạc nhiên thấy nó lọt vào bãi thi công vắng ngắt rồi biến mất ở cầu thang tầng hầm của cao ốc.

28.5.1939. Bố của Martine là công nhân đường sắt. Khi nó bảo có ba chị em gái khác, tôi giật mình vì tò mò. Tôi thật muốn biết các phó bản Martien kia – người bốn tuổi, người chín tuổi, người mười sáu tuổi – như một nét nhạc được chơi lại bằng nhiều nhạc cụ lên xuống từng quãng tám khác nhau! Về điểm này tôi thấy rằng, lạ thay, tôi không thể bó hẹp vào một cá thể, tôi không thể dằn lòng tìm kiếm từ mỗi một công thức những biến thể của nó, một hình thể lặp lại của nó nhưng không đơn điệu.

Nó luôn luôn bảo tôi đỗ xe trước mặt cao ốc đang sửa chữa. Nó giải thích rằng, đi ngõ tầng hầm, nó băng nhanh về nhà gia đình ở phía bên kia, ở đại lộ Vital – Bouhot.

30.5.1939. Chuyện lạ, kể từ ngày tôi đeo theo trẻ con, hình như tôi bớt thèm ăn. Tôi nhận ra các cửa tiệm kem và các quầy thịt không còn kích thích tính háu ăn của tôi như xưa. Tôi đâm ra lơ là thịt sống và sữa tươi sống để theo một chế độ bình thường hơn. Ấy thế mà tôi có gầy cho đâu! Làm như thể tiếp xúc với trẻ con làm cho cơn đói của tôi dịu xuống một cách tinh tế hơn và có vẻ có tính chất tinh thần, một cơn đói tiến triển tới một hình thức thanh cao hơn, gần với trái tim hơn là dạ dày...

3.6.1939. Tôi đọc mỗi ngày một biên bản vụ án Eugène Weidmann. Không những cái cảnh toàn xã hội trù dập con người cô thế, trăm tội đổ lên đầu nó làm dậy lên trong tôi một sự động tâm đối với bị cáo, mà có thể nói rằng số mệnh quyết đưa y lại gần tôi trong chiều hướng ấy, chính ngay sáng nay tôi được biết y là người thuận tay trái, trong các vụ ám sát đều dùng tay trái. Hoàn toàn là tội ác tay trái! Tay trái như những trang viết của tôi viết.

May sao chỉ cần nghĩ tới Martine là tiêu tan mọi ám ảnh.

6.6.1939. Làn da, thớ sợi của da, các lằn chỉ phân thành ô, ô trám, các lấm tấm nhỏ to, các lỗ chân lông rít lại hay hở ra, các sợi lông măng mềm mại hay bị nhổ đi, tóm lại là mặt da, đó là một địa hạt được ngành nhiếp ảnh phục vụ hết mình, và hoàn toàn xa lạ với hội họa.

10.6.1939. Hình ảnh mà tôi gợi ra một cách dịu dàng hơn cả là hình ảnh gia đình của Martine – ba chị em gái, mẹ, cha, đoàn tụ ban đêm dưới ngọn đèn. Tôi vốn không hề có gia đình, tôi những muốn ngồi cùng, giam mình trong cái phòng kín mà không khí chắc hẳn là đặc biệt và đậm đặc lạ thường! Điều đáng nói là bao nhiêu công cuộc săn bắt của tôi – săn bắt hình ảnh hoặc những cái khác – mà con mồi buộc phải là một cá nhân đặc biệt bao giờ cũng đưa dần tới một cộng đồng khép kín. Tôi sực nghĩ ra một sư so sánh, một sự so sánh lộ rõ cảm hứng của kẻ hung thần, nhưng nó không khỏi làm sáng tỏ trường hợp của tôi. Sau bao nhiêu thế kỷ hái lượm, con người phát minh ra nông nghiệp. Sau bao nhiêu thế kỷ săn bắn, con người khám phá ra chăn nuôi. Là người sau khi rong ruổi những đồng cỏ băng giá, tôi mơ tưởng những vườn cây kín bưng có bầy quả đẹp tự dưng hiến dâng cho bàn tay tôi, tôi mơ tưởng những đàn súc mênh mông, ngoan ngoãn, và sẵn sàng nhốt trong những chuồng hâm hẩm và bốc khói khiến ta thích ngủ với chúng nó trong mùa đông…

16.6.1939. Lebrun, tên bỉ ổi, vừa từ chối ân xá Weidmann. Người ta không rõ số lượng cuộc ám sát của Weidmann, và chính y có lẽ cũng chẳng rõ. Nhưng dù thế nào đi nữa, thử hỏi: kẻ phục sức áo mão, ngồi sau cái bàn to tướng, không bị một áp lực nào, từ chối phóng tay làm một động tác nhỏ có khả năng ngăn chặn tái diễn ám sát hợp pháp không, có tội phạm nào gớm ghiếc hơn là cái tội của kẻ ấy hay không?

17.6.1939. Một uy lực ám muội vượt quá sức tôi đã khiến tôi chiều theo lời năn nỉ của bà Eugénie muốn tôi đưa bà cùng các bà hàng xóm đi đến Versailles tối hôm qua, nơi sẽ diễn ra buổi hành quyết Weidmann. Các bà này bày ra cái vẻ xúc động hèn hạ cho nên lẽ ra đủ sức làm cho tôi nản lòng đi xa, giá như tôi không có những ý nghĩ ấy, nhưng có một cái gì đó oan nghiệt áp đặt cho tôi phải gặp con người khổng lồ bảy tội ác ngay lúc nó chết, sau khi hàng ngày đã đặt trước mắt tôi những bài báo tường thuật những tiến bộ trong việc thẩm vấn và việc vụ án.

Chúng tôi biết hành quyết sẽ diễn ra buổi sớm, nhưng bà Eugénie cùng với các bà bạn quyết ra đi từ chín giờ tối để được những chỗ ngồi thượng hạng. Ambroise nhất quyết không tham gia vào nhóm người bâng quơ ấy và ông thổ lộ với tôi là ông rất mừng ở nhà tối nay không có bà vợ. Ngay khi ra đi tôi đã ngán ngẩm với những câu lách chách vô nghĩa và độc địa của bốn mụ đang làm cho chiếc xe ì ạch. Tôi nghe đều đều tràng giọng lanh lảnh của bà Eugénie mỗi lúc mỗi phát hiện ra cái mũi dáo tẩm độc trong lời lẽ của bà.

Ngay từ phía ngoài thành phố, người ta đang cảm nhận việc gì đang diễn ra. Không những đám đông những ngày lễ đang nhốn nháo đầy phố xá và hè đường, mà trong không khí đang bềnh bồng một vẻ đồng lõa bẩn thỉu. Mọi con người ấy, đàn ông, đàn bà, luôn cả trẻ con, cùng đến vì một việc như nhau, và họ rõ như thế. Tôi cũng dự phần, chẳng có gì để nói năng…

Tôi không khỏi vất vả mới chuồi xe được vào đường Maréchal Joffre và xuống bộ đi nốt. Huyên náo dềnh lên từng phút một. Nghẽn xe các lối quảng trường Armes, đối diện với Lâu đài và quảng trường Quận đường đều biến thành bãi xe. Hai nhà ga ộc ra hàng sóng người theo nhịp độ các chuyến tàu đến bến. Nhưng đông nhất vẫn là những người đi xe đạp, với một tỷ lệ cao về loại xe đạp đôi với từng cặp nam nữ mặc quần bó cổ chân và áo len cổ lọ.

Đến nửa đêm, người ta reo lên một tràng dài, thấy các ngọn đèn khí phụt tắt. Bóng tối bị xuyên thủng vì ánh đèn pha xe hơi, đèn bấm và đèn lồng a-xê-ti-len, nó tràn ngập tiếng cười, tiếng chửi thề và tiếng rúc rúc, vượt lên trên là lời cợt nhả thô tục của một thằng nhỏ bụi đời, hoặc phủ trùm tất cả là một loạt máy kêu gọi sẵn sang. Tôi vừa càu nhàu vừa kéo theo bốn mụ ẩu nối tay nhau và đi đầu là bà Eugénie được sổ lồng. Chúng tôi tiến tới làm thành một đoàn lũ ngô nghê hướng về quảng trường Saint-Louis với ba quán rượu bật hết đèn. Sự khôn khéo mà riết ráo của bà Eugénie giúp chúng tôi kiếm được một chiếc bàn con với năm chiếc ghế tại một trong những khoảng sân chiếm hết vỉa hè. Chưa hết. Vị toán trưởng chưa chịu nếu nếu không đặt ghế thượng lên chiếc bàn con và chúng tôi vất vả lắm mới đưa bà lên cái giàn lắc lư ấy. Phen này bà ngồi thót lên đám hỗn quân hỗn quan như vị thần đao phủ sửa soạn làm việc. Ba bà bạn cùng với tôi ngay ngáy giữ chiếc bàn con mà mỗi chuyển động của đám đông đều hăm he lật đổ và chúng tôi thật sự chỉ còn ngang tầm đôi mắt cá to tướng và đô giày nỉ cài khuy của bà Eugénie mà thôi. Quanh chúng tôi, chỉ còn là một rừng cắm trại. Người ta bày các thức ăn, thịt dồi, bánh mì kẹp thịt và các chai nước chanh chuyền đi băng qua trên đầu giữa mùi vị ngầy ngậy của những chiếc máy rán. Khoảng một giờ sáng, khách thiếu bia uống xảy ra hầu như cùng một lúc trong ba quán rượu. Có một lúc sinh ra một luồng gắt gỏng, rồi người ta quay ra uống loại vang rẻ tiền do một chiếc xe thùng có vòi đổ ra, và đằng sau xe người ta xách chai bình xếp hàng chờ. Bà Eugénie lấy chiếc làn nội trợ của mình, rút lấy hai chiếc bình thủy, một chiếc ống nhòm thường dùng để xem hát, và một vuông khăn rộng quấn quanh mình. Rồi bà rót cà phê nóng cho chúng tôi.

Đến hai giờ một nhóm cảnh binh ra sức đuổi người khỏi địa điểm trước nhà giam Saint-Pierre, nơi đây chắc hẳn là nơi dựng lên giàn gỗ. Cuộc xô lấn nhau chỉ một lúc thôi nhưng tàn bạo; một người đàn bà bị đạp. Cảnh binh bỏ đi, nhưng đến lượt lính cơ động nhảy vào, và tốp này cuối cùng chiếm cứ khu tứ giác gay cấn.

Những xao động dữ dội dậy lên vì cuộc dàn quân ấy và tràn tới tận khoảng sân chỗ chúng tôi. Đám ghế bị xô đẩy lổn ngổn, hai gã nổi máu hung hăng vì chờ đợi và vì rượu đã đổ nhào xuống giữa đám bàn, gã này bíu vào gã kia. Chúng tôi phải mấy phen đưa lưng ra bảo vệ cho đàn quan sát của bà Eugénie. Nhưng bao nhiêu cười cợt đều tiêu tan. Đám đông uất ức không hiểu tại sao phải chờ đợi thế này. Cuối cùng bọn họ nổi cáu vì đã tốn tiền. Bỗng nhiên nổi lên ba tiếng, đầu tiên được la lối nhịp nhàng từng chặp một, sau được lặp lại theo một nhịp điệu tiết từ trăm ngàn cái họng người: Bắt đầu đi, bắt đầu đi, bắt đầu đi! Tôi có thật quả là kẻ duy nhất cảm thấy mình bị toàn thể đám đông bỉ ổi này đè bẹp chăng? Tại sao bọn lính đang dàn quanh ngay nơi giết người này không nhả đạn bừa vào đám đông, hoặc tốt hơn tại sao không quét sạch đống người ngợm thối tha này bằng vòi lửa? Cuối cùng là một tiếng A a a! như sấm dậy và rền vang tiếp theo sau âm điệu của ba tiếng dằn gọng vừa rồi. Chẳng là theo lời giải thích của bà Eugénie từ đàn quan sát vọng xuống, một chiếc xe hòm màu đen, ngựa kéo, ì ạch tiến xa trên đường lát đá. Một ngọn đèn khí đá mắc trên cột và lay giật theo làn sóng người làm lắc lư hai bóng người đang kéo trong xe ra mấy cây gỗ và bắt đầu đóng ráp giàn chém.. Im lặng như tờ, xen vào là những tiếng nện và tiếng rít của các khớp. Tôi tựa trán vào lớp cẩm thạch giả của chiếc bàn con và ngắc ngoải. Nhưng vẫn còn phải nghe giọng bà Eugénie buông thõng từng tiếng nặng như khối đá: “Quả cân, thùng đựng cám, lỗ thớt, dao chém”, kế đó là tiếng hô cho đèn mờ trong khối đen của các dãy nhà ngục, và cuối cùng là sự chuẩn bị dõng dạc hét to lời cuối cùng kết liễu con người hoàn toàn cô độc cùng đường. Nhưng không, lại còn phải chờ đợi, và đám đông lại ồ lên, giãn ra và tụ lại, hăm he phá nát.

Bầu trời bắt đầu nhàn nhạt phía đông thì cổng tù thắp sáng. Một tốp người đen thấp bước ra, đẩy đi ra phía trước một gã khổng lồ mặc áo sơ mi trắng làm thành một vệt sáng trong bóng lờ nhờ. Hai cánh tay trói ké sau lưng. Weidmann đi tới ngắn bước mà thôi, vì chân bị xích. Một loạt tiếng thở ra hả hê dậy dàng trong đám đông. Tốp người đen thấp đứng dưới chân máy chém. Weidmann được đưa lên đoạn đầu đài do bốn tên phụ việc, giống như bức tượng nằm cỡ lớn thời trung cổ. Đến khi gã đứng ngay ngắn, thì ánh sáng hất thẳng vào khuôn mặt trắng của gã. Đúng lúc ấy giọng chuông của bà Eugénie rung lên trong cõi im lặng toàn diện, như tiếng chuông của đứa trẻ đồng ca trong thánh lễ Lên trời:

- Ơ kìa, ông Tiffauges, sao hắn giống ông thế! Trời đất, anh em với ông không bằng! Rõ ràng là ông, toàn cả ông đấy thôi!

Henri Desfourneaux ra hiệu, mấy tên phụ việc đẩy cái tượng người cao lớn bạc chợt kia cho nó chúc đầu xuống thớt. Nhưng sao lại thế này? Dây chuyền động tác của tử tội có vẻ bị xáo trộn. Người ta xúm lại quanh kẻ khổ hình. Cái bộ phận đong đưa bị trật khớp. Tấm thân cao lớn ngã xuống trật ra ngoài “lỗ thớt” lẽ ra phải kẹp chiếc cổ, và thân hình ngã xuống cây đong đưa phải bị còng queo. Họ túm lấy tai gã, chụp tóc lôi dậy. Thô kệch thật, không chịu nổi thật. Chiếc dao chém lạch cạch rút lên khúc khắc giữa dây lèo. Phập. Máu phun thành vòi. Bốn giờ ba mươi hai phút.

Ngồi bệt dưới chiếc ngai của bà Eugénie, tôi mửa mật ra.

20.6.1939. Những ác mộng, ảo giác, rồi những lóe sáng suốt tai hại cứ lẫn lộn vào nhau dầy đặc suốt đêm, trong đó hình ảnh lớn lao và sáng ngời của Raspoutine nổi bật hơn hết. Đối với tôi, từ trước tới nay, anh chàng này là người gây ra sự la ó vì chủ trương xác thịt là vô tội, anh đem hết sức mình ra – một sức lực đáng kể ở chốn triều đình – chống lại những năm hiếu chiến của bầy tôi Nga hoàng. Người ta xem ngày 28 tháng 6 năm 1914 là ngày sinh của Đệ Nhất Thế Chiến vì ngày hôm ấy thân vương Francois-Ferdinand bị ám sát ở Sarajevo.

Nhưng ai có nhớ rằng cũng ngày 28 tháng 6 năm 1914 ấy – có thể là cùng một giờ - trong một thị trấn của Sibérie, Raspoutine bị bọn quốc gia chủ nghĩa Nga thuê một con điếm đâm vào người? Vị đạo sĩ ấy, mấy tuần bại liệt, dù từ giường bệnh gửi nhiều lá thư khẩn cấp, không thể nào ngăn cản Nga hoàng Nicholas II khai chiến bằng cách hạ lệnh tổng động binh.

Trong bóng tối tràn đầy tiếng tức tưởi của đêm hôm ấy, Raspoutine hiện ra với tôi, không phải như là một bậc tiên tri và thánh tử đạo do tình trạng đảo ngược tầm thường mà ra, nhưng lại mang đầy những thuộc tính của một phẩm chất thứ ba khác nữa, một phẩm chất tối cao của vị anh hùng vĩ đại trong thời buổi của chúng ta có tính cách mang đèo. Bởi lẽ đôi tay đầy phép lạ của người có quyền năng giải bệnh cho thân thể èo uột của một đứa bé, và đưa đứa bé đến sự sống và ánh sáng. Đêm nay, bao nhiêu khắc khoải của tôi đều nép mình dưới chân hình bóng nghiêm nghị mà rạng ngời của người, là chiếc chân đèn khổng lồ màu đen đang đưa lên cao một ánh lửa vàng, gây gập xuống vì đau đớn, đó là hoàng tử Alexis ngủ vùi.

23.6.1939. Từ nay không thuốc không rượu. Trẻ con chúng nó không hút mà cũng chẳng uống. Nếu ngươi chỉ có thể tìm lại được sự tươi trẻ cơ bản bằng con đường ăn thịt sống, ít ra ngươi nên miễn các tật xấu kém cỏi ấy đi vì những tật này bảy mùi người lớn.

25.6.1939. Bốn hôm nay, táo bón dai dẳng. Ngoài một cảm giác như thể là nhột nhạt ở hậu môn, bao giờ cũng nhú lên trong trường hợp như thế này, cả một vùng bụng dưới của tôi nặng và thinh, đến độ tôi thấy mình như là một cái tượng bán thân làm bằng thịt người nhưng đặt trên một cái đế toàn bằng phân.

27.6.1939. Vô phương tìm lại được quân binh bị mất theo vụ giết Weidmann. Thứ nước dược thảo làm ngực tôi nặng như chì. Mỗi lúc tôi mỗi tìm cách ngáp để tưới buồng phổi của mình bằng không khí trong mát, nhưng tìm mãi cái phản xạ cứu nguy này không được, và nước mắt cứ ứa ra thành dòng sau đôi kính.

Bấu vào bục cửa sổ mở, tôi ngạt thở như con cá bị quẳng lên cát khô. Vì nông nổi đó tôi định bụng đi khám bác sĩ, dù tôi ghét những con người làm nghề gớm ghiếc này, cái nghề chỉ chực bóc trần và rờ rịt thân thể người ta chẳng chút tình thương trong khi người ta lại rất cần đến nó. Mà tôi chẳng đả động gì đến linh hồn đâu nhé! Làm thế nào không rùng mình khi tưởng tới các buồng kín nhốt bọn người bị quỷ ám mà bọn tu sĩ giả hiệu, do La mã đẻ ra hằng hà sa số, không muốn chữa trị và cũng không thể chữa trị, những bệnh nhân mà người ta quy là “bệnh tâm thần” để có thể giao phó họ cho các bác sĩ xét nghiệm kín đáo đằng sau những lớp cửa dày?

Giả như tôi đi khám bác sĩ, thì đó phải là con người hèn mọn nhất, nghèo nàn nhất ít “bác học” hơn cả. Tôi sẽ vào phòng chờ của y ngồi chung với lũ lang thang và gái điếm, và chính ngay trong tia mắt của y là nơi trước tiên tôi tìm ra được phương thuốc cho vết thương của tôi.

Nhưng tôi nảy sinh một ý nghĩ hay hơn. Một bác sĩ thú ý là chữa giỏi cho chim sâu cũng như cho cả con voi, tại sao lại chẳng chữa cho người mới được chứ? Tôi sẽ đến ngồi đợi tại phòng vị thú ý gần nhất giữa một con mèo hiếm lạ và một con chim két chảy ghèn, và hễ đến phiên tôi, nếu cần tôi sẽ quỳ xuống khẩn khoản xin đừng từ chối săn sóc tôi như đối với các chủng loại anh em cấp dưới. Tôi sẽ cố công thật nhiều vào để y chữa trị cho tôi giống như một con chuột bạch hoặc một con chó xứ Poméranie. Nếu thiếu hơi ấm con người, ít ra tại đó tôi sẽ tìm được hơi ấm thú vật, và ít ra y sẽ không tìm cách bắt tôi mở miệng nói.

3.7.1939. Làm thế nào tôi lại điên lên đến độ tưởng rằng cái xã hội thối nát này có thể để cho một kẻ vô tội lẫn giữa đám đông sống và yêu bình thản vô sự được? Hai hôm trước đây, cả một bọn lăn xả vào bôi nhọ tôi và làm cho tôi tuyệt vọng, cuộc săn bắn dồn vào đường cùng do ác độc và ngu xuẩn đã khai tử kẻ chính trực và yêu đời. Nhưng thế là sự cứu rỗi đã ló dạng, một cách đáng lo đối với bọn chúng, một cách đằm thắm đối với tôi.

Bình tĩnh đã nào, Abel ạ, đừng giận, đừng rủa. Giờ đây ngươi biết rõ là cuộc truân chuyên lớn đang sắp sẵn, và định mệnh khiêm tốn của ngươi đang do đại định mệnh sắp đặt!

Hôm kia tôi đi đón Martine ở trường ra, như thường lệ, và tôi để martine xuống ở cù lao Grande Jatte, đại lộ Levallois, trước cao ốc đang sửa chữa. Còn tôi thì lần nữa, chống hai khuỷu tay lên tay lái chiếc xe Hotchkiss cũ kỹ, quan sát bầu trời tím nhạt buổi chiều ở cuối đường, và trong tôi dào dạt êm ả mối thương cảm làm dậy lòng tôi khi có mặt Martine.

Tôi không rõ thời gian trôi qua như thế được bao lâu cho đến lúc một tiếng rú xé trời từ cao ốc phát ra làm tôi buốt xương sống. Trời, đây chẳng phải là tiếng gọi véo von dồi dào hòa âm của sân trường Sainte – Croix!

Đây là tiếng kêu của con thú bị thương, một tiếng xé không khí làm tôi sững người trước khi lao ra khỏi xe, băng qua gạch vữa của hiện trường và chui xuống cầu thang tầng hầm. Ánh sáng nhờ nhờ làm mờ mịt mọi thứ quanh tôi, nhưng tôi được dẫn đường do những tiếng nức nở chói tai từ phía sâu trong hầm, ở đây tôi thoáng thấy một khoảng sáng hình chữ nhật của một lối ra khác. Mắt tôi mau chóng làm quen với bóng tối, và tôi nhận ra Martine. Em nằm ngửa, chiếc váy lật lên trên cặp đùi gầy gò, giữa những đống vữa và vũng nước tràn trên mặt đất. Tôi mở lời, nhưng em có vẻ không nghe, đôi tay chéo lên mặt, chỉ thở ra bằng tiếng rên rỉ trẻ con. Tôi quyết nắm lấy cổ tay em và ép em ngồi dậy thật dịu nhẹ. Chính lúc bấy giờ em bỗng để lộ ra khuôn mặt nhầy nhụa và la lớn: “Cứu tôi với! Buông tôi ra! Đau, đau, đau!” hướng về phía cửa, nơi đây thấp thoáng một bóng người.

Có những tiếng ơi ới, tiếng bước chân dồn dập, và bỗng một vòi ánh sáng lóa mắt tôi. Một giọng hỏi Martine “Ai làm cháu đau?” và trời sập xuống tôi khi nghe em la lối “Ông này, ông này, ông này!” vừa đưa ngón tay chỉ vào tôi. Đến đây tôi mất cả trí. Tôi lao về lối ra kia, nhưng có ai gạt chân làm tôi mất đà ập xuống nền đất nện. Khi tôi đứng lên, một vòng đàn ông vây lấy tôi trong khi hai người đàn bà quấn quýt bên Martine. Mấy bàn tay túm chặt hai cánh tay tôi, mấy cái mặt đen xồ đến tôi huỵch toẹt những lời chửi rủa thô tục. Kế đó là phải đi, bị đẩy đi tới trước, một cánh tay bị bẻ quặt ra sau lưng, đương đầu với đại lộ đang oa oa một ụ kèn cảnh sát cấp cứu.

Tôi có cảm giác nhẹ nhõm khi bị xô chúi lên xe. Ít ra là thoát được đám đông chưa chi đã xúm lại quanh tôi và to tiếng căm phẫn. Tôi nghĩ mọi việc sẽ sáng tỏ khi đến đồn cảnh sát ở Neuilly, nơi người ta đưa tôi đến. Nhưng ngay từ cuộc thẩm vấn đầu tiên, tôi kinh hoàng thấy ra những lời phủ nhận của tôi vô nghĩa đến chừng nào trước những tình huống trói buộc, và nhất là trước sự kết tội rành rành của Martine. Bé gái này hóa điên chăng? Hay thật tình em nghĩ rằng tôi chính là kẻ tấn công em trong bóng tối dưới hầm? Hay là em cho rằng muốn lẹ làng thoát khỏi tôi thì dập tôi thành kẻ hành hung? Lắm khi tôi để ý thấy rằng những lời nói dối của trẻ con chỉ là một cách cố tình giản dị hóa để đặt ra cho người lớn một tình huống mà chúng không dè tình tiết tế nhị. Tựu trung tôi là nạn nhân của một cách xử sự đi ngang về tắt táo tợn!

Tôi bị giữ lại đêm tại bót cảnh sát Neiully, và ngay buổi sáng một chiếc xe hòm đưa tôi đến Bộ Nội vụ, đến đội kiểm tục có nhiệm vụ bao trùm các việc thuần phong mỹ tục. Một viên cò của phân khu chất vấn tôi suốt buổi chiều, hay nói cho đúng hơn – vì cũng cần phân biệt rõ – đã ghi nhận lời cung khai của tôi.

Thái độ tiếp đón đàng hoàng, dù có khoảng cách, cũng đỡ đần cho tôi sau bao nhiêu lớp lang của hôm trước và cái đêm địa ngục sống chung với bọn ma cô rượu chè. Lần đầu tiên người ta đối xử với tôi có tình người, nghĩa là có lễ độ. Nhưng y giáng cho tôi những lạnh lùng và vì thế mà thêm phần chết người. Y cho tôi biết rằng những bằng chứng thu nhặt được ngay sáng nay quy kết rằng tôi có mặt thường xuyên và khó hiểu chung quanh các trường học ở đại lộ Saussaye. Một cuộc truy tìm lại hãng xe kết thúc bằng sự tịch thu các ảnh chụp và các cuốn băng của tôi. Tôi đoán một phần nhỏ trong lời khai của bà Eugénie, điều này cũng đủ bắt đầu khiến tôi e ngại điều dữ. Kế đó, vụt một cái, ông có kết quả khám nghiệm y khoa cho biết thật sự là có cưỡng bức. Cuối cùng ông đưa ra cái hình rõ ràng là chính tôi chiếu theo hồ sơ: hình ảnh của một kẻ nguy hiểm có tật xấu. Và thình lình cửa bật mở, và Martine đi vào. Ôi, mọi thứ đã sắp đặt lớp lang để hại tôi! Bao nhiêu điều chịu đựng cho đến giờ phút này chẳng thấm vào đâu so với những lời buộc tội dập dồn chi li và rành mạch, tục tĩu mà nữ tiểu yêu đổ xuống đầu tôi. Cây bút của tôi không đành lòng ghi chép lại một phần trăm những lời trí trá – xen lẫn với những việc vụn vặt có thật - mà nó thu gom lại để cho tôi tàn đời. Cuối cùng ông có báo cho tôi biết chiếu theo điều khoản 332 của bộ luật hình sự, sự cưỡng hiếp thân thể một đứa trẻ dưới 15 tuổi bị xử phạt hai mươi năm khổ sai. Ông đứng lên bảo:

- Luật sư của ông đề nghị với ông là sẽ bênh vực cho bệnh điên, tôi nghĩ như vậy. Có nghĩa rằng ông sẽ thổ lộ đừng giấu giếm gì hộ tôi. Sẽ đưa ông đến thanh tra ghi chép lại lời cung khai của ông. Chừng nào dự thẩm chưa buộc tội ông, chừng ấy trong vụ này ông hãy còn là một nhân chứng có thể nói là… được đặc cách.

Và hả hê theo từ ngữ vừa thốt, ông giao tôi cho một nhân viên dẫn tôi lên ba tầng lầu, sát mái, tại đây, gã này ấn mười ngón tay đã lấm mực in của tôi xuống một tấm thẻ, rồi chụp hình tôi nhìn thẳng, nhìn nghiêng, tôi, kẻ săn trộm hình ảnh, ôi tình trạng đảo ngược nặng nề và buồn cười thay! Đến đây mới thật sự bắt đầu những điều nghiêm túc.

Chúng nó ba đứa trong một gian phòng chật chội, nóng quá mức, xấu xí và vô nghĩa như địa ngục. Một thằng nhỏ, một thằng mập, một đứa cỡ trung. Thằng trung bình lóc cóc bàn máy tính đánh chữ lụm khụm nổ lách tách như sung liên thanh. Thằng mập làm ra vẻ hiền lành. Thằng nhỏ con hận lộ ra ngoài. Thằng mập lúc đầu bảo tôi đây là thủ tục. Bởi lẽ đây là quả tang và mọi chứng cớ phù hợp với nhau, tôi chỉ việc ký vào một bản khai mà hai bên cùng thảo ra. Tôi lập tức phản bác rằng, về một điểm chính yếu, nhân chứng đặc cách là Abel Tiffauges không đồng tình vì phủ nhận mình là kẻ cưỡng hiếp. Thế là y ngửa người ra sau ghế; một nụ cười dịu dàng khả ố nở ra trên mặt y

- Tôi kể cho anh nghe câu chuyện, y mở lời như vậy. Ngày xưa có một người mở hang sửa xe sống độc thân ở quảng trường Porte-des-Ternes. Và bằng một vẻ vờ vịt, y tuôn trọn hồ sơ về tôi ra, bồi những lời nói rõ thêm mà tôi chưa biết, cái cảnh diễn ra tại điện Tokyo được dựng lại nhờ các tấm hình, tai nạn xảy đến với Jeannot do bà Eugenie thuật lại, và từ xâu chuỗi phức tạp ấy – mà mắt xích nào cũng khó cãi lại – vụ cưỡng bức Martine diễn ra vô cùng ăn khớp. Thái độ một mực phủ nhận của tôi là không có lý và rồi đây chỉ tổ làm cho bồi thẩm ngán ngẩm khi tôi bước ra trước tòa đại hình.

Tôi phủ nhận suốt sáu tiếng đồng hồ, mồ hôi vã ra, mệt mỏi xiêu vẹo, bị chửi bới và đánh đập no nê. Cuối cùng thằng nhỏ lôi tôi đến một tấm gương soi lủng lẳng trên chậu rửa. “Mày nhìn xem, hắn bảo, cái mặt này mai chường ra cho bồi thẩm đoàn. Y sì cái bản mặt giết người.” Tôi vô tình nhìn vào. Lần đầu tiên hắn nói đúng. Rồi hắn nói thêm là hắn có đứa con gái cùng tuổi với Martine, và loại cặn bã như tôi đây, hắn muốn tự tay xiên tuốt vào chân. Vì tôi cao hơn hắn cả cái đầu và hai vai, hắn bắt tôi ngồi xuống. Tôi nghĩ nó sẽ bạt tai tôi, cho nên tôi tôi cất kính mắt sợ hắn đánh vỡ và làm mù mắt tôi. Khi tôi hiểu rõ mọi sự xảy ra, khi tôi cảm thấy nước miếng nhột nhạt lăn trên má, tôi đứng lên. Bọn chúng lùi lại, có lẽ tôi làm dữ. Chúng nhầm to, một lần nữa! Một sự trầm tĩnh mênh mông, gần như dật lạc, vừa xâm chiếm lấy tôi. Bởi tôi không còn kính đeo mắt, một lớp sương mù làm bằng màu sắc dịu nhẹ phủ vây. Tôi cảm thấy dưới chân mình như thể một luồng địa chấn đang báo hiệu cho hành khách rằng mọi thứ vừa mới toa rập với nhau, và toa rập còn dài lâu nữa đã cho con tàu chuyển động. Đại định mệnh lên đường, và đã gánh lấy định mệnh riêng tư nhỏ bé của tôi. Một hình ảnh xa xôi trở về với tôi: con quay trục nghiêng của Nestor, món đồ chơi tuyệt đối của nó vốn lắc lư nhẹ nhàng nhưng cung ứng cho nó cái bằng chứng trực tiếp và khả cảm của trái đất đang xoay. Trong mỗi đốt xương của mình, tôi cảm nhận ra tiếng đập thầm của trái tim thế giới.

Tôi mỉm cười. Tôi bảo rằng theo tôi thì cuộc lấy khẩu cung đã xong. Thằng mập ngoan ngoãn, một sự ngoan ngoãn đáng sợ nếu như ở vào trường hợp khác, rồi hắn gọi một thằng cớm cho đưa tôi về xà lim. Đêm ấy, tôi vui không ngủ được. Tôi chẳng phải sợ gì nữa hết. Chiếc nồi tướng của Lịch sử đã sùng sục, và chẳng ai ngăn nổi, và chẳng ai biết nó cho ra món gì, mà cũng chẳng hay sẽ quẳng cái gì vào đó. Ngôi trường sẽ cháy, như hai chục năm trước ở Beauvais. Nhưng phen này, trận cháy sẽ ngang tầm với anh chàng Tiffauges khổng lồ và ngang tầm với nồi hăm dọa khủng khiếp đang đè nặng lên người hắn.

12.7.1939. Luật sư Lefevre, được chính thức chỉ định để bào chữa cho tôi, đến thăm tôi, Ông cảnh giác tôi đừng có lạc quan sằng bậy. Hồ sơ của tôi tệ hại quá xúi ông nghĩ đến chuyện sẽ bào chữa bằng sự suy yếu tâm thần của tôi. Tôi bảo ông chớ mất thì giờ với tôi, sẽ chẳng có án, chẳng có cãi gì cả. Lịch sử đang lên Rừng kèn đồng ngày xưa của thành Jéricho nay sẽ làm sụp ngã tường đá nhà tù của tôi. Tôi càng nói lại càng cảm thấy ông luật sư càng củng cố cái quyết tâm bào chữa cho tình trạng điên loạn của tôi. Ông hỏi tôi, ngoài giấy bút được cấp từ ngày thứ hai, liệu tôi có cần đọc sách gì cho qua mấy tuần rỗi rảnh để ru ngủ mọi sự chăng. Tôi định yêu cầu cuốn Thánh kinh, nhưng nghĩ sao lại thôi. Tôi có cần là cần bộ luật hình sự, và chẳng cần gì khác.

16.7.1939. Tôi không nên tự giấu mình một điều là tất cả những con người này vốn ghét tôi vì hiểu nhầm, nhưng giá như họ biết tôi, giá như họ hiểu, họ còn ghét tôi ngàn lần hơn thế này nữa, và ghét với đầy đủ ý thức. Nhưng nên nói thêm rằng nếu họ biết tôi trọn vẹn, họ sẽ yêu tôi vô hạn. Như Chúa vậy, Chúa là đấng hiểu tôi trọn vẹn.

30.7.1939. Luật hình sự. Rõ lạ lùng! Cái xã hội nhồng nhộng phơi bày những phần cơ thể thô bỉ nhất, những ám ảnh kín đáo nhất của nó. Ưu tiên số 1: Bảo toàn tài sản. Không có tội ác nào bị xử phạt man rợ hơn là tội xâm phạm tài sản. Những thương tích cùng các đòn đả thương cố ý gây nên chỉ bị phạt tù nhẹ. Nhưng trộm cướp thì bị phạt tử nếu kẻ phạm pháp mang một khí giới nào đó, dù khí giới vẫn còn nằm trong chiếc xe được trưng dụng đưa đến nơi trộm cướp. Mặt khác, sự tàn ác ngu xuẩn của đa số đạo luật này khiến cho đạo luật hoàn toàn khó bề áp dụng. Tưởng chừng kẻ viết luật vì cặm cụi một cách trừu tượng trong phòng vắng nên chỉ cố gắng viết ra những văn bản kềm hãm bớt các cơn hận thù của các vị thẩm phán và bồi thẩm bị buộc phải quyết đoán tại trận, mũi đang ngửi mùi tội ác. Sự việc diễn ra ngược lại. Rõ ràng là những đạo luật do một tên điên khát máu thai nghén và phải trông đợi các thẩm phán và bồi thẩm hiểu biết để giảm nhẹ sự ngu dốt nặng nề của luật.

Có những người đúng là có tội một cách tiên thiên trước mắt pháp luật dù chưa làm gì cả. Điều 277: “Bất cứ kẻ hành khất hay lang thang nào bị bắt đang mang theo khí giới dù chưa dùng, dù chưa cậy thế hăm dọa, hoặc thủ sẵn các dũa, móc hay dụng cụ khác... sẽ bị phạt từ hai cho đến năm năm tù giam.” Một phụ nữ rõ mặt ngoại tình có thể bị nhốt đến hai năm, chồng của thị là người độc quyền giải tỏa hình phạt này bằng cách thuận tình thu hồi nữ can phạm về nhà mình (điều 337). Người đàn ông có quyền giết vợ và giết nam tòng phạm bị bắt quả tang ngoại tình ở trong nhà của hai vợ chồng. Tất nhiên người phụ nữ không có quyền như vậy trong trường hợp tương tự (điều 324). Không một chữ nào về tội loạn luân. Do đó người đàn ông có thể sống như vợ chồng với vợ hoặc con gái, bà hoặc cháu gái, có với người nữ ấy một gia đình Sây đẹp trước mắt xã hội một cách bình yên,

Chẳng phải bồi thêm làm gì. Cả một khối lượng đầy dẫy ngu dốt, căm hận và hèn mạt cẫu trệ khiến ta chẳng bỏ công bất bình.

3.8.1939. Mấy đêm tù lôi ngược tôi trở về những giờ chong chong dằng dặc ở trường Saint-Christophe. Không gợi ra hình ảnh của Nestor. Cứ thế trọn cuộc đời đã qua của tôi trải ra trước đôi mắt nhắm của tôi như một toàn cảnh, khác nào tôi đang chuẩn bị chết.

...

Tôi cố rút ra một triết lý từ cái nợ đời của tôi với Martin. Tôi suốt đời yêu trẻ, nhưng từ nay thì loại trừ con gái nhỏ. Mà con gái nhỏ là gì đã? Nó có khi là đứa con trai “bị bà mụ bắt lộn”, như người đời bảo, và rất nhiều khi là người đàn bà hãy còn nhỏ, nhưng còn đứa con gái nhỏ thực thụ thì không có đâu cả. Vả chăng đó là điều khoác lên đám nữ sinh một cái vẻ buồn cười dễ thương: chúng nó là đám đàn bà tí hon. Một bầy chạy lu xúp chân ngắn làm phấp phới lớp viền váy chẳng khác gì váy phụ nữ ngoại trừ kích tất. Cách ứng xử cũng thế. Tôi thường bắt gặp các em bé gái thật nhỏ - ba bốn tuổi - đã có thái độ rất là đàn bà và đàn bà một cách dễ tức cười đối với đàn ông, hoàn toàn không giống như các đứa con trai nhỏ đối với đàn bà. Vậy thì cớ gì chọn con gái nhỏ vì không có con gái nhỏ?

Tôi nghĩ rằng quả tình không có đứa con gái nhỏ. Đây là sự lóa mắt về đối xứng. Thật vậy lẽ thường không biết loại trừ sự đối xứng. Cứ lớn lên là đàn ông đàn bà thì nhỏ cũng phải là con trai con gái. Nhưng đứa con gái nhỏ thì chỉ là cái cửa giả, nó giả tạo giống như hình ảnh nuốm vú của đàn ông hoặc ống khói thứ hai trên một số tàu thủy lớn. Tôi lâm vào một tình trạng lóa mắt. Tôi bị ở tù là vì thế chứ không có gì khác.

3.9.1939. Tôi viết mấy dòng này ở tại nhà, trong văn phòng của tôi ở hãng xe chỗ Ballon, hãng đóng cửa hai tháng nay và sẽ kéo dài lâu hơn. Tôi được trả tự do cuối buổi sáng hôm nay. Hồi chín giờ tôi gặp lại ông bồi thẩm. Ông bảo tôi đại khái như sau:

- Ông Tiffauges ạ, hồ sơ của ông nặng, ông ạ, nặng lắm. Gặp thời buổi bình thưởng bổn phận của tôi là phải kết tội ông và đưa ông ra tòa đại hình. Nhưng nay nước Pháp động binh. Chiến tranh bùng nổ chưa biết lúc nào. Theo phiếu lý lịch của ông, tôi thấy ông thuộc vào lớp được gọi sớm nhất đấy. Chung quy ông chưa thú nhận điều gì, và cô bé Martin biết đâu chẳng có tật thêu dệt, như lắm khi xảy ra với các cô bé cùng trang lứa. Vậy tôi ra án lệnh miễn tố. Nhưng xin ông đừng quên rằng chỉ có chiến tranh mới giúp ông thoát khỏi tòa đại hình, và ông nên tâm niệm chuộc tội bằng cách hành xử của mình tại chiến trường.

Thật tình mà nói, không thể nào dùng lời lẽ hay hơn để khuyên tôi lên đường nhập ngũ! Nhưng cần gì! Ngôi trường đã cháy thêm lần nữa. Toàn bộ nước Pháp lao xao như một tổ kiến và chuẩn bị ứng chiến. Không hăng say như năm 1914 đâu! Những người như Pesguy và Barrès lần này không dùng lời, không dùng bút rêu rao cái bệnh ái quốc của mình trong hàng ngũ thanh niên. Những người bị động viên thậm chí hình như không biết rõ vì sao họ chiến đấu. Nhưng biết làm sao được? Chỉ có tôi, thằng Abel Tiffauges này, tục danh thằng Cõng Trẻ, thằng teo chim và tên còi cọt cuối cùng của dòng dõi những vị khổng lồ mang đèo, mỗi một mình tôi biết thôi, và có cái lý của nó...

Bọn cớm đã xáo tung lên hết ở nơi này và cũng tốt thôi. Chúng nó ẵm đi toàn bộ những tấm hình chụp và băng âm, nhưng tôi tìm thấy lại tung tóe trên sàn nhà Những Trang Viết Bằng Tay Trái của tôi. Dễ thường bọn mù chữ kia không thèm đến những tờ giấy dày đặc một loại chữ viết “trái trết” khó đọc. Lẽ ra chúng nó nhờ đó biết được tất cả.

4.9.1939. Tôi có thể vui chơi dưới ánh nắng mặt trời. Giữa đêm khuya, nỗi chờ đợi một sự cố lớn đang chuẩn bị cứ làm tôi tràn đầy nỗi sợ hãi. Trong khi giấc ngủ đến với các người anh em thì mặt mày tôi lại căng thẳng trâng trâng nhìn vào bóng đêm mà ghê sợ. Một câu nói nào đó vụt đến tai, và tai tôi tiếp thu được ngay âm thanh thầm thì ấy. Bao nhiêu xương trong người tôi rùng lên sợ hãi, và thịt da tôi dựng lông lên. Một bóng người lướt qua gần cạnh, và tôi tròn xoe mắt nhận dạng được bề ngoài rồi cả mặt đất rung động theo mỗi bước chân thình thịch của người ấy.

Có Chúa chứng giám cho tôi, tôi không hề mong cầu thời mạt thế! Tôi là tên khổng lồ hiền hòa vô hại thèm nỗi dịu dàng, nó dang hai bàn tay to lớn ra, chúm lại thành hình chiếc nôi. Mà Chúa biết tôi còn rõ hơn chính tôi biết tôi. Lời của tôi chưa đến đầu lưỡi, người đã biết trọn vẹn. Vật thì thử hỏi tại sao cả một bầu trời nặng hận thù và chớp lóe dọc ngang như thế kia, tại sao cả một màn hơi máu bay ra từ đất, các hố chôn người khói đen bay đến các tầng tinh tú? Trước đây tôi chỉ mong cõng lên vai mình những tên kỵ sĩ tí hon cười ngặt nghẽo và bạo ngược. Nhưng tiếng kèn của người xé tan cái im lặng hiền hòa của đêm, tầm nhìn của người làm tôi hốt hoảng, người lay động những giấc mơ của tôi như bầy bướm nhẹ cánh, người túm lấy chân và tóc tôi để lôi kéo tôi vào cầu thang ánh sáng của người.

Chịu lễ sáng hôm nay, lòng dào dạt âm thầm, trong ngôi nhà nguyện giáp với ngôi nhà thờ Saint – Pierre ở Neuilly. Chất mát mẻ phấn khích của thịt da còn phập phồng của Giê – su Hài đồng dưới cái lớp trong bóng của chiếc bánh thánh nhỏ và khô làm bằng bột thô không dậy. Nhưng biết nói sao đây về sự ranh mãnh của các linh mục La Mã không cho con chiên nhận bí tích theo hai cách mà lại dành riêng cho mình cái ngon ngọt cho thịt da được hưởng thứ nước máu nóng chúa chan rưới vào mình?

Ể ĐẦM LẦY Nguyên tác: Les Rois des Aulnes ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 1997
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Michel Tournier

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.