Chúa Tể Đầm Lầy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 19 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

Nhưng con thú chúa tể của Rominten là con nai mà người ta săn núp hoặc săn lùa – là những lối sắn bắn khả thi tại chốn rừng rậm – và đối với vị chủ quản săn bắn là một nghi thức vừa say sưa, vừa tế sinh mà cũng là cung cấp lương thực. Nghi thức ấy lại còn có cái đạo với nét bí truyền đòi hỏi nhận định và minh giải các gạc nai rụng, và nhất là việc “cho điểm” cuộc săn bắn do một hội đồng chuyên gia săn bắn chính thức, tối thiểu tám ngày sau khi nai chết, các gạc nai đã khô trong một căn phòng được sưởi suốt thời gian ấy.

Mùa đông sắp hết, và công việc chủ yếu của Tiffauges là lọc lựa, qua các rừng cao và rừng rậm, các gạc nai rơi rụng, một sự truy tìm càng tăng phần quan trọng trong thời khắc này của năm là vì những con nai già năm nhất thay gạc vào đúng tháng hai và tháng ba, những con trẻ hơn có khi đợi tới đầu hè mới mất gạc. Công việc trở nên tinh vi vì thường phải đợi hai ba ngày rụng cách nhau giữa hai các gạc của cùng một con nai, thành thử tìm ra được một gạc thì phải lùng kiếm lâu lắc để tìm ra gạc kia, nếu không thì chẳng có giá trị gì. Dù tận tụy, tiếp theo là sự say mê gia tăng mãi theo công cuộc truy tìm, Tiffauges sẽ không hoàn thành công tác nếu không được sự giúp đỡ của hai con chó đặc biệt làm rất tốt công tác này, chúng nó được đưa đến từ một huyện lỵ ở gần khi vắng mặt Goring là người vốn thích thú hành hạ chó và không thích chó. Điều lạ lùng hơn nữa là sự tinh thông của viên chủ quản săn bắn, ông này biết vanh vách những chiếc gạc người ta đem đến cho ông, chiếc nào là chiếc thứ tư trên đầu con Théodore, chiếc nào là chiếc thứ bảy của con Sergent hoặc chiếc thứ mười của con Poseidon già nua. Các gạc rụng được sắp xếp vào bộ sậu của riêng từng con, đặt lên trên các đầu nai mấy năm trước, theo một lối sắp xếp hình tháp mà đỉnh tháp được đăng vào đợt thứ mười một hoặc thứ mười hai bằng cái chết cuối cùng của con vật bị giết.

Sự việc thống chế đến đây vào chiều hôm ấy đã được thông báo trước, và một đội kèn được triệu tập đến trước trại săn để thổi chào mừng khi thống chế bước xuống xe. Tiffauges và viên trưởng kiểm lâm đã đặt lên bàn các gạc rụng thu góp được kể từ khi ông chủ quản đến đây lần cuối cùng. Mấy chiếc đầu này lập thành một bản biên niên chặt chẽ nhất và thân thiết nhất của đời sống tại Romintenm và công việc diễn giải tạo nên những lời tranh luận hào hứng giữa các viên kiểm lâm với vị chủ quản. Chẳng hạn nó cho phép theo dõi các giai đoạn nảy nở của con vật quý, và xác định chắc chắn đến mùa nào phải hạ sát nó vì một khi đã lên đến cực thịnh thì năm sau con vật phải suy thoái.

Chiếc xe Mercedes trương cờ đã lăn bánh vào lối đi rộng rãi đưa đến trại săn, và đoàn thổi kèn lấy thế đứng nghiêm, đưa nhạc khí lên môi thì bỗng một gã hộ vệ nhảy xuống trước xe lao tới cao giọng:

- Đừng thổi kèn! Sư tử nó ghét!

Mọi người đều sửng sốt và thoáng chốc người ta tự hỏi “sư tử” phải chăng là biệt hiệu mới khác mà “con người sắt” được người ta trao cho, nhưng làm thế nào quan niệm được cái ghét đột ngột này đối với loại nhạc mà ông vốn thích hơn cả?

Chiếc xe bề thế dừng lại êm ru, bốn cánh cửa bật ra cùng một lúc, và người ta thấy từ cửa sau chuồi ra một tấm thân dài màu hung, một con sư tử thực thụ đang kéo theo sau nó, ở đầu mút sợi dây da, viên thống chế, cười toe toét và lúng túng, trong bộ quân phục màu trắng khiến ông tròn trịa như quả bóng.

- Buby, Buby, Buby, ông cất giọng uốn éo vừa bước qua sân, vẫn bị lôi kéo vì con mãnh sư đang sợ sệt bò sát đất. Và người với vật biến vào trong nhà, được dẫn đường bởi một đoàn thuộc hạ xô đẩy nhau khiếp hãi.

Người ta loay hoay tìm một gian phòng có thể chứa chấp tạm thời con sư tử, và cuối cùng chính cái phòng tắm của ông Goring được biến thành trại thú sau khi đã đem một xe cát đến đổ vào bể tắm để cho Buby có thể duỗi mình trên lớp đất mềm, đúng như thói quen của tất cả loài sư tử. Rồi thống chế trở ra lại, đến đối diện với đoàn nhạc và đứng nghiêm chăm chú nghe điệu kèn chào mừng được tập dượt từ nhiều tuần lễ nay dành riêng cho ông. Sau đó ông cám ơn bằng cách đưa lên chiếc gậy nửa xanh nửa vàng, và biến mất vào phòng riêng để thay áo. Một giờ sau, ông trao đổi với vị trưởng kiểm lâm, cầm lên trên tay những gạc nai rụng xuất phát từ chương trình sắn bắn mùa hè và mùa thu.

Tối lại, Tiffauges được dịp nhìn thấy thấp thoáng một cảnh tượng ghi ấn tượng vào đầu óc mình bằng những màu sắc đơn giản và rực rỡ của một tấm tranh bình dân. Goring mặc một chiếc áo kimônô đỏm dáng màu xanh nhạt, trên bàn trước mặt ông là nửa con heo rừng, ông cầm lên một đùi thịt, giống như chiếc chùy của Hercule. Con sư tử ngồi bên cạnh say sưa theo dõi cái đùi thịt đưa qua đưa lại trên đầu nó, và há mồm đớp chậm chạp, vu vơ, theo hướng miếng mồi khi thấy nó lại gần. Cuối cùng, viên chủ quản ngoạm vào thịt, và trong thoáng chốc khuôn mặt ông bị lấp đi đằng sau cái đùi thịt to tướng. Kế đó, miệng nhồm nhoàm, ông đưa đùi thịt cho con sư tử, đến lượt con này cắn phập vào đó. Và như thế là một sự đưa đi rút về của miếng thịt mồi giữa hai kẻ khổng lồ đang trìu mến nhìn nhau vừa nhai bỏm bẻm từng mớ thịt đen thơm.

—★—

Công việc phân chia cho các vị quan khách sẽ săn bắn những con nai nào, tùy theo địa vị của họ, là một công việc khó xử hơn cả đối với vị trưởng kiểm lâm, và lắm khi tạo nên những trận dông bão mà ông phải chịu đựng bằng tất cả sự dữ dội. Thống chế Von Brauchitsh là người phát sinh ra bi kịch bắt nguồn từ sự ganh tuông của vị chủ quản vốn bảo bọc cho bầy nai của Rừng Cấm. Vị chỉ huy tối cao của quân đội ra đi giữa đêm khuya, người hộ tống là viên kiểm lâm của huyện lị gần đó đã phát hiện ra đường đi của một con nai mà dấu chân rõ ràng là loại nai bảy tuổi, rất có thể đó là con Raunfbold. Vị chủ quản ra đi trễ hơn cùng với viên trưởng kiểm lâm, và đi về hướng rừng trú ẩn của hai con nai quý mà bao nhiêu gạc rụng đã chỉ điểm thế nào chúng cũng bị hạ. Đêm xuống khi ông trở về trại săn chở theo ở sau xe một con nai già bảy tuổi, và một con khác đi cặp đôi, còn này sáu tuổi, cả hai đều có những chiếc sừng tuyệt đẹp, đầu con nai già bảy tuổi xòe ra như giàn đèn, đầu kia thưa hơn, giống như bàn tay ba ngón. Mặt mày rạng rỡ, vị chủ quản rút lui vào phòng chuẩn bị ăn tối. Một giờ sau người ta nghe tiếng xe của Brauchitsch đi săn chở về.

Theo tục lệ, gặp trường hợp như thế này người ta tổ chức một lễ “săn lạnh” vào giữa đêm khuya tại sân bên trong của trại săn, rực rỡ ánh sáng từ các lò lửa và những mồi thông. Như thế là, sau khi được no say vui vẻ, các nhà săn bắn tề tựu trước ba cái xác được sắp xếp theo trật tự lớn nhỏ theo đúng lệ đặt ra. Vừa thoáng trông thấy, vị chủ quản cúi xuống nhìn con nai lớn nhất, tức là con Raunfbold, với chiếc đầu được vinh dự nhú lên hai mươi hai điểm và nặng ít ra là chín kilô. Ông đưa tay ve vuốt những đường vân chạy dọc theo các gạc, những phần hóa thạch, những đường rạn nứt thấy rõ dọc theo các sừng cứng. Ông đưa ngón tay mân mê các mùi nhọn ở các gạc bị cắt và ở các gạc nhú chổng lên, các gạc này màu trắng như ngà tương phản với màu nâu cháy của gạc già. Khi ông đứng lại thẳng người, bao nhiêu nét vui tính tan biến hết trên khuôn mặt hồng hào của ông và một cái nhếch môi ủ dột khiến cho phần môi dưới của ông trề ra. Ông thốt lên:

- Đúng là ta thích bắn loại nai này.

Nhưng mười hai người lính thổi kèn sắp hàng thành vòng cung đâu vào đấy cả rồi, và sau hiệu lệnh của viên trưởng kiểm lâm, họ cử điệu kèn vây bắt thú săn. Viên trưởng kiểm lâm, đầu trần, long trọng xướng danh các vị đi săn cũng những con nai bị hy sinh. Y kết thúc bằng vài lời cảm tạ và kính chào. Lúc bấy giờ tiếng kèn lại trồi lên, điệu nhác nghe âm u, khào khào để tiễn đưa một ngày tàn, còn Tiffauges đứng khuất lấp trong bóng tối ở hành lang nhà thờ bằng gỗ, anh cố gợi lại những kỷ niệm đang thức dậy theo điệu nhạc của rừng rú và thở than kia. Anh hình dung thấy mình sống lại trong sân chơi ở trường Saint-Christophe lắng nghe tiếng vang vọng của sự chết chóc sâu thẳm và tuyệt vọng, rồi lại hình dung thấy mình ở Neuilly trong chiếc xe tàng Hotchkiss cố tình lắng nghe một tiếng thét nào đó mà anh tình cờ nghe được trước kia, và không hề bắt gặp lại, nhưng đã từng xuyên suốt con người anh như một mũi giáo. Trong tiếng kèn tối hôm nay có những âm sắc rõ ràng là gần gũi với anh, nhưng đây là một sự họ hàng giàn tiếp, ở ngoài lề và giống như sự giả tạo. Tuy nhiên đêm nay anh âm thầm đinh ninh rằng mai sau mình sẽ nghe điệu nhạc tử khí này ở tình trạng tinh túy, rằng nó sẽ cất lên từ dải đất nước Phổ cũ kỹ này nhưng không phải dành riêng cho giống nai đâu.

Goring dằn giọng dọa dẫm, lập lại câu nói vừa rồi:

- Đúng ta thích săn loại nai này.

Và vì ông ta đối diện với viên trưởng kiểm lâm, ông chộp lấy ve áo của ông này và rít lên ngay vào mặt:

- Ông cho khách giết những con đẹp nhất, còn tôi chỉ được những con hạng hai.

Viên trưởng kiểm lâm ấp úng không thành tiếng:

- Thưa, trình ông chủ quản, thống chế Von Brauchitsh là vị chỉ huy tối cao của quân đội ạ!

- Đồ ngốc, ta nói là nói chuyện nai kia! Mà nai thì có hai loại: nai thượng hạng là của ta! Và những con khác! Ông hãy cố học tập đừng lẫn lộn lần nữa!

*

* *

Một trong những con nai thượng hạng đáng quý nhất hiển nhiên là con Candélabre mà viên trưởng kiểm lâm ghi chép theo dõi gần như hàng tháng và nó có triển vọng trở thành chúa tể các đàn nai ở Rominten. Một hôm Goring ăn mặc cồm cộm như con gấu, lê bước nặng nề trong lớp tuyết mềm để tìm lại dấu chân chó sói được thông báo, thì thình lình con Candélabra đột hiện, như ma, giữa đám cành cây trắng giá. Nó như pho tượng bằng gỗ mun phía trên cần cổ gân guốc của nó sừng sững một đám hai mươi bốn cái gạc phân chia đều đặn như đường vân thủy tinh. Nó cao lớn và dựng thẳng như một thân cây, cây sống động phì phò, tai chĩa thẳng, mắt sáng như gương, đứng đối mặt với ba người. Cái má phệ của ông chủ quản kích động.

- Phát đạn đẹp nhất đời ta là đây, một phen hạ thủ đẹp đẽ nhất mà ta từng được chứng kiến!

Ông đóng nòng súng lại mà nãy giờ ông đang mang súng gập đôi kẹp trên cánh tay, và chầm chậm nâng súng trên vai. Đến đây ông trưởng kiểm lâm, bằng một vẻ tự quyền làm Tiffauges phát sợ, đứng ra ngắn trở cái ham muốn hung hãn kia. Ông cất cao giọng đủ sức để suỵt cho con nai chạy:

- Kính thưa ông chủ quản, con Candélabre là con gây giống hảo hạng nhất của Rominten. Ông nương tay cho nó một mùa nữa. Nó là tương lai của khu Rừng Cấm!

Goring giận cành hông:

- Ông có biết nếu thế thì tôi chịu thiệt như thế nào không ? Nó cân ít ra là hai trăm kilô và cũng đến mười ki lô gạc ở trên đầu! Nó có thể bị đâm lủng bụng vì một con nai tơ nào đó nhanh chân hơn và ngứa sừng hơn. Và ông có biết sau khi thay rụng thì gạc của nó sẽ thành ra như thế nào chăng?

- Gạc của nó còn đẹp hơn thế nữa ạ, thưa thống chế. Còn sang trọng hơn nữa ạ, ba chục năm coi rừng mách bảo cho tôi biết điều ấy. Còn mạng sống của nó, tôi đem mạng sống của tôi ra bảo lĩnh. Nó sẽ không gặp phải gì đâu!

Goring dang tay hất mạnh ông trưởng kiểm lâm, gằn giọng thêm:

- Để tôi bắn nó.

Nhưng đến khi ông dưa súng lên vai, con Candélabra đã mất dạng. Nó thoát chạy mà chẳng gây một tiếng động nào, chẳng một cành lá lắt lay. Tưởng chừng như rừng cây cao đã hút lấy nó, như hút một cái bóng sống động, Cơn giận dữ của ông chủ quản sẽ không lường nổi nếu ông trưởng kiểm lâm, vốn tiên liệu phong ba bão táp và biết cách đối phó, không mau mau dẫn ông chủ quản đi thêm vài cây số nữa trước khi trời tối, xuống một thung lũng đầy thạch thảo mọc cao va một rừng cây phỉ còn nhỏ nhưng hấu như dày đặc. Ông chủ quản làu bàu khe khẽ khi phải nằm xuống bò sát để băng qua một cây gai tua tủa những cái gai đen trên một địa thế đổ dốc xuôi xuống một kẻm đá. Nhưng ông nín thở khi gặp một mặt bằng cho phép ông quỳ gối xuống và phóng ống nhòm dò xét dưới vực sâu. Cả bầy có đến ba chục con, co cụm lại ở chân dốc thẳng đứng, và hơi thở của bầy thú tỏa lên thành một lớp mù lưa thưa trong không khí lạnh giá. Phát súng đầu tiên chưa nổ ra thì một con nai cái vô sinh có vẻ là đầu đàn đã báo động. Ba người đứng đầu gió, và vách đá chắc hẳn đã dội ra tiếng động, nên chỉ con thú lạc hướng phóng chạy thẳng tới bọn họ. Phát đạn đầu tiên làm quỵ ngã chú nai tơ hai tuổi và không làm chùn bước cả đàn thú ào ạt mà người ta trông thấy rõ ràng là đang vọt qua xác con nai tơ. Ông chủ quản đưa súng lên, bắn, vỏ đạn tung tóe quay tròn dưới chân ông. Ông nhìn, nhắm, bắn, cười lục cục khoái trá. Con nai già đi cặp với con nai cái bị đạn ngay trước ngực, rướn người lên, vọt tới trước rồi cuối cùng ngã trước mặt cả đàn. Mãi đến bây giờ lũ nai mới có vẻ hiểu rằng chúng khó lòng rút lui. Chúng đứng sựng lại, ngỏng cao đầu, đôi tai lóng ngóng, tiếp đó, khi một phát súng khác làm khuỵu ngã một chú nai bờm xờm, rời rã, cả đàn quay gót lui, và phóng về hướng kèm đá. Súng lại nổ ran trong khi cả đàn thú lóc cóc lạch cạch hỗn loạn phóng ngược lên triền đá vừa đóng băng vừa dốc đứng. Một con nai cao lớn vì bộ sừng nặng nề ngã ngửa về phía sau trong khi cố ngược dốc và ngã xuống một con nai cái làm con này khuỵu cuống. Cuồng loạn vì sợ hãi, ba con nai đực còn tơ ẩu đả nhau một cách man dại, khi thì rướn người lên nhảy cỡn tại chỗ, khi thì lùi người lại vị bị xô đẩy dữ dội, chúng lớn tiếng gào kêu vang xa nhiều cây số. Cuối cùng chúng đâm sừng vào nhau khốc liệt đến nỗi chết thành từng đám mà không thể lìa nhau ra được. Khi cuộc chết chóc ngừng lại, mười một con nai đực và bốn con nai cái phì phò giữa đống máu. Loại nai cái nào không còn sinh được nữa thì nên hạ thủ bởi vì chúng có động tình trước thì cũng làm cho các con nai đực kiệt lực vô ích mà thôi. Nhưng ông chủ quản chỉ quan tâm đến các con nai đực, và lý thú thay khi thấy ông chạy thình thịch từ con này đến con kia tay cầm lăm lăm chiếc câu liêm săn bán. Ông vặt các đùi nai còn sống nóng của cái thi thể to lướn phập phồng, và chuồi cả hai bàn tay của mình vào. Bàn tay phải lẹ làng róc thịt, bàn tay trai lục lạo hạ bộ đã cứa và lặt lấy bộ ngọc hành, trông giống như mấy cái trứng bằng thịt sống ửng màu hông nhạt. Số là con nai bị hạ phải được lặt không chậm trễ bằng không thịt của nó bị nhão ra và khó ăn, người ta thường nghĩ vậy.

Tiffauges hờ hững nghe lời giải thích hiên nhiên là kỳ dị này, nhất là trong một địa hạt, đây là địa hạt săn bắn, mà mọi thứ đều tính bằng con số và nghi thức từ xa xưa để lại. Anh tự hỏi thêm một lần nữa làm thế nào để hiểu biết con nai và điều bí ẩn về vị trí hình như là quan trọng trong hàng ngũ thú vật của vùng Đông Phổ, khi anh nom thấy cái mông trắng toát to tướng chổng lên trời của ông Goring đang lom khom xuống con thú vương giả mà ông sắp sửa làm nhục. Như thể để trả lời ngay cho câu hỏi câm lặng này, thống chế đứng lên và ngoắc tay gọi các người kia đến gần. Con thú đang nắm dưới chân ông là một loại bất thường có bộ sừng không cân xứng trông xấu xí khó coi. Trong khi sừng bên phải là của con nai sáu tuổi có thân sừng chia sáu nhánh, thì ba nhánh ở đầu mút đều chĩa ba tạo thành một hình xòe đẹp đẽ, sừng bên trái lại què quặt mong mong manh, dễ gẫy, là loại sừng của một thứ nai tơ hai tuổi, nhánh mọc thẳng đơn sơ, ở mút chỉ mới chớm chia hai. Một lần nữa quỳ gối xuống bên cạnh thi thể của con thú to lớn, Goring chỉ rõ cho mỗi bạn đồng hành với mình rằng, sừng đã không cân xứng thì ngọc hành cũng phải khuyết tật: con thú chỉ được một ngọc hành bình thường, cái kia teo lại. Đây chính là viên ngọc hành bên phải nó trốn đi đâu mất dưới mấy ngón tay và dưới lớp da của hạ bộ chỉ thấy phinh phính nhẹ nhàng thôi. Đứng riêng với Tiffauges viên trưởng kiểm lâm giải thích cho anh biết rằng có một thương tích nào đó – mẩu chì của viên đạn, dây kẽm gai, sừng húc – hoặc một cố tật bẩm sinh của viên ngọc hành buộc lòng dần đến một nhược điểm hoặc là dị hình cuả phần gạc phía đối lập. Như thế, không những sừng nai chung quy chỉ là sự nở hoa tự do và đắc thắng của ngọc hành mà sừng nai vàng theo một sự đảo ngược thường đi kèm với các biểu tượng có nhiều ý nghĩa, sừng nai là một hình ảnh dựng ngược lại, giống như thể được rọi vào một tấm gương soi.

Sự việc sừng là tính chất của một bộ phận sinh dục khiến cho việc săn bắn và nghệ thuật săn bắn mang một ý nghĩa trầm trọng đáng sợ. Hành xác một con nai, giết nó, lặt nó, ăn thịt nó, lấy gạc nai để tự đề cao giống như lấy một chiến lợi phẩm, đó chính là bản trường ca với năm đoản khúc của gã hung thần ở Rominten, kể tế sinh chính thức của thần sinh dục. Còn một đoản khúc thứ sáu, quan trọng hơn nữa, mà Tiffauges vài tháng sau sẽ khám phá ra.

—★—

Viên trưởng kiểm lâm, trong một lúc quá trí có để lộ cho Tiffauges hiểu rằng Goring chẳng phải là một tay cực kỳ sành sỏi thú săn đâu. Thật ra cũng dễ tìm thấy ở Đức hàng trăm người đi săn hoặc người đi rừng có nghệ thuật và bản năng săn bắn ở vào một trình độ nhất định là cao hơn. Tuy nhiên luật lệ buộc phải nhượng bộ. Có một lãnh vực không kém quan trọng mà vị thống chế Đức quốc xã tỏ ra mình có tài và có khiếu không ai sánh kịp, đó là cách nhận ra bãi phân của thú rừng. Gặp lúc phải diễn giải tất cả những điều cần biết ghi dấu vào các bãi phóng uế của đàn thú, ông chủ quản tỏ ra sâu sắc và giàu kinh nghiệm khiến người ta có quyền tự hỏi ông học được bấy nhiêu điều ở đâu và trong thời gian nào, và những điều ấy chỉ là do cái bản chất hung thần của ông chăng.

Tiffauges có dịp mục kích vị chủ nhân của Rominten thi triển cái thiên khiếu đọc phân của ông, chẳng hạn một buổi sáng mùa xuân không ai có thể bắn được một cái gì hết mà khỏi phạm vào điều luật săn bắn, thế nhưng sáng hôm ấy tình hình đất đai đặc biệt giúp ta ghi nhận rõ ràng dấu vết phóng uế của thú rừng. Goring vốn chỉ chờ dịp trổ tài, chẳng mấy chiếc chỉ còn chăm chăm vào các hình dấu chữ ký do mấy con thú để lại dưới các gốc cây, trong rừng rậm và trên các lối thường qua lại.

Và ông chỉ rõ ráng phân của nai đực chỉ có một mút, nhọn, nặng, vãi từng đoạn một, trong khi phân của nai cái có hai mút nhọn, nhờn, đen tuyền và không đều. Phân cứng và khô vào mùa đông, còn mùa xuân thì tươi và có chồi non làm cho phân mềm dẻo đến độ trông như phân bò mềm và đẹp. Tiếp đến mùa hè làm cho quyện lại, biến phân thành hình ống màu vàng mà mặt đáy lõm vào và đáy kia lồi ra. Đến tháng chín, phân kết thành chuỗi hạt. Gặp thời kì sinh nở, phân nai cái thường vấy máu. Sau hết, điều cần biết là phân về đêm cứng hơn và khô hơn phân về buổi sáng vì được nhai đi nhai lại nhồi nhuyễn suốt ngày. Ông thống chế không quên bốc lên bằng ngón tay cái và tay trỏ để thử xem mềm cứng như thế nào và lại còn đưa lên mũi để ước lượng phân mới hay cũ vì càng cũ thì mùi càng chua.

Nhưng phân của loài mang – quyện thành một mút nhọn mùa đông còn mùa hè thì dính lại từng chùm như phân cừu – phân heo rừng – hình dùi trống mùa đông, còn mùa hè như phân bò nhỏ rời rã -, phân thỏ rừng khô và nhọn, rải rác và đen nhạt nếu là thỏ đực, hình cầu to láng nếu là thỏ cái -, phân mỏ nhát – từng đĩa trắng màu ngà có một dấu chấm màu lục ở chính giữa – phân loài trĩ, uốn lại thành từng đống dưới chỗ đậu, phân gà rừng nằm dưới các gốc thông, và ngay cả mấy mẩu phân lơ thơ của thỏ đối với ông cũng đáng chú ý và bình luận. Tiffauges không khỏi nghĩ tới Nestor cùng những buổi đi đại tiện về đêm kèm theo lời dẫn giải, khi anh nhìn thấy con người phốp pháp này, vừa mang huy chương lanh canh vừa chạy từ cây này sang cây khác, từ bụi này tới bụi kia reo lên vui vẻ, như một đứa trẻ con buổi sáng Phục sinh đi săn lùng mấy quả trứng bằng sô cô la trong vườn. Và, mặc dù từ lâu nay đã quen với những an bài của định mệnh dành cho mình, anh cũng lấy làm lạ rằng bao nhiêu những ngẫu nhiên của chiến tranh và tù tội đã biến anh thành kẻ giúp việc và đứa học trò thầm kín của nhân vật số hai của Đức quốc xã, chuyên gia về dương vật và phân.

—★—

Mùa hè đưa đến một vị khách ngoại hạng, một người dân chính, nhỏ thó, nóng nảy, mau miệng, chiếc mũi to tướng làm điểm tựa cho đôi kính cận dày cộp. Đó là giáo sư Otto Essig vừa trình luận án tiến sĩ về Cơ học có tính biểu tượng qua lịch sử Đức quốc thời cổ và thời mới tại Đại học Gottingen và được Alfred Rosenberg chú ý. Vị triết gia chính thức của chế độ này xin cho vị tân khoa được ông Goring mời tới chơi, ông này vốn không hợp hạng với trí thức mà miễn cưỡng nhận lời. Tiffauges có dịp gặp ông độc một lần trong thời gian ngắn ngủi ông lưu lại Rominten – vả chăng anh chẳng hiểu được phân nửa những lời ông nói, vì ông nói nhanh và nói điệu bác học, - và anh đâm ra tiếc rẻ, vì nhân vật ấy vừa ngô nghê vừa vụng về không hề biết tới nghỉ ngơi hay thư giãn và hình như nói rặt những gì mình tha thiết.

Thế rồi một đêm anh nghe ông thảo luận về các công thức đo đạc sừng nai –công thức Nadler, công thức Prague, công thức Đức, công thức Madrid – ông đem ra áp dụng với những sừng được đưa đến cho ông và so sánh các ưa điểm của mỗi sừng một cách nhanh trí không ngờ nổi. Tiffauges ghi nhận rằng công thức Nadler, công thức đơn giản nhất và cổ điển nhất, tính điểm gộp chung mười bốn mục lần lượt như sau:

- Chiều dài trung bình của hai thân sừng chính (hệ số 0,5)

- Chiều dài trung bình của hai sừng nhánh (hệ số 0,25)

- Chu vi trung bình của hai gốc sừng chính (hệ số 1)

- Chu vi của gốc sừng chính bên phải (hệ số 1)

- Chu vi của mút sừng chính bên phải (hệ số 1)

- Chu vi của góc sừng chính bên trái (hệ số 1)

- Chu vi của mút sừng chính bên trái ( hệ số 1)

- Số lượng sừng nhánh (hệ số 1)

- Trọng lượng bộ sừng (hệ số 2)

- Chiều dang rộng của sừng ( từ 0 đến 2 điểm)

- Nét đẹp của vân (từ 0 đến 2 điểm)

- Nét đẹp của hình rẽ quạt của sừng ( từ 0 đến 10 điểm)

- Tình trạng của các mút nhọn (từ 0 đến 2 điểm)

Công thức của Prague còn đưa thêm độ cao trung bình của 2 điểm nhú và nét đẹp của sừng nhánh phụ (từ 0 đến 2 điểm). Còn công thức của Đức thì không xét đến mục vừa nói nhưng lại thêm vào tổng số một điểm xét chung từ 0 đến 3 điểm.

Từ nay Tiffauges hiểu biết cái ý nghĩa sinh dục của sừng nai, anh thán phục cách tính toán ấy góp phần chính xác và tinh tế váo một lãnh vực bí ẩn đến như vậy. Các nhà săn bắn rút trong túi nhỏ ra một thước dây hình như luôn mang bên mình, chuyển cho nhau những sừng rụng và sừng cưa, oang oang nói qua nói lại các con số, trích dẫn những số liệu thần diệu về con nai này nai kia lừng lẫy đã từng gây sôi nổi tại triển lãm quốc tế hàng năm ở Budapest, chẳng hạn con Flambeau đoạt hai trăm mười điểm Nadler, hoặc con Osiris với hai trăm bốn mươi ba điểm Nadler chỉ thua sút chút ít – vả lại những dữ kiện đưa ra đáng được xem xét lại – so với hai trăm bốn mươi tám điểm năm mươi lăm của một con nai bị giết ở Slavonie, là một mẫu nai khét tiếng nhất chưa từng thấy theo trí nhớ của nhà săn bắn.

Giáo sư Essig lợi dụng một lúc im lặng lấy lại hơi thở của mọi người để thử phác ra một triết lý về sừng nai. Trước hết ông nhấn mạnh rằng trong ba công thức đo đạc hiện tại có những yếu tố thẩm định thuần túy về phẩm chất, liên quan chẳng hạn đến màu sắc, nét đẹp của đường vân hoặc nét đẹp của hình rẽ quạt, và, trong công thức của Praugue, có nét đẹp của sừng nhánh phụ (chứ không phải là chiều dài). Theo lời quả quyết của ông, đây là phần của vật thể không giản lược thành con số, phần thực tế cụ thể mà sự đo đạc nào cũng không thể nắm bắt. Đặt mình vào quan điểm của chính con thú, giờ đây, ta nhận thấy rằng ý nghĩa của sừng vượt quá côn dụng khi chiến đấu. Quả tình sự đâm nhung nảy gạc của một con nai quý nếu chỉ xét về mặt thực dụng thì chả đáng kết án, vì nó gây lướng vướng khó xoay xở. Nhưng giả dụ trọng lượng và khối lượng của sừng có tạo thành một khí giới ít hiệu quả khi thực dụng, thí sự thật vẫn là một con nai bảy tuổi đời rất hiếm khi chịu để cho một con nai tơ phạm vào mình. Mối nguy có thể đến từ con mang thì đúng hơn, vì tính hung hãn của con mang tơ thì không lùi bước trước một con nai lù lù to tướng và sừng mang có thể gây thương tích khó lành cho nai. Đối với nai nhú sừng thì khác hẳn, và đây là chức năng thiết yếu của loại sừng cao quý hơn cả: có thể nói rằng chúng gây nể nang cho các con nai tơ. Do đó, nếu sừng bớt phần kiến hiệu chiến đấu cho nai già thì bù lại trăm phần hơn cho hào quang tinh thần của nai. Cúi đầu chào về hướng Goring, giáo sư lẩm bẩm đối chiếu giữa sừng nai với chiếc gậy của thống chế, chiếc gậy này lẽ ra là một khí giới chiến đấu quá sức kém cỏi, nhưng bề ngoài lại truyền lực không cho kẻ khác chạm tới được nhờ uy danh nó ban cho. Bởi thế, ông kết luận, trong khi dương tính được ấp ủ kín đáo ở phần hạ bộ xa xôi nhất của cơ thể trì kéo con vật xuống đất thì bộ sừng là hình thức biểu lộ được siêu hóa sừng sững lên trời tỏa rạng hào quang thị uy luôn cả tính háu đá mù quáng của bọn nhỏ.

Vị giáo sư nhỏ thó cũng hăng say trong khi thuyết giảng, và không để ý đến sự lạnh nhạt của người nghe. Ông chưa hề biết đến sự ghét bỏ của xã hội đối với lối suy nghĩ nói năng đi chệch ra khỏi điều phàm. Người ta đề cập đến trọng lượng của con thú, và đặc biệt tới tương quan giữa trọng lượng sống động của con thú và trọng lượng ròng, tức là trọng lượng con thịt, trọng lượng những miếng thịt bán trên quầy. Essig có suy nghĩ riêng về đề tài, và ông hối hả trình bày ra cái công thức đã sắp sẵn. Muốn có trọng lượng ròng khởi đi từ trọng lượng sống, ông giải thích, chỉ cần lấy 4/7 của trọng lượng sống, cộng thêm một nửa của trọng lượng sống ấy, rồi chia tất cả cho hai. Thương số là trọng lượng ròng. Goring bảo nhắc lại công thức, rồi rút cây bút bi bằng vàng ra và làm tính nhanh trên hộp thuốc. Ông kết luận:

- Như vậy, thưa giáo sư, tôi cân nặng một trăm hai mươi bảy ki-lô sống, đem tôi ra quầy hàng tôi chỉ được sáu mươi tám ki-lô là cùng. Không hiểu như thế là nhục hay là vinh!

Và ông phá lên cười vui vẻ vừa vỗ bôm bốp lên đùi. Quan khách đều bắt chước ông, nhưng trong tiếng cười của họ xen lẫn điều oái oăm và như thế có nghĩ là không đồng tình với vị giáo sư nhỏ thó. Ông này biết như thế, và muốn đem tất cả nhiệt tình của mình ra đương đầu. Nhân nói chuyện về “con mê”, ông đem ra tường thuật một giai thoại xảy ra ở Thụy Điển, nơi hàng năm nhà vua Gustave đệ ngũ tiếp tục chủ trì đại hội săn bắn con mê, mặc dù nhà vua đã tám mươi hai tuổi. Người ta kín đáo báo động cho quan khách biết rằng nhà vua mắt kém, thành thử trong khi sục sạo ai có xáp lại gần nhà vua thì nên thận trọng lớn tiếng từ xa khi thoáng thấy mặt rồng: “Tôi không phải là con mê đâu!” Có một vị khách quý làm đúng như vậy lúc buổi săn gần tàn, nhưng ông hết hồn khi thấy vị vua già nâng súng lên bắn về phía ông. Bị thương nhẹ, được nằm lên cáng, sau hồi săn ví xong, ông được dịp phân trần với vua. Vua xin lỗi: “Tâu hoàng thượng, ông hoang mang thưa, nhưng khi trong thấy hoàng thượng bắn, bản thân đã lên tiếng Tôi không phải là con mê! Rồi kia mà. Vậy hình như nghe thấy tiếng của bản thân, hoàng thượng mới bắn ngay hướng đó!” Nhà vua ngẫm nghĩ một lát. Rồi giải thích: “Ông ạ, bỏ lỗi cho tôi. Tai tôi cũng chẳng thính. Phải tôi có nghe tiếng ông. Nhưng tôi lại nghe ra Tôi là con mê. Thế là tôi bắn!”.

Câu chuyện là một sự lỡ lời tai họa. Goring vốn ái mộ người vợ đầu tiên của mình tên Karin người Thụy Điển, chết năm 1931 và táng tại tư thất Karinhall mỹ lệ hiển nhiên là một cái lăng. Từ đó, tất cả những gì đụng đến Thụy Điển đều là linh thiêng, và giai thoại của vị giáo sư nhỏ thó đem Gustave đệ ngũ ra làm trò bỡn rơi trầm xuống một khoảng lặng im cụt hứng. Vị chủ quản đứng lên đi về tư phòng không nói một lời với Essig. Vị chủ quản sẽ không gắp lại giáo sư và ngày mai ông đi thuyết trình ở Rastenburg, và khi ông lên đường thì vị giáo sư đã lọt vào rừng Erbershagen từ hai giờ trước đó, giáp ranh phía đông của Rừng Cấm, cùng một gã kiểm lâm sắp xếp cho giáo sư bắn một con nai, con già nhất, bệnh nhất, kỳ quái nhất toàn vùng Rominten, theo lời căn dặn của Goring. Người ta không bao giờ làm tỏ rõ trọn vẹn mọi tình tiết cuả một biến cố đã gây ra sáng hôm ấy, một vụ giống như động đất trên khoảnh đất rừng núi ấy. Cái con thú kỳ quái vốn dành riêng cho vị giáo sư nhỏ thó, mà gã kiểm lâm đã trông chừng từ hôm trước, xuất hiện đúng lúc như ấn định vào nơi đi đến bằng xe đi săn, lúc ấy bình minh vừa chớm nhuốm hồng các đọt thông. Bình minh cũng động tâm vui lòng có mặt ở một khu rừng thưa nhỏ nhắn, đúng tầm nhắm của thợ săn đang cheo leo trên vọng canh cách chừng ba chục thước ở riềm cây. Gã kiểm lâm, khá tự hào và nhẹ nhõm thấy nhiệm vụ của mình hoàn thành mau mắn và may mắn đến như thế, đã ra hiệu cho “thân chủ” nổ súng được rồi. Giáo sư nâng súng và ngắm nghía lâu lắc đến nỗi gã kiểm lâm bắt đầu sợ con thú biến mắt trong rừng non. Rồi súng cũng nổ. Con nai huỵch xuống ầm, như bị đẩy ngã ra đất, nhưng vụt đứng lên tỏ dấu chẳng bị thương tích nặng nề. Quả nhiên hai người nhận thấy nùi đạn ria chỉ bắn nát chiếc sừng độc mà thôi – mà chiếc sừng này lại vừa khuyết vừa mảnh – của con thú. Trụi sừng, nay chẳng hơn gì một con lừa còm cõi, lại bị choáng ngất hết nửa thân mình, con thú đứng tại chỗ, đờ đẫn, quay đầu về hướng chòi canh. Gã kiểm lâm ngượng thay cho thân chủ, buông lời khẩn khoản:

- Nhanh lên giáo sư, bắn đi không nó tẩu thoát!

Thế là lách tách tạch dùng liên hồi làm náo loạn cả huyện lỵ. Từ ria đất mùn trộn lẫn lá khô bay vèo, cành gẫy rơi rụng, các thân cây bỗng nằm dài từ các vết thương gây ngang. Riêng con nai-lừa hình như thoát đạn. Nó lóc cóc chui vào vào rặng cây con ở bìa rừng, và nó đã mất tăm từ một lúc trong khi tiếng súng vẫn giòn giã. Gã kiểm lâm đứng lên và cựa quậy cho ấm người. Gã trầm giọng:

- Rộn ràng thế này coi như xong xuôi buổi sáng. Chỉ còn nước quay về công cốc. Tối nay, ta có quyền uống rượu phạt vậy. Gã vừa nói thêm như thế vừa nhẩn nha cười mỉm che đậy sự hậm hực của mình.

Đó là một đòn răn đe đối với thợ săn, rất thông dụng tại Đông Phổ, buộc nạn nhân phải uống qua thuốc súng – không lau chì sạch sẽ - một hỗn hợp rượu trắng với tiêu trắng rót bằng một cái phễu đặt ở hộp cơ bẩm.

Gã kiểm lâm sốt ruột giậm chân trong cỏ ướt trong khi chờ đợi giáo sư chẳng hiểu vì sao lâu lắc trên chòi cao. Gã chỉ nhún vai khi nghe giáo sư nói oang oang: ‘‘ Tôi thấy nó dây rồi! Trong khóm cây sồi rừng kia kìa! ít lắm là năm trăm mét đấy! Tôi bắn nó bằng đạn thật đây!’’.

Phát đạn cuối cùng nổ. Tiếp đến là im lặng, rồi lại giọng nói của giáo sư đang thay chiếc súng băng cặp ống nhòm.

- Ông kiểm lâm ơi, chạy đến xem đi nào, chắc tôi bắn trúng rồi đó.

Thế này thì quá lố, nhưng gã kiểm lâm vẫn thở dài và lịch sự trèo lên vọng gác theo chân vị khách. Nhìn vào ống nhòm thì thấy ra thân thể một con thú nằm khểnh trong lối hành lang xuyên giữa đám sồi rừng tới tận chân trời. Khoảng cách thật xa và lọt ra ngoài tầm đạn của tay thiện xạ hạng nhất. Ấy vậy mà có một vết thẫm màu hơn bộ lông của con nai, trên đó, giáo sư đã nhả viên đạn cuối cùng.

Hai người rảo bộ vào dám sỏi rừng. Con nai giống như ngủ, đầu kề lên đôi chân trước một cách hiền lành, bộ sừng thẳng dựng lên thành một đám màu ngà thẫm. Thân hình vạm vỡ rắn rỏi như được khắc chạm trong gỗ mun. Hình hãy còn ấm. Viên đạn xuyên ngay ngực.

Gã kiểm lâm cảm thấy mình lảo đảo. Thoáng nhìn, gã nhận ngay là con Candélabre, con thú quý hạng nhất của Rominten mà tất cả bọn giữ rừng có nhiệm vụ nhất thiết phải săn sóc và bảo vệ. Thế mà cái ông Essig khốn kiếp này bất kể tư cách của mình đang nhảy nhót reo hò như mọi da đỏ chung quanh cái xác ngàn vàng! Song lệnh truyền triệt để là: các vị khách của chủ quản là tối cao đối với toàn thể mọi người trong Rừng Cấm. Lỡ lầm thế nào đi chăng nữa, Essig hẳn không dè cái tội phạm của mình lại nặng nề đến thế nào. Bởi vậy ông vẫn được chào đón khi trở về trại săn, ông hể hả tự hào, một cuộc lễ làm bằng những tiếng cười gượng gạo và những tiếng tung hô nghẹn họng mà rượu sâm panh trút ra cũng không làm bớt nghẹn. Giáo sư gặp ai cũng chỉ một lời lặp đi lặp lại:

- Ông thấy chưa, tôi chẳng quen dùng đạn ria. Đạn thật kia!

Và ông lấy làm tiếc sao ông chủ quản lại nhằm lúc này mà vắng mặt, không chia vui với ông. Goring sẽ trở lại tối mai, có lẽ vào giờ khuya, nhưng mọi người đều dám chắc với vị giáo sư là ông Goring ít nhất một tuần lễ mới trở lại. Suốt đêm ai nấy chăm lo thu xếp chiến lợi phẩm cho ông, và tống khứ ông đi sáng hôm sau, ông vẫn hơi lấy làm lạ vì sao lại gấp gáp như vậy, nhưng ông hớn hở, xoắn vó theo thành tích sát sinh to nặng nhất và ngoạn mục nhất – hai trăm bốn mươi điểm Nadler – trong sử ký của Rominten.

Giữa đêm khuya Goring mới trở về. Mười giờ sáng hôm sau ông ngồi vào bàn ăn điểm tâm với thịt thỏ um, ngỗng trời rim, heo rừng ngâm và thịt mang rắc bột giòn, các món này rất hợp với món cá hồi xông khói, cá mòi biển Baltique và cá hương đông sương, đúng lúc ấy viên trưởng kiểm lâm lễ phục chỉnh tề đến trình diện, mặt mày khắc khổ cố nén. Ngắm nhìn vị hộ pháp quấn mình trong chiếc áo ngủ bằng gấm, đôi bàn chân nhỏ bó chặt trong đôi băng túp bằng da rái cá, ngồi chễm chệ giữa một sơn hà thịt cá, ông đâm mất bình tĩnh trong chốc lát. Goring đốp ngay:

- Tôi nghe được một tin vui sáng nay. Ông giáo sư nhỏ con ra đi hôm qua. Tống đi đẹp đấy. Ông ta có bắn một con nai chứ?

- Thưa ông chủ quản, có ạ.

- Một con kỳ quái, một con già bệnh, theo đúng lệnh tôi chứ?

- Thưa ông chủ quản, không ạ. Giáo sư Oho Essig của Đại học Gottingen đã bắn chết con Candélabre.

Tiếng chén bát, đĩa cốc quét theo với cả khăn bàn cùng các thứ nhào xuống và tan tành trên nền đã làm cho gã trưởng phục vụ chạy đến. Goring, mắt nhắm, như người mù, đưa trước mắt mình đôi bàn tay đầy ngấn, đầy xuyến, đầy nhẫn. Giọng lạc thần, Goring thều thào:

- Joachim, nhanh lên, bình ngọc!

Gã trưởng phục vụ vụt biến đi, và đem đến một bình lớn bằng mã não đặt trước mặt thống chế. Và vẫn không mở mắt, ông chậm rãi vọc cả mớ ngọc thạch lựu, ngọc mắt mèo, lục ngọc, đá hồng điện, hoàng ngọc và hổ phách mà người ta thuyết phục ông rằng hỗn hợp ấy vừa hóa giải nhân điện tích tụ trong cơ thể vừa có hiệu năng xoa dịu thần kinh và phục hồi sự thanh thản. Luôn luôn bị ma túy cám dỗ, ông đâm ra thích dùng phương thuốc trấn an này vốn được một cái là vô hại mà lại ứng hợp với ý thích xa hoa của ông. Ông hạ lệnh:

- Đưa chiến lợi phẩm ra đây.

- Giáo sư đã đem theo từ hôm qua rồi ạ. Ông không muốn xa nó, viên trưởng kiểm lâm lắp bắp.

Goring mở mắt ra lại, và chăm chăm nhìn viên trưởng kiểm lâm bằng một lóe mắt tinh quái.

- Tốt. Các người ở đây cho rằng tôi không nên thấy. Con Candélabre! Con chúa tể của bao nhiêu bầy ở Rominten!

Ông oang oang:

- Thằng cha còi cọt mà sao tày trời thế được?

Và thế là viên trưởng kiểm lâm buộc lòng tường trình chuyến săn bắn khó tin của giáo sư Essig, tràng đan liên hồi đối với con nai già tủi thân bị gẫy sừng, sự ngao ngán của gã kiểm lâm, và viên đạn cuối cùng bắn chừng chừng, cách quá xa, và sự có mặt không giải thích nổi của con Candélabre ở vùng phía Đông của Rừng Cấm. Bao nhiêu việc ngẫu hợp như thế, tất cả đều khó lòng, quả tình giống như trời đã định khiến cho Goring lặng thinh, quá trí, âm thầm lo nghĩ, như bỗng đâu đối đầu với sự huyền nhiệm của thế sự.

Ể ĐẦM LẦY Nguyên tác: Les Rois des Aulnes ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 1997
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Michel Tournier

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.