Tiffauges chỉ chú ý một cách lẽnh lãng đến những biến chuyển ấy. Thì giờ thích thú nhất của anh là ở cạnh Ephraim, nó đã lấy lại một ít sức sống, nhen nhúm lên một lóe nhí nhảnh một cách là lạ, có khi vui vẻ là khác. Một hôm, anh cõng nó lên vai, và đưa nó đi quanh trong tầng nóc của lâu đài, một cảnh trí mênh mông, bát nháo, được rọi sáng một cách dị dạng bằng những ô cửa tò vò, tại những nơi này anh dừng bước chỉ cho nó xem cái bãi rừng, hồ, đầm lầy bao quanh Kaltenborn. Ephraim quen mùi, và từ đó hễ nhác thấy Tiffauges là đòi cưỡi đi dạo. Nó bảo:
-Ngựa Do Thái ơi, chở ta đi, cho ta xem cây cối, ta phải trông chừng tuyết tan báo hiệu đêm ngày 15 theo lịch Do Thái.
Trò chơi này không phải là không nguy hiểm, và Tiffauges không tự dối lòng mình về những nguy cơ thằng bé Chở Sao có thể gặp phải giữa cả một bầy thú ăn thịt tóc vàng. Nhưng cái địa ngục mà Ephraim đã từng sống qua nó làm mờ nhạt những đe dọa đang tiếp tục đè xuống đầu nó.
Một đêm, khi con Ngựa Do Thái lóc cóc leng keng đến tận chái Bắc của lâu đài, nó đụng đầu với tay Đặc nhiệm tên Rinderknecht lên đây vứt mấy chiếc nệm vào kho chứa. Cả hai phía cùng ngập ngừng một giây đồng hồ, kế đó, không kịp đặt thằng Ephraim xuống đất, Tiffauges chụp ve áo lính của gã Đặc nhiệm, nhấc bổng hắn lên, đẻ hắn vào tường, cho cái máy ép cây gai kẹp vào ngực hắn nghe răng rắc. Tên Đặc nhiệm giẫy giụa yến dần, và khuôn mặt rúm ró của nó ngả sang màu xanh, bỗng Ephraim rú lên, và nện hai tay xuống đầu người ngựa và vùng vằng hung dữ trên vai anh. Tiffauges mờ mắt nửa vì sợ nửa vì giận, lẽ ra để thằng bé muốn làm gì thì làm, đàng này thằng bé vùng đến nỗi ngã ngửa lăn xuống sàn nhà ngồi co lại bật khóc tức tưởi. Đến đây Tiffauges buông tha con mồi ra, hắn dựa vào tường thở dốc, và anh quỳ xuống cạnh thằng bé. Nó vừa khóc vừa nói mãi:
- Đừng giết, chú Béhémoth! Lính của Chúa sắp sửa giải thoát cho dân Do Thái rồi mà, nhưng còn chú, chú đừng giết, đừng, đừng giết! Chú tin cháu đi, hắn không khai báo đâu!
Tiffauges bế thằng bé vào phòng nóc chẳng nghĩ gì tới gã Đặc nhiệm, có thể Ephraim nói đúng, nhưng nguy cơ vẫn lớn. Đây là lần đầu tiên, gặp việc hệ trọng, đứa bé khiến chàng thanh niên người Pháp phục tùng ý muốn của nó. Tiffauges đâu dè kể từ nay trở đi anh càng nhượng bộ kẻ được mình bảo trợ. Anh nép mình theo nó, lòng cảm nhận rằng một nguồn lực của định mệnh đang xâm nhập người nó còn hơn chính mình. Nhưng anh vẫn muốn biết Béhémoth là ai, và tại sao đứa bé lại gọi mình bằng tên ấy. Anh hỏi nó ngay hôm sau. Nó đáp:
- Là tại vì chú khỏe, chú là Ngựa Do Thái ạ. Một hôm từ trong lòng cơn bão Chúa phán với Job và bảo rằng:
Ngươi hãy xem Béhémoth, ta tạo dụng nó giống như ngươi: nó ăn cỏ như bò vậy.
Ngươi xem nhé, sức lực của nó nằm ở vùng thận tạng, và sức dũng mạnh của nó ở các cơ bắp bên hông!
Nó chổng đuôi như cây bá hương;
Gân đùi chụm lại thành bó rắn chắn, ống xương như ống đồng, sườn như từng thỏi sắt. Đó là tuyệt tác của Chúa; Đấng tạo dựng cho nó một uy lực. Núi cho nó thức ăn, muông thứ giữa đồng vờn quanh đó. Nó nằm dưới lá sen, và đám lau, trong đầm lầy kín đáo, sen cho bóng cho nó, rặng liễu bên thác bao quanh…
Ephraim ngâm nga các đoạn kinh trong Thiên Job theo giọng ê a của người đọc kinh Do Thái. Nó kết thúc đọc kinh bằng một tràng cười của tiểu thần Sơn Lâm.
Tiffaugres bị thu hút ngay vì hình ảnh của Chúa Tể Đầm Lầy nằm trong đám lau, trong đầm lầy kín đáo, anh trân trọng lòng tin của nó rằng cuối cùng Chúa sẽ thắng, và anh gần lại với nó, như gần ngọn lửa hồng, để hơi hưởng đức tin tiên tri của nó tỏa sáng. Một hôm thiếu nước, vì các vòi của bể chứa trong huyện bị bom hủy phá. Sau đó nước ri rỉ ở các vòi, nhưng nước có màu đỏ, và để lãi một lằn rỉ sét trong các chậu rửa. Ephraim không lấy thế làm ngạc nhiên: vết thương đầu tiên ngày xưa tại Ai Cập, nước trong toàn xứ sở chẳng biến thành máu là gì? Thời buổi đã chín muồi, nó lặp lại lời ấy, và thời buổi giải thoát đến gần…
—★—
Cuối tháng ba, bỗng dung hết lạnh. Một trận bão vừa gió vừa mưa, quét tràn khắp vùng, lùa đến đủ thứ chim sáo sậu, óc cau, te te, làm dậy sóng các mặt hồ bang rã, làm ngập lụt các nẻo đường làng bên dưới thấp. Rồi gió tan, và ta thấy tít trời cao những đàn vịt trời bay theo hình chữ V. Đám trẻ phụ trách sung phòng không dằn long không được nhả luôn đan vào đám mục tiêu di dộng ấy qua vùng đạn đạo của chúng nó. Hễ một quả đạn nỗ giữa một đường bay rậm đám, bao nhiêu chim tóe ra giữa một đám mây long vũ làm cho đám xạ thủ reo vang.
Raufeisen mừng thấy bang tan trước thường kỳ, điều này được một cái là dễ trì hoàn một trận tấn công của Xô Viết. Ngay đêm ấy, trong không khí bình lặng trở lai của một đêm đâm chồi tòa hương tràn đầy, lần đầu tiền người ta nghe ra xa xa tiếng lích kích rõ rệt, khô và rờn rợn của dây xích chiến xa Nga. Có ai đó ngờ vực gì chăng, thì ngờ vực tiêu tan ngay vì đột nhiên một chú nông dân trên lung một con ngựa hồng vùng Trakehn không yêu, gả để chân trần mà lại thắng đinh thúc ngựa một cách kỳ quặc. Gã đến đây từ Arys là một thị trấn lớn cách mười lăm cây số, dân di tản gần hết, gã ở lại với vài cụ già và súc vật. Lính Xô Viết đến thị trấn đã ba tiếng đồng hồ, và chắc là đang bén gót gã. Lập tức Raufeisen cho trấn thủ các điểm chiến đấu mà ông dự trù, và phái đến đó từng nhóm, từng đội thiếu niên.
Như thế chớ đợi cứ tưởng là lâu, nếu như cái thứ tiếng lích kích khắp nơi và dai dẳng của từng loạt dây xích chiến xa chưa buông tha cho đầu óc con người. Cuối cùng hai chiếc lù lù xuất hiên ở sân dốc trong bóng lù mù của hoàng hôn và tắt đèn trườn tới lũy thành. Đây là những chiếc T-34, những thớt voi chế tạo do mấy anh nông dan vùng Seberie, cổ lỗ không tưởng nổi, với từng bợn sắt đúc ghép trầy trật, đầy những vết loang to như ngón tay, dây xích chàng bang như nệm cuốn, mặt dưới trễ xuống nhưng trợt lướt, bấp chấp trời lạnh hay đất bùn, và ì à ì ạch từ biên giới Châu Á, đè luôn các lữ đoàn thiết giáp Panzer của Hitler.
Hai chiếc dừng lại, đèn pha bật sang và quét bờ thành đang có vẻ kín bưng. Đi theo sau là một loại xe thùng cỡ nhỏ, tự động, lội nước, loại xe Mỹ, rất được ưa chuộng ở những vùng đất có hồ và sụp lở. Một sĩ quan bước ra, và đứng ra đầu mũi hai chiến xa, cho nên nổi bật rõ rệt trong ánh sáng đèn pha xe. Y có máy loa cầm tay. Đó là trung úy Nicolas Dimitriev, đã rừng dự trân Stalingrad, được gắn huy chương ở mặt trân Minsk, được truyền tụng trong đám binh sĩ và bạn bè vì cái tính liều lĩnh và hay gặp vận may. Y đưa ống loa điện lên mặt, và xướng lên mấy tiếng Đức pha giọng líu lo của dân vùng Ukraine.
- Tôi không mang khí giới! Chúng tôi biết ở đây chỉ có thiếu niên. Các người hãy đầu hàng đi. Không ai làm hại các người. Hãy mở cổng ra…
Câu nói bị cắt ngang vì một tràng đại liên bắn ra từ một tòa tháp mặt hông. Chiếc loa rơi xuống trong tuyết, và trung úy Dimitriev đưa hai tay ôm ngực. Nhưng đèn xe tắt phụt, và không ai thấy y ngã xuống. Bóng tối lại tức thì bị chọc thủng vì những lần sáng lúc đầu của một loạt nổ liên tục của những quả pháo nhắm chụm vào hai chiến xa. Các động cơ Diesel rú vang, và hai con quái vật khởi động tháo lui tức tốc. Nhưng một chiếc đà bị đứt dây xích, nó lồng lên húc vào chiếc kia ầm một tiếng. Cả hai bất động. như cặp bò mộng giao sừng nhau, dưới một làn mưa lửa làm rụi mọi bộ phận ngoài xe. Một vòi khói đen vọt ra từ hông xe. Im tiếng chừng nửa giờ, rồi ầm vang từ một nòng 155 bắn thẳng và thành làm rung chuyển không khí, kéo theo sau là thủy tinh của mọi cửa kính trong các tòa nhà rơi vỡ vụng. Lát sau, người ta nghe tiếng nổ xa xa của đại bác Đức loại Flak chắc là nhắm bắn xuyên táo con đường Schlangenfliess đang dày đặc các đơn vị Xô Viết.
Raufeisen không chủ tâm tử thủ cổ thành. Ông dự tính di tản sau trận đấu, và nhả đạn tập trung vào cổng thành hoặc vào nơi nào thiết giáp Xô Viết xô sập thành. Nhưng trong tính toán của ông thiếu mất một yếu tố hệ trọng: sự đánh giá hỏa lực của địch. Ông sững người trước hỏa lực pháo binh làm tổn hại bờ tường cũ. Thay vì chọc thủng có giới hạn. dễ phủ, pháo binh nhận lệnh phá đổ cổ thành, hạ gục lũy thành từng mảng lớn bọc chân các tòa nhà. Một giờ sau, hai khẩu đại liên ghép bốn nặng nề được đưa lên xe cam nhông có đế được bố trí vào các nhà xe và chĩa vào các nơi đổ vỡ ở mặt tiền lâu đài, trong khi các ổ đại pháo – những mục tiêu không đáng kể đối với các thiết giáp Đức – lại phân ra vây bọc các toàn nhà. Các vị trí phòng thủ sẽ khó lòng cầm cự. Người bên trong chỉ còn nước tìm cách nhập bọn với các toán bộ binh rải rác ở ngoài thành với nhiệm vụ bắn rỉa các thiết giáp và pháo binh nhẹ của địch, từ những điểm di động và bất ngờ.
Tiffauges đang cởi bỏ xong lớp quân phục đẹp đẽ của chủ nhân ông tại Kaltenborn để mặc lại chiếc áo cũ của tù binh Pháp mang dấu hai mẫu tự viết lớn: KG. thì những quả súng cối đầu tiên bắt đầu trút như mưa xuống mái. Anh vội vàng lên tầng nóc, nóng ruột vì khi ngang qua gian phòng ở góc nhà có cửa đổ sập anh thoáng thấy thi thể của ba Thanh niên nằm ngang dọc trên một càng súng FM. chĩa ra ô cửa đen. Trong một vựa thóc, một mớ nệm bốc ra một làn khói lầy nhầy ngột ngạt la đà trên nền, dù có nhiều lỗ thủng bày ra mảng trời sao trên mái. Tiffauges chạy ùa vào nơi của Ephraim.
Đứa bé Do Thái đang ngồi trước một chiếc bàn con xiêu vẹo trong phòng được nó phủ bằng một vuông khăn tráng. Nó đặt lên đó mấy lát bánh mì, một khúc xương cừu, rau, một cốc nước pha rượu đỏ. Anh chạy xộc vào kêu toáng lên:
- Emphraim, ta đi thôi. Quân đội Xô viết đang hủy phá lâu đài!
Ephraim nghiêm giọng hỏi:
- Cái đêm 15 lễ thánh ấy khác với các đêm khác ở điểm nào?
- Đi, không chậm trễ phú nào nữa hết.
- Chú ngựa Behémoth tuyệt tác của Chúa này, chú trả lời cho cháu đi: “Đêm ấy, đoàn chúng ta ra khỏi Ai Cập.” Đêm ấy khác với các đêm khác ở điểm nào?
Tiffauges thẩn thờ nhắc lại:
- Đêm ấy đoàn chúng ta ra khỏi Ai Cập.
Nhưng đất chấn động lay giật sàn nhà dưới chân anh, và vôi vữa ở tràn nhà òa xuống.
Đi với chú nào, Ephraim, ta đi thôi!
Đứa bé dịch bàn ra, bảo:
Vâng, đi thôi. Quân lính của Chúa giết lớp Ai Cập đầu đàn, nhưng che chở cho chúng ta tẩu thoát. Nhưng chút không muốn đến ngồi bàn cầu nguyện với cháy, thì ít nhất chú để cháu đọc mấy đoạn đầu trong kinh Haggada.
Nó ngồi lại tĩnh tâm, và đôi môi mấp máy. Có thêm tiếng lựu đạn nổ, rồi im lặng bồn chồn hơn cả sung đại bác. Tiffauges nôn nóng:
- Kinh Haggada, cháu leo lên vai chú đọc nốt. Nào, lên yên ngựa Do Thái! Anh vừa ra lệnh vừa quỳ xuống cạnh đứa bé.
Khi anh rời chiếc phòng nóc rạp mình xuống để cho Ephraim ngất ngưởng trên vai mình qua lọt, thì các khẩu đại liên từ khắp các điểm bắn ra vang lừng, còn pháo binh vẫn nín bật, những sự thể ấy như cho biết rằng cuộc tấn con lâu đài đã bắt đầu. Anh phải quành lui, vì cánh trải của tầng nóc chỉ còn là một họng lửa đó. Anh phải đi xuống bằng cầu thang chính giữa, và liều thân lọt vào phần đại sảnh, từ nơi đây vọng lên âm thanh hỗn chiến. Mỗi bước Tiffauges mỗi bắt gặp vài Thanh niên đã chết, có đứa nguyên vẹn như đang ngủ, từng đứa lẻ hoặc từng đám – và anh đau lòng nghĩ tới trường ngũ -, có đứa bị cụt, banh người, không nhận ra. Có tiếng ra lệnh bằng tiếng Nga kèm theo vài phát súng sáu buộc anh quay lên tầng trên. Một cánh cửa mở: phòng của chỉ huy trưởng. Anh lao vào. Cánh cửa sổ lớn nhìn ra sân thượng trưng bày kiếm bây giờ toang hoác như lỗ hổng ở đàng sau. Tiffauges tựa vào một tấm thảm để lấy lại sức. Đến đây tiếng thét vang lên. Tiffauges nhận ra ngay, và anh biết anh nghe đây là lần đầu trong đời cái âm thanh tuyệt đối trong trẻo. Cái tiếng đau thương kéo dài này, phát ra từ họng và ngân nga, tràn đầy hợp âm, có hợp âm nghe như khoan khoái dị thường, có hợp âm tiết ra nỗi đau bất kham, cái tiếng đau thương ấy không ngừng vang vòng từ tuổi ấu thơ khốn khổ của anh trong các hành lang lạnh giá của ngôi trường Saint – Christophe cho tới chồn rừng sâu Rominten khóc thương cho cái chết của nai già. Nhưng những tiếng vang vọng xa xôi khác nhau ấy chỉ là một xâu chuỗi những âm thanh mò mẫm lại gần cái âm thanh siêu thoát vừa vọng lên rành rọt từ sân thượng trưng bày kiếm. Anh biết mình nghe lần đầu tiên ở tình trạng tinh khôi cái tiếng treo lững giữa cái sống và cái chết vốn là âm thanh nền tảng của số phận mình. Và thêm một lần nữa – như ngày anh gặp tù binh người Pháp rút lui, nhưng với một sức tin tưởng vô song đó – là khuôn mặt thanh bình thoát từ của Chúa Tể Đầm Lầy, vùi thân dưới lớp áo than bùn, đang hiện ra trong trí anh, như sự cầu cứu tối hậu, nơi trú ẩn tối hậu.
Anh nói:
- Cháu có nghe thấy không? Có ai hấp hối ở trên sân thượng thì phải. Cháy có thấy gì không?
Và vì cúi xuống có thể khám phá ra bờ thành sân thượng. Ephraim nói ra những gì mình phát hiện ra trong bóng tối lấp lánh không ngừng bị các chớp nổ làm xô lệch. Ba cây kiếm, phải, nhưng kiếm có vẻ như khoác những hình dạng màu sẫm và dày dặn, khác nào kiếm đã trở thành cây cán cắm ba ngọn cờ bằng gấm trĩu xuống và xếp thành những vết đen nặng.
Anh trở lại cầu thang chính giữa. Anh sắp xuống tới mặt bằng của tầng một thì nhiều tiếng nổ quá gần buộc anh nấp vào một xó. Mấy gã lính Xô viết – những gã đầu tiên anh trông thấy – đẩy đi về trước một người xiêu vẹo, ngã chúi, gượng dậy dưới những cái đá bằng giày ủng. Một cú xô dụi lại gần, và Tiffauges nom thấy một khuôn mặt một lúc nào đó rướn tới phía anh, một khuôn mặt bầm dập với một con mắt lòi tròng, nhễ xuống má thành một dòng bầy nhầy máu. Anh nhận ra la Raufeisen. Viên đặc nhiệm ngã thêm lần nữa, và cố đứng lên, hai tay bấu và thanh dựa cầu thang. Ông đang quỵ gối thì một người lính dí mũi sung lục vào gáy ông. Một tiếng nổ trầm, và cái đầu của Raufeisen văng mạnh ra phía trước dội vào tường cầu thang. Rồi thân thể không hồn dụi xuống bậc cấp. Bấy giờ hai tay Tiffauges cầm lấy hai đầu gối gầy gò của Ephraim kéo tới chèn chặt gáy mình vào hai đùi nó, như để được bảo vệ. Lúc ấy một câu từ thuở nhỏ vang lên trong trí anh… chỉ nhằm mục đích là chia sẻ số phận với chúng nó, sự vô tội của nó đủ đảm bảo và đủ tiến cứ trước ơn Chúa để được cứu vớt.
Cầu thang hiện giờ không đi được nữa. Phải quay trở lên lần nữa, hướng về nhà nguyên may ra, trốn rên sân thượng. Tiffauges chẳng suy nghĩ gì nửa. Anh hành động theo yêu cầu bức thiết của phú giây. Một phần trần nhà của hà nguyện sụp đỗ, nhưng cửa của sân thưởng lớn thì mở toang. Tiffauges vọt vào. Anh bước được mấy bước và đứng khựng tại chỗ vì cảnh nước mắt.
Một lớp thảm tuyết trắng tịnh vẫn chưa bị tan đang phủ nền đá của sân thượng. Bờ thành cũng trắng, ngoại trừ ở đế ba cây kiếm có một tấm áo choàng màu tía. Ba đứa chúng nó đủ mặt. Haio, Haro và Lothar, hai anh em sinh dôi tóc hung làm đôi bạn trung thành để lọt vào giữa là thằng bé tóc ạch kim, cả ba bị xiên lút từ đít lên đầu, mắt mở thao láo nhìn hư vô, và mũi ba cây kiếm đâm mỗi đứa khác nhau. Ở Haio, mũi kiếm lòi ra phía trên bả vai trái thế nào mà nhìn nghiêng nó có vẻ như co gối lên và nghiêng đầu qua phía bên kia, như để giữ lại thế thằng bằng bị mất. Một dòng máu đặc lại đang phập phồng trong gió đêm làm dính cứng vào bờ thành một ngón chân của nó đang co quắp như bị sài uốn ván. Haro nghiêng đầu sang phải, vế phía Lothar, tưởng chừng như vậy, nhưng chỉ vì anh hưởng của lưỡi kiếm thọc ra phía trái của họng và lên tới tai. Hai nắm tay nó nắm lại, hai gối khẽ chùng xuống, dáng một người nhảy đang lấy đà, ngước lên trời. Lothar ngửa đầu ra sau. Nó mở miệng, nghiến răng kẹp lấy mũi kiếm đang xen vào giữa. Nó bị xiên thủng thằng đứng, hai chân chụm lại hai tay kẹp vào sườn, như cái vỏ kiềm hoàn chỉnh dành cho lưỡi bảo kiếm đang xuyên suốt người nó. Bao nhiêu sao tắt ngấm, và tổ hợp khổ hình bé con dựng thẳng lên bầu trời đen.
Tráng bạc với ba tiểu đồng chỉa thành chông ở một phần ba màu đen phía trên của huy hiệu, Tiffauges nói lẩm nhẩm. Một phát nổ lay chuyển cả sân thượng làm nát nhà nguyện, và bao nhiêu đá và ngói rào rào xuống Tiffaufes và Ephraim. Tiffauges bảo:
- Cháu mất kính đeo mắt rồi. Không thấy gì nữa hết. Cháu hướng dẫn đường đi cho chú, Ephraim.
- Ngựa Do Thái ơi, không lo, cháu cầm hai tai chú dẫn đường đây!
Một loạt đạn dò đường rơi lả tả như mưa lửa xuống hang cây.
- Ephraim à, ta thấy một nắm tay siết chặt trên bầu trời đen. Nó siết lại và rỉ ra từng giọt máu.
- Béhémoth, ta đi thôi, chú quờ quạng rồi!
- Ehphraim à, trong kinh sách, lẽ nào người ta khôn nói rằng đầu nó với tóc nó đều trắng như tuyết, mắt nó như lửa ngọn còn hai bàn chân nó thì như đồng nung lửa, và miệng nó thè ra một cây kiếm sắc hai cạnh?
- Behémoth, nếu ngươi không quay gót, ta rựt đứt cả hai lỗ tai đây này!
Tiffauges ngoan ngoãn vâng lời, và lúc bấy giờ chỉ còn là một đứa trẻ nhỏ bị kẹp giữa đôi chân và đôi tay của kẻ Chở - Sao. Cả hai tiến tới chưa được mười thước thì đã bị chặn lại vì một đám lính Xô Viết lăm lăm chĩa tiểu liên. Ephraim cao giọng the thé. Tù binh! Tù binh Pháp! Làm cho đám lình lùi lại và mở lối đi cho chàng Cõng Trẻ.
Các trận đụng độ đã ngưng bặt trong lâu đài, chỉ có canh phải với tòa tháp Atlante là có vẻ ngoài nguyên vẹn. Những các đội Xô Viết tìm đủ cách loại trừ lần lượt các nhóm thanh niên lưu động tản mát trong rừng và đồng truông, và các loạt đạn nổi lên càng lúc càng xa dần, anh lướt đi Và anh đi về hướng con đường Schlangenfliess, mơ hồ nằm về phía sinh lộ phía tây. Như một kẻ đắm tàu giữa đại dương bơi theo bản năng bang hy vọng được cứu mạng, anh làm đủ loại động tác dễ thường đưa mình đến nơi vô sự, mà vẫn không một giây lát nào nghĩ rằng mình thoát khỏi. Anh bang qua Schlangenfliess sáng rực như ban ngày vì nhà nhà phần phật như ngọ đuốc vừa bắn lên trời nhưng cột khói sáng lên từng dây lửa nhỏ. Rồi bóng tối lại chụp xuống anh. Anh tiến bước dăm phút nữa, càng mù mịt hơn, bỗng Ephram kéo giật hai tai anh.
- Khoan, Béhémoth! Lắng nghe xem!.
Anh dừng lại, Anh lắng nghe. Trong cái im lặng về đêm, tiếng lích kích loạn xạ và trong trẻo của dây xích đoàn chiến xa chuyển động lọt vào tai họ rõ rang và đe dọa. Một trái hảo châu đỏ, phóng lên cách chưa đầy một cây số trước mặt họ, kêu xeo xeo và uốn mình trong bóng tồi. Và gần như lập tức những quả pháo đầu tiên veo véo đùng đùng trên đường. Như thế nghĩa là dàn pháo Flak của Đức chưa bị loại, và đang hô ứng với tín hiệu bộ binh. Ephreaim quyết định:
- Đừng đi theo lộ. Chú rẽ trái đi hướng đồng truông, mình trách đoàn chiến xa.
Tiffauges chẳng bàn cãi vạch sang vệ đường bên trái, dấn bước vào những ụ tuyết bùn bờ đường, và cảm nhận ra dưới bước chân nền đất mềm và tráo trở của chân rừng. Một thân cây con cào xước mặt anh và kể từ lúc ấy, anh tiến tới dang thẳng hai tay trước mặt như người mù. Cứ thế anh bước đi hồi lâu, cho đến một lúc tiếng pháo giã trên đường chỉ còn là tiếng ầm vang mơ hồ rào rào bên tai. Dần dần, đất trở nên xốp dưới chân anh, và mỗi bước mối gắng nhấc chân lên cho khỏi lún. Rồi hai bàn tay anh chạm vào cành va cây một khu rung nhỏ, và anh nhận ra cây trăn đen của đầm lầy. Anh muốn dừng chân, quay gót, nhưng một lực không cưỡng lại nổi đẩy vào vai anh. Và chân anh càng lún vào đất truông ngập nước, anh càng cảm thấy đứa bé – mảnh mai thế kia, trong suốt thế kia – lại đè nặng xuống người anh như một khối chì. Anh sấn tới và bùn vẫn lên dọc hai cẳng chân anh, và sức nặng đang đè anh càng thêm trầm trọng theo mỗi bước chân. Bâu giờ anh phải ra sức phi thường để quật lại sức ép bầy nhầy dăng dần ngực bụng anh nhưng anh bền gan, vì biết rằng mọi sự tiến triển tốt đẹp. Khi anh ngước mắt lần cuối nhìn Ephraim, anh chỉ nhìn thấy một ngôi sao vàng sáu cánh xoay xoay chầm chậm trên bầu trời đen.