11.3.1938. Loại nhật ký kỷ niệm mà tôi ghi chép bằng tay trái từ hơn hai tháng nay có khả năng dị thường là xác định các sự kiện và động tác được tường thuật - sự kiện của tôi và động tác của tôi – vào một viễn tưởng khiến cho những thứ ấy sáng tỏ hơn và mang một kích thước mới. Cái tên Abel của tôi, chẳng hạn, hiện ra với tôi dưới một lằn sáng mới từ những dòng ghi chép ngày 18.2. Cũng như một số thói quen nhỏ nhỏ riêng tư, có phần xấu, bề ngoài có cái gì phi lý khó bào chữa, nay viết ra đây vài dòng tưởng có thể chuộc lỗi chăng.
Thí dụ ngay sáng hôm nay lẽ ra tôi đã oẹ lên một tiếng nếu như cườm tay phải tôi không báo động là còn đau khi tôi ráng sức. Hú lên như thế này là để nói lên sự chán nản vừa là một nghi thức vượt lên chán nản. Tôi nằm sấp xuống đất, hai bàn chân đưa ra ngoài, chống người lê hai bàn tay, hai cánh tay thẳng, ngực ưỡn, đầu hất ra sau ngửa lên trần nhà. Và thế là tôi oẹ. Tiếng oẹ của tôi nó giống với tiếng ợ sâu thẳm, kéo dài tưởng chừng xuất phát từ ruột gan làm rung động cổ họng hồi lâu. Tiếng ấy chất chứa nỗi chán sống và nỗi chờ chết.
Sáng hôm nay, thay vì oẹ, tôi có nghĩ ra một nghi thức mới mà tôi gọi là gội đầu nước xí hay gội đầu nước cứt, chưa rõ nên gọi là gì. Phải nói rằng nỗi khó sống đè khá nặng lên xác tôi từ tinh sương, khi tôi cố công rứt nó ra khỏi các tấm mạng. Nhưng chưa hết: như mọi ngày, còn có – hôm nay còn tệ hơn mọi hôm - tấm gương soi khiến não lòng. Số là tôi chưa hề từ bỏ niềm hy vọng thầm kín rằng qua đêm may ra mình có một khuôn mặt làm bằng thớ thịt mới có thể thay đổi cái bộ mặt nạ thường ngày của tôi chăng. Chẳng hạn, một buổi sớm mai, sẽ là một khuôn mặt ngây ngô mà trang trọng của con mang nhìn ngó bằng đôi mắt lá răm màu hạnh nhân lục thảo từ trong nước gương soi sáng loé. Và tôi sẽ nghịch ngợm với đôi tai nhúc nhích diễn cảm của tôi nhờ linh động may ra đền bù lại đường nét cứng cỏi khó coi của khuôn mặt tôi.
Ấy vậy mà cứ vẫn là tôi, vàng vọt hơn, hắc ám hơn thường ngày nữa đấy, đôi mắt thụt sâu vào, đôi mày đen than rậm rịt, cái trán thấp, bướng, vô cảm hứng và hai nếp nhăn lớn rạch dài lên hai bên má như thể bị đào do dòng nước mắt chảy và không khô cạn. Bị mất ngủ, cằm tôi lởm chởm râu chính đau lòng bàn tay, răng lợn cợn xanh. Quả tình, tệ đến thế này thì thôi! Tôi la toáng lên: “Cái bản mặt! Mặt với mày! Cho vào cứt!” vừa la, hai bàn tay tôi đưa lên siết chặt lấy cổ để làm động tác vặn đầu tôi ra. Kế đó, người nóng lên, tôi vào phòng vệ sinh thật. Nơi đây, tôi quỳ xuống trước mặt chậu vệ sinh giống như để nôn, nhưng tôi đã chúi cả đầu vào, trong khi tôi đưa tay mò lê sợ dây sắt. Nước oà xuống như sấm vỡ, và một luồng nước lạnh và mạnh như dao chém ập xuống gáy tôi. Sau đó, tôi đứng lên, nước chảy ròng ròng, tính ra phần nào bẽ bàng. Dẫu sao tôi cũng dễ chịu! Đố tôi không giở lại trò này.
14. 3. 1938. Giờ ra chơi dài, lúc bốn giờ, đang huyên náo. Tiếng ồn ào đồng loạt bồng lên từ sân chơi, nơi đây đang quần thảo hàng trăm thằng nhỏ chẽn người trong lớp áo tạp - giê đen chấm đỏ. Tôi ngồi lên thành cửa sổ có Nestor tỳ người vào đó, tôi quan sát một trò chơi mới đầy vẻ hung tợn thu hút người xem. Bọn nhỏ mảnh dẻ hơn cả đang nghễu nghện trên vai bọn khỏe, và từng đôi như thế - người và ngựa - húc vào nhau không ngoài mục đích hất cẳng nhau. Ðôi tay kỵ sĩ dang ra thay cho chiếc dáo cứ nhắm ngay mặt đối thủ và động tác thứ hai là biến thành câu liêm móc vào cổ áo kỵ sĩ kéo ngang hoặc ngược ra sau. Có những pha ngã ngựa kinh hồn xuống đập, nhưng có khi kỵ sĩ ngã người ra sau siết chặt hai gối vào cổ ngựa và chiến đấu, đầu sà xuống đất, đôi tay vẫn bấu vào chân ngựa phe địch.
Nestor đầu tiên nhìn bao quát sân chơi, khoái trá vì mình yên ổn ngắm nhìn đám hỗn quân. Hắn thốt lên mấy câu thường thường không trỏ vào ai: “Một cái sân chơi là một không gian thu hẹp có vừa đủ chỗ để chơi. Vui chơi là một trang giấy trắng, trên đó các trò ghi dấu lên như là những tín hiệu cần lý giải. Nhưng cái tính chất đậm đặc của không khí nó tỷ lệ ngược với không gian giam hãm không khí ấy. Nếu bốn bức tường thu rút lại gần nhau hơn nữa thì những gì xảy ra trong đó lại càng đáng được xem hơn. Lúc bấy giờ điều gì viết ra lại càng cô đọng. Nhưng dễ đọc hơn chăng? Đến tận cùng là hiện tượng đặc quánh. Ðặc quánh như thế nào đây? Có lẽ những thứ như bể cá, hoặc rõ hơn, như nhà ngủ tập thể, sẽ cho ta lời giải đáp”.
Đến lúc này một chùm kỵ sĩ rối đùn lại với nhau chao người cùng với ngựa và rã đám ra trên nền đất thô nhám. Nestor rùng người hứng chí. Hắn bảo tôi: “Nào, Abel, cho chúng rõ ta là ai!” Rồi hắn lách ra sau lưng tôi, đưa cả cái đầu to tướng của hắn vào giữa đôi chân gầy gò của tôi, và đội tôi lên như chiếc lông. Hai bàn tay hắn siết cườm tay tôi, và kéo đôi cánh tay tôi để tôi ngồi chắc, và thế là cả hai chúng tôi đều bị trói tay. Hắn chẳng thèm quan tâm, vì chỉ trông mong đắc thắng vào khối thịt của mình thôi. Và quả nhiên hắn băng qua chiến địa và du ngã mọi thứ trên đường băng, giống như con bò tót lên cơn. Hắn quay người lại và xốc tới, nhưng qua phút bất ngờ, bao nhiêu kỵ sĩ còn lại tại chỗ đang can đảm đương đầu. Sự xáp chạm thật dữ dội. Kính đeo mắt của Nestor vỡ toang. Hắn buông tay tôi ra bảo: “Tớ chẳng trông thấy gì nữa hết, cậu dẫn đường coi!” Tôi chụp lấy đôi tai hắn và cố cách quày quả, muốn hắn đi hướng nào thì kéo tai phía ấy, như kéo cương ngựa vậy. Nhưng lập tức hắn dùng một chiến thuật khác. Để tránh né bọn kỵ sĩ vây bủa, hắn đứng tại chỗ xoay cả con người vùn vụt một cách bất ngờ vì hắn vốn mập. Phần tôi, tôi chụp bất kể thứ gì xáp lại vừa tầm và lôi kéo bọn tấn công bắt chúng lăn lóc như những cây ki. Chẳng mấy chốc chỉ còn hai đứa chúng tôi còn trụ, giữa cả bọn thua cuộc hì hà hì hục rời nhau ra trên đất. Một vòng người chiêm ngưỡng vây quanh chúng tôi. Một thằng nhỏ rời khỏi đám lại gần tôi lễ phép trao lại cho tôi cặp kính vỡ của Nestor mà hắn nhặt được.
Nestor khuỵu gối để đặt tôi xuống đất, trong một động tác thoáng chốc nhắc nhở cho tôi cái động tác của voi để nài xuống. Kế đó hắn đứng im giây lát, cười cười vu vơ, mơ màng, kèm theo một dáng vẻ sung sướng mà tôi chưa hề bắt gặp nơi hắn, làm hắn quên luôn cả thói quen đưa khăn tay lên chặm mồ hôi. Tiếp tục mò mẫm, hắn đưa tay ra đặt lên vai tôi, chẳng nghĩ đến chuyện thử mang lại kính mắt. Chúng tôi trở về xó cửa sổ xuất phát, cái vẻ hả hê phần nào ngô nghê vẫn không rời khuôn mặt hắn. Hắn im lặng hồi lâu, cuối cũng hắn nói: “Nhỏ Abel ạ, không ngờ cõng một thằng nhỏ là một điều thú vị đến thế”.
14.3.1938. Một trong những thứ an ủi lặt vặt đối với tôi, là đánh giày. Phía dưới tủ, tôi có một chiếc thùng nhỏ đầy bàn chải cứng mềm đủ loại, các khăn chùi bằng len thực thụ và nhất là các hộp kem giày nhiều màu, từ đen tuyền đến trắng trong, qua một loạt màu hung nâu. Tôi thích ngày này ngày nọ chuyển màu giày bằng các thứ kem phân lượng công phu. Tôi chải bụi và bôi màu buổi tối để sáng mai làm bóng láng. Phải làm thế mới đạt. Nhưng tôi thích nhất là sờ sịt chiếc giày, và luồn tay vào trong luôn nữa. Bàn tay tôi thô kệch, như gọng kềm của tên bóp cổ, hình như chiếc xẻng của phu đào cống, bàn tay khổ sở vì diện mạo lố lăng của chúng khi nằm trên tấm khăn trải bàn trắng hoặc một tờ giấy, và khi phải cầm chiếc muỗng nhỏ bằng bạc hay cây bút chì cứ chực nát bất cứ lúc nào như que diêm trên mấy ngón tay. Nhưng với giày thì khác hẳn.
Tuần nọ, tôi bắt gặp trên mặt một cái thùng rác có một đôi giày lính lủng, rách, sạm mồ hôi, còn bị sỉ nhục vì trước khi bị đem vứt, người ta đã thu hồi dây giày, và đôi giày há hốc thè lưỡi giày và trơ trơ các lỗ trống trơn. Tay tôi thân tình nhặt lấy, hai ngón tay cái cong veo của tôi làm oằn cả đế giày – cử chỉ nâng niu thô kệch nhưng trìu mến - mấy ngón tay tôi lòn lõi vào trong gót. Ðôi giày như sống lại, khổ thân cho chúng, dưới sự sờ mó cảm thông, nhưng tôi không khỏi se lòng khi phải trả lại vào đống rác.
Trong một ngăn kéo của bàn làm việc, tôi có một bộ sậu đánh giày thu nhỏ. Một hộp kem trắng trong, một bàn chải cứng đánh bụi, một bàn chải mềm đánh láng, một miếng len. Hễ có khách hàng lì lợm và khiến tôi ngấy người, tôi không do dự. Y trố mắt nhìn tôi tuôn ra các dụng cụ và tôi mải mê đánh láng đôi giày một cách công kỹ. Nếu cần, tôi tháo giày ra để lên bàn. Cái lợi lớn của thứ kem trắng trong là có thể - và nên – miễn dùng bản chải khi bôi. Ðiều thích thú là lấy ngón tay bệt thứ kem trắng trong ấy, kem thơm nồng và tẩm hồi lâu vào lớp da, đút vào từng thớ da, làm dịu từng nếp, phủ lên từng đường chỉ! Khách của tôi nếu thấy tôi tự tiện xử sự như thế mà lấy làm điều là nhầm to đấy. Tôi lại nhờ thế mà hóa ra dễ chịu, kiên nhẫn, rộng lượng.
Tay tôi yêu giày. Quả tình giày chúng nó buồn không được làm chân, cũng như mấy đứa con gái to cao suốt đời cứ tiếc không được làm con trai.
16.3.1938. Ngồi bẹp trong góc, Nestor cầm trọn nắm tay tôi trong bàn tay phải của hắn, và hắn cười cười quan sát tôi qua lớp kính đã biến dạng quái dị hơn nữa do mấy mẩu giấy dán thô kệch níu giữ các phần lại với nhau. Hắn hỏi tôi:
- Cậu có biết nam tước Adrets?
Tất nhiên là không, làm sao tôi biết nổi nam tước Adrets? Nhưng Nestor cũng chẳng đợi trả lời. Hắn nói chẳng cần máy môi:
- Tớ kể chuyện cho nghe. Nam tước tên là Francois de Beaumont và có lâu đài vùng Dauphiné, ở mạn La Prette. Bấy giờ là thế kỷ XVI, giữa lúc chiến tranh tôn giáo làm cho xứ sở đẫm máu, và giúp sức cho nhữngcường quyền bành trướng vô tội vạ.
“Một buổi đi săn, Adrets cùng đoàn tùy tùng dồn một một con gấu vào đường cùng, đường rút lui của nó bị hố sâu cắt ngang. Con thú cùng đường lao vào một người trong đám, gã này bắn, làm cho gấu bị thương và ôm gấu lăn trong tuyết. Nam tước mục kích cảnh tượng. Ông lao người cứu giúp. Nhưng ông bỗng dưng khựng lại, ngây người mê mẩn lạ thường. Ông nhận ra người với gấu cùng sa nhẹ nhàng xuống hố sâu và ông ngắm nhìn, sửng người, bị thôi miên vì hình ảnh lao xuống chầm chậm này. Kế đó khối đen lao chao trong khoảng không, và màu trắng của mặt đất chỉ khẽ nhòe đi bằng một vệt xám, trong khi ấy Adrets ồ lên một tiếng hả hê.
“Vài giờ đồng hồ sau, viên sĩ quan mò về, máu me, thương tích, nhưng vẫn toàn mạng, vì con gấu đã chêm đệm cho gã khi ngã xuống hố sâu. Gã lễ phép ngạc nhiên vì vẻ đủng đỉnh tiếp cứu của nam tước. Và nam tước mỉm cười vu vơ như mỉm cười với một hồi tưởng thi vị, trả lời cho gã bằng một câu nói huyền bí và đầy dọa dẫm: “Ta có ngờ đâu một con người ta rơi ngã lại ngoạn mục đến thế”.
“Từ đó ông sa đà theo cái đam mê mới phát hiện này. Lợi dụng chiến tranh tôn giáo hỗn loạn, ông bắt nhốt người công giáo sống trên đất đạo Tin Lành và người Tin Lành sống trên đất công giáo, rồi sai khiến ném người cho rơi ngã. Ông đặt định ra nghi thức rơi ngã kỹ xảo: tù nhân phải bịt mắt múa theo tiếng đàn trên một đỉnh tháp không có bờ thành. Và nam tước say sưa khấp khởi nhìn tù nhân tiến sát lại chỗ hụt chân, lùi vào, bước ra lại, rồi thình lình một đưa bước hụt lao vào khoảng không, hét rú lên để lao xuống cắm mình vào mấy chiếc lao từ dưới đất ở chân tháp chìa lên…”.
Tôi chưa có dịp tò mò kiếm xem câu chuyện kể của Nestor có đúng theo lịch sử chăng. Nhưng cần gì? Có một sự thật về con người - tôi suýt bảo một sự thật về loại người Nestor - còn hơn xa sự thật của sự kiện. Sau khi kể cho tôi nghe đời sống ít được biết đến của nam tước Adrets, Nestor chẳng bình luận gì thêm. Nhưng nay tôi không khỏi đưa câu chuyện ấy lại gần một nhận định mà hắn đưa ra một thời gian sau đó và lúc ấy tôi không hiểu. Hắn có nói: “Có lẽ không có gì đáng xúc động trong đời người cho bằng bỗng dưng khám phá ra một sự bại hoại mà mình nhúng tay vào”. Tôi cũng còn nhớ nó khoái dùng một từ ngữ mà bấy giờ tôi cho là cao siêu: sự sung mãn. Hắn nói: “Adrets khám phá ra sự sung mãn nhịp nhàng”. Và hắn mơ màng hồi lâu với sự kết hợp chữ nghĩa kỳ lạ ấy, có lẽ hắn tìm kiếm một vài công thức nào khác, một vài chìa khóa mở vào những khoái lạc không dè.
20.3.1938. Báo chí sáng hôm nay đưa ra con số 2783 người mất tích không để lại dấu vết tại Pháp trong năm qua. Tất nhiên trong nhiều trường hợp là những người trốn nhà hoặc tự động thoát ly để trốn gia đình hoặc một người vợ bỉ ổi. Nhưng ngoài số ấy ra, là những vụ sát nhân hoàn hảo đưa đến sự hủy hoại toàn vẹn của “thân xác gây nên tội lỗi” bằng lửa, bằng đất hay nước. Nếu thêm vào đó những vụ giết người tài tình nhất là những vụ được ngụy trang thành những cái chết bình thường, ta có được một cái nhìn phỏng chừng về xã hội khủng khiếp ta đang sống. Tất nhiên trong đại đa số trường hợp, tội ác bị đến tội, sự giết người thành công. Hàng ngày chúng ta đưa tay bắt những bàn tay đã bóp cổ người hoặc đã châm thuốc độc. Những việc mà công lý tiến hành, theo định nghĩa, là những thất bại vì không biết cách giữ kín. Nhưng con số nhỏ nhoi của những việc làm ấy – khoảng mười hai vụ mỗi năm - nói lên tính chất thuần túy tượng trưng, ám chỉ, vừa đủ khiến ta nghĩ rằng như vậy là tuân theo một nguyên tắc, nguyên tắc tôn trọng mạng sống.
Thật ra công lý của xã hội ta thuộc loại ghét của nào trời trao của ấy. Tức là công lý tương ứng với sự tôn thờ kẻ sát nhân đang nở hoa rành rành ở mỗi góc phố, trên các tấm bảng sơn xanh để cho công chúng chiêm ngưỡng danh tính những người đánh giặc lẫy lừng hơn cả, nghĩa là những kẻ giết người chuyên nghiệp say máu hơn cả trong lịch sử.
22.3.1938. Dù những đổ nát của nhà thờ tu viện đã được sửa sang, chúng tôi tụ họp làm lễ và đọc kinh trong một nhà nguyện mới xây, được vẽ vời trang trí theo phong cách hiện đại nhưng cầu kỳ. Ngày thường chúng tôi được đưa đến đây hai lần - kinh sáng, kinh tối -, nhưng chủ nhật và các ngày lễ cứ chuông thì buộc phải đến bảy lần - kinh sáng, thánh lễ hiệp thông, đại lễ, nhật tụng chiều, kinh sau bữa ăn, chầu thánh thể, kinh tối. Có nghĩa là mỗi chúng tôi đến đây gần giống như về nhà mình, quen với ghế, với chỗ của mình, với những mốc nhìn từ chỗ của mình. Cử tọa ở đây cũng tổ chức, thứ trật y như trong lớp học, dù có khác. Trước tiên có các thành viên dàn hợp xướng, phần nào được bọn khác phân bì vì những lần tập dượt có khi cần đến chúng nó ngay giữa giờ học và người ta có thể bao che một số khiếm khuyết của chúng nó. Nhưng vị trí của chúng nó - trên đài cao, dưới hình hoa thị lớn uốn lượn nửa vời, túm tụm chung quanh cây đàn đạp hơi với cha Pigeard đang rạp mình trên đó - tựu trung ít thuận lợi hơn là thoải mái, ngoại trừ ưu thế có thể quan sát toàn học sinh tập họp từ trên cao nhìn xuống và nhất là nhìn từ phía sau tới. Chính Nestor lưu ý tôi về điểm sau và hắn đã từng tự hỏi nên chăng kiếm cớ nào đó tìm cho được một chỗ quan sát trên hành lang ấy, đó là dự định mà sau đó hình như hắn bỏ trôi. Liên quan đến dàn hợp xướng này, tôi ân hận đã quên khuấy lời hắn phát biểu một hôm có mặt tôi và hôm ấy hắn so sánh tính chất hợp xướng lớp lang và như có nét kiến trúc với sự rập ràng hoang dại túy luy nổi dậy từ sân chơi học sinh.
Đám thánh ca tạo ra cho tôi cơ hội một chuyện giật gân nho nhỏ - hiểu chữ này theo nghĩa tinh thần hơn cả - câu chuyện khiến Nestor cười cợt và bắt đầu bằng một sự giải thông rất cần thiết cho tôi. Tôi cho rằng trong một trường đạo, cái vinh dự lớn lao được phụ việc cho vị cử hành thánh lễ đương nhiên chỉ dành cho lớp tinh hoa trong trường, bọn được phần thưởng ưu hạng, phần thưởng chăm học mà thôi, tức là những tấm gương đức hạnh và hạt mầm thánh thiện. Vậy mà tôi nhận thấy ngay rằng nếu tiêu chuẩn ấy đóng một vai trò đáng kể trong sự chọn lựa những ai xứng đáng khoác áo lễ trắng thì cũng vẫn phụ thuộc vào sự đáng giá ở các phương diện khác chứ không phải phương diện cao đẹp của tâm hồn. Sự thật nhục nhã và không thể thú nhận được, trừ phi các đức cha bị chông hay bị nướng thì mới khai, là không thể vào đoàn thánh ca nếu mặt mày không đẹp. Và ở đây không phải là vấn đề chọn lọc thô bạo chỉ nhằm loại bỏ bọn giỏi môn dịch nhưng mặt mày gớm ghiếc, nhưng đúng là vấn đề phân lượng tinh tế, sắp xếp trên các bậc cấp của bệ thờ những đứa bé nào tóc vàng và tóc đen, đứa gầy và đứa vuông vắn, một đàng là hài đồng phúng phính đỏ au và một đàng là khuôn mặt xương xẩu của Mẹ Khổ Đau, một phía là sự vô tội vui sướng như một con vật và một phía là sự trong trắng bị cọ xát.
Nestor đã đánh tan những ưu tư của tôi. Trong bao nhiêu điều hắn nói với tôi hôm ấy và trong những dịp khác, điều tôi ghi nhớ nhất là hắn trách móc các vị cha cố đạo hạnh - vốn là những vị chăn chiên chuyên nghiệp đấy chứ - tại sao không biết rằng một đứa trẻ sở dĩ nó đẹp là vì nó bị ám ảnh, và sở dĩ bị ám ảnh là vì được phục dịch. Giê-su hài đồng trên vai của Christophe vừa được cõng vừa được bốc đi. Hào quang của người do đó mà tỏa. Người được bứt ra đi, được nâng hứng rất kính cẩn và cực nhọc trên sóng nước cuồn cuộn. Và tất cả vinh quang của Christophe là vừa làm thân chuyên chở vừa làm chiếc bình thánh thể. Trong cảnh qua sông, vừa có phần bắt cóc vừa có phần lao dịch. Hẳn nhiên tôi có thêm thắt vào lời hắn nói cho thêm mạnh và rõ, đúng theo định hướng sâu xa trong tôi. Nhưng hình như tôi có nhớ rằng Nestor ước ao tìm thấy được cái ý nghĩa hàm hồn ấy nơi đứa bé hát thánh ca, và ước ao bắt gặp ông cha cố quỳ gối trước mặt thằng bé hành lễ.
Ngay tại nhà nguyện kiến trúc rườm rà này, số mệnh sẽ giáng một vố đầu tiên, và như thế này là tạo cho chúng tôi cơ hội tập dượt lần cuối cái màn bi kịch của trường Saint - Christophe sẽ diễn ra năm ấy.
Như thường lệ, tôi ngồi chỗ gần cuối của một dãy. Bên trái tôi, Nestor ngồi ở mút lối đi bên cạnh, tại nơi này lối đi lại rút hẹp lại vì bàn xưng tội. Cái mới là tên ngồi cạnh tôi bên phải, Benoit Clément, một tên ở Paris bị gia đình “tống” xuống Beauvais, vì chịu hết nổi hắn tại thủ đô. Tên Clément này dễ dàng tạo được uy tín bên cạnh bầy dân ngu khu đen là chúng tôi bằng cách nó bày ra toàn những món dữ dằn hoặc nên thơ mà thôi - súng lục có hộp xoay la bàn, dao bấm nút, con lặn, quả bóng đánh gôn - và ngẫm nghĩ lại tôi tự hỏi phải chăng nhờ nó Nestor mới có được con quay trục nghiêng, món “đồ chơi tuyệt đối” theo cách gọi của hắn. Mà thật quả giữa hai đứa chúng nó đã có một sự vong đảng – nếu không phải là kết bạn - khiến cho Clément tự tiện phô bày với Nestor một cách điệu thân tình làm cho tôi khó chịu, vừa là vì ganh tỵ vừa là vì như thể một sự nhân nhượng hạ mình về phía thằng bạn thân của tôi. Người ta thường bắt gặp hai đứa đi đôi tranh cãi chuyện này chuyện nọ và bàn bạc mua bán trao đổi, và tôi chỉ có thể yên tâm khi tự nhủ rằng chắc Nestor đang khai thác triệt để các sở năng của tên mới đến và đặt nó vào lại vị trí tầm thường của nó chừng nào hết điều kỳ vọng ở nó.
Tựu trung sự có mặt của Clément ở phía bên tay phải của tôi không phải là vô ích trong chuyện mua bán này, là vì khi thánh lễ vừa mới vào cuộc là hai đứa kề cạnh tôi xáp vào thương lượng ngay chồm lên người tôi, chẳng thèm để ý đến tôi, coi như tôi không có mặt vậy. Dĩ nhiên tôi không nghe sót một lời, huống chi vụ việc không lấy chi làm mới mẻ và cứ đem ra tranh luận trước mặt tôi đã mấy hôm nay. Đề tài là quả lựu đạn hình quả chanh từ thế chiến 14 - 18 chế thành quẹt lửa. Tôi mang máng nhớ rằng Clément đem ra đánh đổi mười vụ miễn dịch, Nestor cho như thế là quá đáng và buộc ít nhất phải biểu diễn xem nó vận hành tốt không đã. Sau một lần bàn cãi, Nestor có nói với tôi: “Ta biết mà, quẹt lửa chẳng bao giờ quẹt được đâu”. Có điều là cần có xăng mới biểu diễn được. Mà chỉ có Nestor mới tậu được xăng.
Mọi việc tiến triển đến đó sáng chủ nhật hôm ấy, và đúng lúc dâng bánh lễ mọi thỏa thuận ngã ngũ tạo dịp cho tôi vâng lời Nestor chuyển cho Clément một chai xăng nhỏ. Lập tức Clément bắt tay vào việc bồi quả lựu đạn, nhét bông gòn vào trong, một thao tác công kỹ, bị ngắt quãng nhiều lần vì một tu sĩ canh gác đi tới đi lui giữa phòng. Nestor chăm chú để mắt vào các giai đoạn thao tác mà hắn chịu trách nhiệm, và rất có thể hắn đã ngăn được một tai biến, giá như cha bề trên của trường đang đàn thuyết giảng bài giáo lý khiến hắn bỗng dưng chú ý đến độ như thể quên phức thằng Clément và luôn cả quả lựu đạn chanh với bình xăng. Những lời đầu tiên trong bài giảng của cha bề trên, tôi vừa tìm thấy lại chẳng mấy khó khăn trong tập Tiểu luận của Montaigne, cha đã trích từ tập này ra. Đó là giai thoại về Alphonse d’Albuquerque, anh chàng hảo hán người Bồ Đào Nha thế kỷ XV. Nhà giảng đạo ngọt giọng kể lể: “Albuquerque, trong cơn ngặt nghèo rủi may trên biển, sốc một đứa bé trên vai, chỉ với mục đích là chung đôi với nhau, sự vô tội của đứa bé có công dụng bảo bọc và dẫn dụ ơn trên cho y thoát hiểm”.
Sau lời giáo đầu ấy, cha bác qua một cách dễ dàng sang chuyện thánh bổn mạng của chúng tôi, câu chuyện lý thú về con người cõng chúa, được thưởng công, cây sáo mọc lá mọc quả”. Cha nói thêm là chẳng có gì cho phép ta nghĩ rằng Albuquerque nhớ lại chuyện thánh Christophe và muốn bắt chước thánh trong cơn hiểm nghèo, dù Christophe, như ta biết, là người bảo vệ cho người đi xa và đi biển. Không, điều có thể vừa đúng hơn cả vừa hay ho hơn cả, là gã hảo hán kia, cũng như vị thánh, đều thành toàn phần số của mình từ chung một cội, mỗi người một hướng vẫn làm động tác giống nhau: tự đặt mình dưới sự bảo vệ của đứa trẻ mà chính mình bảo vệ, cứu người và cứu mình, đèo một vật nặng, trĩu vai xuống, nhưng là vật nặng bằng ánh sáng, trĩu dưới sự vô tội!
Hôm ấy Nestor thốt lên nho nhỏ:
- Ông trả bài nhé. Ông chép ra giấy trắng mực đen rồi ông học thuộc lòng chứ gì. Cuốn sách này nhập vào mớ sưu tập của tôi thì cũng hay đấy!
Ðến đây Đức cha kết câu chuyện Christophe Albuquerque với chúng tôi làm một.
- Vì tất cả các con ở đây đều đặt mình dưới hiệu kỳ của Christophe, cho nên từ nay và suốt đời các con phải biết vượt qua tội ác bằng cách ẩn núp dưới một lớp áo vô tội. Các con tên Pierre, tên Paul hay Jacques gì gì đi nữa, các con hãy luôn luôn nhớ mình đều có tên là Cõng Trẻ: Pierre Cõng Trẻ, Paul Cõng Trẻ, Jacques Cõng Trẻ. Và đèo thêm các gánh thiêng này, các con sẽ băng qua sông, qua dông bão, và qua luôn cả lửa tội ác.
Đến đây một đường lửa lan ra dưới vòm và bùng dậy thành từng mảng lung linh giữa vòm chính. Clément không dè rằng khi hắn nhồi nhét quả lựu đạn, hắn đã vãi ra một phần chai xăng xuống nền nhà. Khi bật đá lửa lên, hắn đã buông quả lựu đạn đầy ắp xăng phật lên như bó đuốc. Toàn thể người tham dự đứng lên hỗn loạn, trong khi bọn tu sĩ ngỡ như chứng kiến một sự hiển linh đều quỳ cả xuống. Cơn hoảng sợ lùa tất cả mọi người về phía cửa, lập tức cửa chật cứng không còn qua lọt. Clément ấn chiếc chai không vào tay tôi để rảnh tay với quả lựu đạn đang tiếp tục ọc ra từng vòi xăng lửa vừa lăn quay dưới các dãy ghế. Tôi nhìn Nestor: hắn biến đâu không hiểu. Giọng oang oang của vị giảng đạo cuối cùng cất lên, ra lệnh cho chúng tôi phải bình tĩnh và lui về chỗ cũ. Sự tác hại thật ra không bao nhiêu, nhưng sợ thì nhiều. Lửa càng bốc càng chóng tắt và thiệt hại chỉ dăm cuốn kinh bén lửa. Vấn đề còn lại là thủ phạm. Ngón tay trỏ buộc tội của diễn giả chĩa về góc chúng tôi, truyền cho Clément và Tiffauges sẽ bị nhốt cho đến khi có lệnh mới, đứng lên đi ra khỏi hàng và quỳ giữa lối đi chính. Rõ ràng chúng tôi phơi mặt ra dưới mắt mọi người xì xào kinh tởm, bởi lẽ chúng tôi cầm trên tay các tang vật, Clément với quả lựu đạn, tôi với chiếc bình, gốc gác mọi tội lỗi. Kế đó Cha bề trên, để chứng tỏ dẹp vùi biến cố, ông cất giọng đọc to lời tin, được lặp lại bằng giọng đồng thanh, lúc đầu ngập ngừng lưa thưa, nhưng mỗi lúc một đầy đặn thêm.
Giờ lễ hiệp thông, tôi thấy màn cửa xưng tội lay động, và một bóng người dễ nhận diện từ đó lách ra trà trộn vào đám người đang tránh né Clément và tôi trên đường hướng tới dàn đồng ca. Nastor bước tới bàn thành, xẹt vào người tôi, đôi tay khoanh lại, cúi gằm chiếc cằm ba ngấn của hắn xuống, toàn tâm toàn ý mặc niệm.
25.3.l938. Mỗi đêm tôi cố gắng rút bớt giấc ngủ bồi thường cho mình bằng những giờ giấc mơ mộng, đăm chiêu, như là góc riêng duy nhất dành cho tôi trong nếp sống cộng đồng này, ở đây cái huyên náo của giờ chơi và giờ ăn chỉ dừng lại là để nhường chỗ cho những rục rịch ngấm ngầm tại phòng học tập thể và nhà nguyện. Không ai cấm cản việc dậy sớm đi vệ sinh, và vì vậy nếu thích tôi có thể cho phép mình đủng đỉnh ban đêm, khả năng này tôi sử dụng vừa phải thôi vì sự đụng đầu tên nào đó là thụy du của nhà ngủ, vì nhà ngủ nào cũng có đứa thụy du, như thể ở Tô Cách Lan lâu đài nào cũng có con ma riêng của nó.
Các biến cố quả lựu đạn và nguy cơ ra hội đồng kỷ luật cộng thêm tình trạng đơn độc sẽ bị nhốt, mọi thứ khiến tôi mất ngủ đêm ấy. Tôi đứng lên và luồn lỏi giữa các lối đi giữa các dãy giường. Con ma của nhà ngủ, tôi thầm nghĩ mình đang bắt gặp nó đây khi nghe tiếng bước nhè nhẹ, trong khi đó một bóng người to lớn tiến bước từng chặng chậm chạp, thanh tra bọn đang ngủ, cúi xuống đứa này đứa kia, rồi tiếp tục bằng một cách riêng. Chẳng cần quan sát lâu lắc, tôi nhận ra Nestor đang quấn lên mình một lớp áo bông dày làm nặng thêm dáng người của hắn. Chắc hẳn hắn cũng nhận ra tôi, chẳng thế mà sự đột nhiên của tôi chẳng làm cho cử động của hắn xao xuyến tí nào. Hắn cũng chẳng quan tâm đến tôi khi tôi ngang sát cạnh, có lẽ ngoại trừ mấy câu nhận định hắn thốt lên nho nhỏ mà hắn muốn chia sẻ với tôi thì phải, nhưng đúng hơn là nói cho chính mình:
- Ở đây đông đặc quá. Trò chơi vì vậy mất ý nghĩa. Sự chuyển động dừng lại ở vài dáng điệu, đành rằng dáng điệu khác nhau, nhưng chậm rãi quá. Mặc, đọc cho ra mấy khuôn mặt này đã. Trên đó hẳn phải có dấu hiệu tuyệt đối từ A đến Z. Nhưng tìm ở đâu bây giờ? Với lại, giấc ngủ là sự đắc thắng giả hiệu. Tất nhiên tất cả chúng nó nằm đó, trần truồng, vô ý thức. Nhưng kỳ thật, một phần trong con người chúng nó, ta đâu có nắm. Chúng nó có mặt, đồng thời chúng nó vẫn vắng mặt. Bằng chứng là ánh mắt tắt ngấm trên các khuôn mặt. Tuy nhiên bao nhiêu thân thể hâm hấp, phơi mở này, chẳng phải là tình trạng kết tụ lý tưởng hay sao?
Những ngọn đèn chong phơn phớt xanh nhả ra một làn sáng lờ nhờ trên dãy giường nhỏ xếp thẳng như những ngôi mộ dưới ánh trăng, và hơi thở của hai đứa vi vu như gió thoảng trong hàng cây trắc bả. Không khí quyền quyện và bó rọ như trong chuồng bò, chẳng là các ông nông dân vùng Picardie và vùng Bray là những ông đang cai quản chúng tôi, các ông ấy ghê sợ gió lò như là nguồn gốc của mọi thứ bệnh. Chúng tôi chân thấp chân cao hướng về phòng vệ sinh, không hiểu sao Nestor kéo tôi đi về hướng này như thế. Hắn chốt cửa lại và mở toang cửa sổ. Các mái nhà và tháp chuông của thành phố cắt rõ nét như thể được vẽ bằng mực tàu trên nền trời lân tinh. Hồi chuông của Saint Etienne rền rĩ ba giờ sáng. Ðối nghịch với hơi hám trong phòng vừa rời xa, không khí trong lành ban đêm có vẻ buốt lạnh. Nestor hứng khởi, báo: “Sự kết tụ ứ đầy bí mật choáng người vì nó là sự sống, nhưng cái trong lành vẫn hay. Trong lành là hư vô. Đối với chúng ta nó có sức mê hoặc dữ dội vì chúng ta đều là con đẻ của hư vô”. Rồi hắn quay ngoắt lại tôi, oang oang cao hứng: “Lạ lùng chưa, chiếc cửa gỗ tồi tàn này chỉ vì một cái chốt vô nghĩa mà cách ngăn con người với hư vô!”
Cái chậu vệ sinh bằng gỗ ủ màu nằm tót trên một thứ bục hai cấp, một cái “ngai” thực thụ nghễu nghện đỏng đảnh ở cuối phòng. Nestor day lưng lại phía tôi, chậm rãi bước lên cấp, như thực hành một động tác nghi thức. Lên đến chân ngai, hắn thả quần rơi xuống xếp đống dưới chân. Hắn thanh tra mặt trong của chiếc chậu, quơ chiếc chổi rơm móc trong một cái hóc hộp bằng sắt tây và ra công vừa đánh sạch vừa giật nhiều lần chiếc cần tháo nước. Từ con người hắn, tôi chỉ nom thấy hai cái mông bạnh ra thêm vì cố sức. Ðiều làm tôi ngẩn người ngạc nhiên không phải là hình dạng kếch xù - tôi thừa biết - mà là cái vẻ gần như là tinh thần của đôi mông. Nói thế nào bây giờ? Có một sự vô cùng ngây dại trong hai cái hình dạng bán nguyệt ấy đang bị lệch dạng vì bao nhiêu ngấn mỡ nổi lên khắp nơi, hơn thế nữa, một cái gì đó thoạt nhìn vào có vẻ hoàn toàn xa lạ với con người của Nestor: đó là sự tốt bụng. Từ trước tới giờ, tôi bị đè bẹp dưới uy tín và quyền năng của Nestor, nhạy cảm với thái độ bảo bọc của hắn, xúc động theo những chăm chút phủ phê của hắn. Chính lúc này trông thấy mông của hắn, tôi lần đầu tiên đem lòng yêu mến hắn, vì tôi thấy ra những gì là vô phòng bị, là nét vụng về dễ bị thương nơi con người hắn.
Hắn thẳng người và quay lại. Phần trên của lớp áo ngoài của hắn xuống ngang rốn. Bên dưới phần bụng phình ra cùng với hai bắp đùi tạo thành ba mảng thịt trắng óng ả khuất lấp cả mẩu dương vật tí hon của hắn đang bị chèn vào các mép. Hắn đặt mình xuống ngai và tức khắc trông giống như một nhà hiền triết Ấn Độ, như một đức Phật tĩnh tọa đại từ đại bi. Tràng độc thoại đứt đoạn của hắn được tiếp nối. Hắn bảo:
- Tớ chẳng chống đối gì các chậu vệ sinh theo kiểu Thổ trong triều đình. Như thế là đúng hợp với sự bài tiết hàng ngày của số đông, có thể đó không phải là đám phàm phu, nhưng chắc chắn là đám ngoại đạo. Cậu hiểu cái khác nhau tinh tế ấy chứ. Chậu Thổ nó buộc phải ngồi chồm hỗm, đây là một điều bất tiện nhưng mang đầy tính nhún nhường. Ðó là một lối quỳ gối ngỏng lên với hai đầu gối chỉ thiên chứ không phải chỉ địa. Cái chỉ địa chính là cái hậu như đang tìm cách tiếp xúc trực tiếp với đất, làm như thể đất có khả năng tiếp trợ bằng cách lấy hấp lực của mình hút lấy từ trong thân thể con người cái phần nào tương đồng với đất hơn cả.
Hắn đưa lên một ngón tay.
- Nói như thế không ổn mà phải nói: đất hút lấy cái phần nào trong thân thể con người là hình ảnh thăng hoa của đất nhào trộn với những mầm sống và lâu ngày ấp ủ trong cái bầu nhiệt sinh vật của chúng ta. Phân không phải là cái gì khác hơn là đất có thêm tính sinh vật làm cho thứ đất ấy sinh động một cách riêng. Nhưng cái chậu Thổ từ trong ý nghĩa của nó là cái chậu tiêu thụ tức tốc vào trong phần đất khoáng vật của nó cái phần đất sinh vật mà ta bài tiết. Cái chậu thì chỉ biết vật chất. Mà con người tinh tế lại đặc biệt thích thú ngắm nhìn các hình thể được cái hậu xây dựng nên, mà cái hậu đôi khi cũng biết cách đúc nặn và kiến trúc luôn nữa. Cái khoái lạc đế vương nó bao hàm chiếc ngai vàng kèm theo sự yên tĩnh và phong thái ung dung trong đêm khuya thường đi đôi với nhau.
Im lặng hồi lâu. Một ngọn gió lọt vào cửa sổ làm chao động cái chóa đèn bằng tôn màu và đưa lại tiếng tàu lửa hổn hển xa xa. Tiếp theo là im lặng cho đến khi cánh cửa bị lay động dữ dội vì ai đó ở ngoài muốn vào. Tôi hoảng hốt và quay quắt nhìn Nestor đang bất động như tảng đá. Sau một hồi lâu, hắn động đậy, đứng lên và nhìn sâu vào chậu. Hắn bình luận:
- Ðêm nay, cái hậu có xu hướng trung cổ. Cậu nhìn mà xem, có hình tháp trung ương kèm theo các tháp nhỏ có góc cạnh được hai lớp thành bọc ngoài. Trung cổ và có thể nói là phong kiến nữa đấy, trời ạ! Tuần trước mình đẻ ra kiểu go tích màu mè. Hắn mơ màng nói thêm câu cuối như vậy vừa đưa tay đẩy lui cuộn giấy vệ sinh tôi chuồi cho hắn.
“Không, cậu ạ, đêm nay không khao đàng hoàng là đáng tiếc. Tôi có cất một cái thứ giấy hiếm có đầy nét chữ của một đầu óc thượng hạng mà tôi dành riêng cho dịp đặc biệt. Thật ra tôi không nghĩ mình dùng sớm thế này, nhưng rõ ràng không thể có đêm nào dùng xứng đáng hơn đêm nay.”
Hắn rút từ túi quần phía sau ra ba tờ giấy trăn ra trước mắt tôi. Tôi sững sờ đọc mấy dòng đầu: “Albuquerque, trong cơn ngặt nghèo rủi may trên biển, xốc một đứa bé lên vai, chỉ với mục đích là chung đôi với nhau, sự vô tội của đứa bé có công dụng bảo bọc và dẫn dụ ơn trên cho y thoát hiểm”. Ðúng là bài giảng của cha bề trên do chính tay người viết lấy. Đôi bàn tay thô kệch của Nestor vo lấy bài và nhồi nặn nó hồi lâu cho nhũn. Rồi hắn trao cho tôi và chống hai bàn tay lên miệng ngai ngóng chờ tôi thi hành phận sự.
Nestor chưa chịu buông tôi ra. Tiếp theo đó, hắn lôi tôi đi khắp đường ngang ngõ tắt qua các cầu thang phụ cùng các hành lang mà tôi bước chân qua lần đầu. Xuống tới tầng trệt, hắn dừng lại trước một chiếc tủ nhỏ thụt vào tường, mở tủ ra, bày lộ vô số chìa khóa lủng lẳng trên nhiều hàng đinh móc. Không lưỡng lự, hắn gỡ xuống ba chiếc, và tiếp tục lôi tôi đi, và lần này xuống dưới hầm. Đèn chong chẳng có. Tối mò. Cho đến khi hắn táo tợn bật đèn, khiến tôi hết hồn, trong một phòng bếp ở sau xa. Kế đó, hắn xeo một cánh cửa nặng trịch của tủ lạnh ra, và lôi ra bàn từng miếng pa tê, một đùi cừu, một tảng phô-mát và một xô mứt mơ. Hắn phác động tác mời tôi, rồi không đếm xỉa đến tôi, hắn bắt đầu ngấu nghiến, chẳng cần mì, nước uống.
Tôi sợ, tôi lạnh, các thức ăn lợn cợn, và tôi thấp thỏm sợ hình phạt đang lăm le tôi. Nhưng sự hiện diện của Nestor khiến cho mọi vật mang một vẻ ma thuật hớp lấy mình. Tôi không nghĩ rằng trẻ con đều có khiếu thẩm mỹ phát triển mạnh. Tôi nghĩ người ta sẽ khám phá lắm điều kỳ lạ nếu như nảy sinh ý nghĩ điều tra trong đám trẻ xem chúng hiểu như thế nào là đẹp, là xấu. Nhưng đa số nhạy cảm trước cái uy của sức mạnh, lại càng nhạy cảm trước cái uy của sức mạnh bí mật, biến ảo, một thứ sức mạnh nó biết đè nặng xuống những điểm yếu của thực tế xám xịt làm cho cái thực tế lả tả từng mảng một phải lòi ra những cái quí báu bị che giấu. Nestor có cái năng khiếu này ở mức độ cao và hắn hớp hồn tôi quá kỹ đến độ tôi chẳng dám hạch hỏi gì hắn về cách hành xử của hắn trong nhà nguyện và về hậu quả vụ quả lựu đạn đối với tôi.
Mãi đến khi tôi lui về giường mình, đêm hãy còn đen như mun, nhưng kèn sáng đã tò te trong sân trại lính ở gần. Tôi biết mình còn được thêm một tiếng đồng hồ nữa mới đến hồi nếm mùi hãi hùng không tên của những hồi chuông và ánh sáng sẽ đến xé toang bóng tối dịu hiền của giấc sáu giờ rưỡi này.
Tôi đã hiểu rõ rằng Nestor sẽ không thể giúp được cho tôi một cách hữu hiệu nếu bị dính líu vào vụ lựu đạn chung với Clément và tôi. Ðứng ra ngoài, hắn giữ được trọn tự do hành động và can thiệp. Cần gì, sự kiện hắn bỗng dưng biến dạng vào lúc xăng bốc lửa và hắn không mở miệng kể từ biến cố ấy đã làm tiêu tan cái cảm giác an toàn của đời tôi kể từ khi hắn ra tay bao bọc tôi. Với lại, làm sao quên được rằng vai trò của tôi hầu như vô tích sự trong suốt cả câu chuyện này vốn chỉ liên quan tới Clément với hắn thôi, và chính tôi là kẻ chịu trận tại địa bàn của hắn đấy chứ? Chắc hẳn chuyến hai đứa gặp nhau ban đêm ấy và sự mục kích sức lực và toàn quyền của hắn làm cho tôi phần nào lên tinh thần. Nhưng tôi cảm thấy mọi sự đổ vỡ trong tôi lúc thầy kỷ luật cho tôi biết ngay sáng ấy rằng hội đồng giáo sư sẽ nhóm họp ngày mai và quyết định về trường hợp chúng tôi sau khi triệu với từng đứa riêng. Do việc dốt riêng làm tôi tuyệt vọng, tôi mất hẳn bình tĩnh và đành nghĩ đến sự trốn thoát hoảng loạn.
Việc bọn nội trú bỏ trốn là điều khó quan niệm với bậc làm cha đạo hạnh, và hầu như không có ai canh phòng ở cửa trường khi bọn ngoại trú ra về. Tôi lọt ra ngoài không mấy khó khăn và đi vòng qua ngôi nhà thờ Saint- Etienne, băng qua đường Malherbe rồi lao vào đường Tapisserie hướng đến nhà ga. Tại Beauvais tôi chẳng quen biết gì nhiều hơn. Tôi gặp may, vì chuyến tàu cuối cũng đi Dieppe khởi hành hai phút sau. Tôi sẽ không bị đuổi theo. Tôi mua vé đi Gournay và chui nhủi trong một toa tàu hạng ba, chắc mẩm mọi hành khách đều đọc thấy trên mặt tôi cả hai vết nhơ của tên bị giam cầm và tên đào thoát. Con tàu gặp đâu dừng đó, chạy lùi đủ bận, và phải mất hơn một giờ mới nuốt hết ba chục cây số từ Beauvais đến Gournay.
Suốt khoảng thời gian ấy, tôi nao nao tự hỏi sẽ nói sao đây với bố tôi khi đột ngột xuất hiện. Tôi khỏi lo điều này. Ðược trường Saint - Christophe báo động bằng điện thoại, bố tôi chờ tôi tại ga. Lần này vẻ mặt lạnh lùng suốt đời không lay chuyển của bố đối với tôi xem ra được việc. Ông như cái máy, ông dí mép râu của ông lên hai bên má tôi, rồi cho tôi hay rằng nếu còn một chuyến tàu nào về được Beauvais thì tôi đi ngay đêm nay, nhưng nếu đi chuyến bảy giờ mười lăm sáng mai, thì tôi vẫn kịp giờ họp hội động kỷ luật. Bấy nhiều lời trong thái độ lạnh lùng, không có dấu vết giận dữ, cũng không bực rực. Về đến nhà, tôi thanh thản phần nào nhờ mùi vị thân quen của phòng xưởng nhưng nhà cửa ở tầng một hắt ra hơi hám nồng nàn từ nếp sống nhàm chán của một kẻ cô độc về già - những chi chút cố tật hòa trộn với những buông lỏng thảm hại - đến độ tôi cảm thấy mình xa lạ cũng giống như ở trường học dù tôi sinh ra và lớn lên ở đây. Đêm đến hãi hùng, trọn vẹn làm bằng ác mộng và những trăn trở dằng dặc. Một hình ảnh ăn sâu vào trí tôi thành ra ám ảnh không thôi, đó là hình ảnh đám lửa vụt bùng lên quanh tôi trong nhà nguyện. Quả là lửa địa ngục, nhưng cũng là lửa giải phóng, và nếu như trường Saint - Christophe bốc cháy, nếu cả thế giới bốc cháy, thì khổ ải của tôi cũng tiêu tan theo luôn.
Cuối cùng tôi thiếp ngủ đi vào sáng sớm, đúng lúc ấy bố tôi đến lay giật tôi, và định kiến của tôi - là ngôi trường bốc cháy - chỉ chờ đợi tôi thức giấc là ập đến. Tôi cảm thấy hả hê nhừ nhẫn, mường tượng luôn chính mình tiêu tan trong thảm họa mà không hề sợ hãi. Còn sự việc hỏa tai có khó bề xảy ra chăng, thì hình ảnh ấy được bù trừ một cách kỳ lạ trong trí óc tôi bằng mỗi một ý nghĩ rằng chỉ có cách ấy thôi tôi mới thoát nạn nổi.
Bố tôi báo cho tôi biết có một tu sĩ đón chờ tôi tại nhà ga ở Beauvais. Chẳng có ai. Tôi đã đoán là như thế thôi, tôi ước tính rằng tối thiểu một lần sự việc cũng nên lọt ra ngoài hướng dự đoán chứ. Chẳng vội vã, tôi đi lại trên những lối đi hôm qua, ngóng xem dấu hiệu gì đó trên mặt mày người qua đường.
Ðường đến trường đông đặc một đám người lao xao mà mấy người cứu hỏa đang đẩy lùi để giăng các ống vào giữa lộ. Chiếc xe đỏ có cái thang đài được đưa tới phòng bị, nhưng không dùng tới, vì, theo lời người ta bảo, tai nạn phát ra từ dưới hầm, quả nhiên tôi nom thấy nhiều đám khói đen hăng hắc thoát ra lờ lững từ những ô cửa dưới hầm máy sưởi. Mấy ô kính của các lớp nhỏ ngay phía trên đó bị đập vỡ, và người ta phân biệt phía bên trong toàn ngổn ngang bàn ghế, bảng đen cháy nám lở dở. Lại thêm nước cứu hỏa lênh láng góp phần thiểu não cho cả bãi thí nghiệm này. Người ta chỉ trỏ cho nhau chằm chặp vào một thứ miệng lửa cháy ra than mở toang hoác ở nền nhà đối diện với chỗ kê chiếc bục. Chính tại nơi đây ngọn lửa bị ủ một thời gian dài dưới hầm đã bùng lên như núi lửa. May lửa bắt cháy sớm bưng - có người xác định là đúng sáu giờ mười lăm – giờ ấy lớp nào cũng chưa có ai. Người ta khẳng định không có ai bị nạn. Thế mà cánh cổng vụt mở và một chiếc xe cứu thương lao ra vạch đường giữa đám đông. Khi xe vụt ngang gần tôi, tôi nhận ra khuôn mặt hớt hải phinh phính của mẹ Nestor ngồi trong ấy.
Tôi lọt vào sân trường trước khi cửa đóng sập lại. Bao nhiêu đứa nội trú đều có mặt đó, tụm năm tụm ba, bất động, nhỏ to với nhau. Người ta yêu cầu đám ngoại trú đứa nào về được thì về. Chẳng ai để ý tới tôi, và hôm ấy lần đầu tiên buộc lòng tôi có được kinh nghiệm rằng không ngờ bọn chúng nó có mắt chẳng thấy dấu hiệu riêng biệt trên con người tôi so với cả bọn. Như thế có nghĩa là người ta có thể không dè gì tới mối quan hệ sờ sờ, rành rành giữa vụ hỏa hoạn và số phận riêng tôi! Bọn người khờ khạo này vốn chờ chực đè bẹp tôi vì một chuyện tẹp nhẹp - mà tôi lại vô can nữa chứ! - e suốt đời không nhận ra, dù tôi to tiếng nói lên sự thật ngay vào mặt họ, rằng tôi có dự phần vào cái hình phạt đang bổ xuống ngôi trường này!
Tôi kiếm Nestor. Tại sao mẹ hắn ngồi trong xe cứu thương? Hôm đó tôi biết được một điều quá thể. Buổi sáng hôm ấy bố của Nestor sai hắn xuống hầm đun than vào bình chứa nước nóng lúc năm giờ thay cho ông. Đây không phải là lần đầu tiên hắn chu toàn công việc này. Người ta trước sau không rõ sự việc thật sự xảy ra như thế nào. Hơn một giờ sau đó, ngọn lửa ra trong các lớp học trẻ con. Mấy người cứu hỏa đầu tiên lọt vào đường hầm đun nước nóng khênh lên thân thể của Nestor đã chết ngạt.
28-3-1938. Sáng hôm nay bỗng giật mình với ý nghĩ đến giờ thức dậy. Ðồng hồ báo thức chỉ hai giờ kém mười lăm, nhưng nó đứng từ hồi nào. Tôi nhổm dậy với chiếc đồng hồ đeo tay trên bàn. Chiếc này cũng đứng luôn, và đôi kim chỉ hai giờ mười. Thế là phải điện thoại đến nơi báo giờ mới hay là đã bảy giờ.
Ngoài đường sương mù dày đặc. Tôi đã đỗ bên vệ đường chiếc xe Hotchkiss cũ kỹ để có thể phóng nhanh đến Meaux, tại nhà một khách hàng, trước khi mở tiệm xe của tôi. Khi tôi giật cần rồ máy, tịnh không có chuyển động nào: các bình điện cạn kiệt, có thể là do sương mù. Mà đồng hồ ở bảng máy vốn phải được châm điện đã đứng từ lâu rồi, và nó chỉ: hai giờ mười lăm.
Bao nhiêu trùng hợp dây chuyền lẽ ra làm tôi chột dạ giá như tôi không bắt quen với hiện tượng này. Nhưng đời tôi đầy rẫy bao nhiêu trùng hợp không giải thích được khiến tôi rắp tâm xem đó như bấy nhiêu cảnh giác. Không sao, đó là số mệnh nó hờm sẵn và truyền cho tôi không được quên sự hiện diện vô hình nhưng khó tránh của nó.
Mùa hè năm ngoái, tôi ngủ, mở rộng cửa sổ. Thức dậy tôi vặn đài phát thanh để ru mình bằng âm nhạc những phút đầu tiên trong ngày. Và quả nhiên âm nhạc trỗi dậy, lách tách, linh hoạt, tươi tắn, giậm giật. Kể đó tôi sao nhãng theo một tiếng động vỡ òa ra phía mái nhà trên đầu tôi. Một đám chim, chắc hẳn chim khá lớn, xô xát nhau và chửi rủa nhau cuồng nhiệt. Tiếng động gia tăng, và tôi đoán những con đối đầu ôm nhau trượt trên mái tôn xuôi dốc. Cuối cùng một hòn xù lông lọt xuống bờ cửa sổ của tôi và rơi vào phòng. Đôi chim ác là kinh hoàng buông nhau ra và cũng lấy đà phóng qua cửa sổ tìm nẻo tự do. Ðúng lúc ấy mấy hợp âm tắt ngấm và người nữ phát ngôn viên lên tiếng: “Quý vị vừa nghe đoạn mở đầu bản Con chim ác là đánh cắp của Rossini”. Tôi cười thầm trong tấm mền mỏng. Tôi nói khẽ: “Xin chào Nestor!”.
Cũng có khi là một sự đáp lời - thường có ý chế nhạo - đối lại một lời cầu xin kín đáo mà tôi vọt miệng. Chẳng qua, rốt cục, tôi vốn sống giữa bao nhiêu tín hiệu và lóe sáng, có thể tự cho mình là vận hên chứ sao?
Cách đây sáu tháng, gặp những lúc túng bấn, tôi có mua trọn một vé xổ số quốc gia, miệng khẩn khứa vắn tắt: “Hỡi Nestor, một phen xem sao?” Hừm, không thể nói là có ai nghe tiếng tôi! Vậy mà tôi đã được đáp lời. Ðáp lời một cách lêu lêu. Vé của tôi mang số B953.716. Vé đem đến một triệu cho sở hữu chủ là vé mang số B617.859. Vé của tôi lộn ngược. Ðể cho tôi một bài học vì muốn sàm sỡ lợi dụng ưu thế của mình đối với sự vần xoay của vu trụ. Tôi cáu giận, sau đó tôi cười xòa.
4-4-1938. Tờ báo Volkischer Beobachter, cơ quan chính thức của đảng cầm quyền Ðức, tung ra một công thức: súng đại bác hơn là bơ. Ðó là cách diễn ý sự đảo ngược trầm trọng dưới dạng thấp hèn nhất đang được thi thố khắp nơi. Súng đại bác hơn bơ, có nghĩa là, nói một cách cao sang, nói một cách dễ hiểu: Chết hơn sống, thù hơn yêu!
8-4-1938. Hãng Renault tung ra một loại xe hơi chạy hoàn toàn bằng than hoặc củi đốt. Những chiếc xe tải nặng một ngàn đến năm ngàn kilô và những chiếc xe ca có mười tám đến ba mươi mốt chỗ ngồi chạy thẳng bằng củi sau khi cháy được năm sáu phút. Một hệ thống thuần thục cho phép khí đốt được phát sinh khi xe xuống dốc dài và cho phép nhấn ga mạnh. Máy được trang bị bằng một bộ phận lọc đơn giản, không có vải, khỏi sợ bị bít hay bị rách.
Điều thật lạ là thời đại chúng ta từ nay sự tiến bộ nó đi giật lùi. Vài năm trước đây thôi, nếu xuất hiện những chiếc xe hơi bằng củi thì người ta đã bật cười. Rồi đây người ta sẽ đưa ra giới thiệu với chúng ta, như là kỹ thuật mới nhất, một động cơ chạy bằng rơm, và cuối cùng sẽ khoái chí khám phá ra chiếc xe ngựa.
8-4-1938. Tôi lưu lại ở trường Saint - Christophe cho đến mười sáu tuổi. Hạnh kiểm của tôi không chê trách được, các điểm số của tôi thì thê thảm. Tôi mang trên mặt mình một lớp mặt nạ hồn nhiên mà tôi không rời bỏ từ độ ấy, nhưng lớp mặt nạ ấy không bao giờ bị lung lay vì sự ra đi của Rachel, sự khám phá ra cách viết bằng tay trái và dăm ba dấu hiệu khác. Tôi quyết định xóa mình ra khỏi một xã hội vốn chỉ dành phần xấu cho tôi. Ngược lại, tôi không hề biết cách phấn son cho tâm hồn mình. Nó nôn ra tất cả những gì các ông thầy cho nó ngốn về mặt văn hóa. Đến cuối bậc trung học, tôi ngang nhiên mù tịt về Corneille lẫn Racine, nhưng tôi đọc thuộc âm thầm cho tôi những Lautréamont với Rimbaud, về Napoléon thì tôi chỉ biết giai đoạn thất trận tại Waterloo – đồng thời lấy làm giận bọn người Anh sao không treo cổ kẻ bội tín -, nhưng tôi lại biết toàn bộ về các vị có danh phận của hội kín, như Cagliostro và Raspoutine, và nếu tôi có thăm dò quanh mình có bao nhiêu tín hiệu khả dĩ xuất hiện, tôi đã dẹp bỏ hết mọi thứ khoa học, bất luận văn học nào. Cuối lớp mười, hiển nhiên tôi sẽ không qua được tú tài. Các đức cha có hảo ý xếp tôi không thương tiếc vào đám học trò mà hàng năm người ta tống khứ ra khỏi vòng các ngôi trường loại như thế này, chỉ cốt sao nâng cao số thi đỗ các kỳ thì. Thế là tôi lọt về Gournay-en-Bray nơi bố tôi ra tay mớm cho tôi nghề cơ khí của ông. Sự hiện diện của con người lầm lì lạnh lùng này bao giờ cũng có kết quả làm rối mù suy nghĩ lẫn đôi tay của tôi. Cũng nên nói thêm rằng nếu tôi là đứa học nghề quá kém thì bố tôi làm thầy cũng chẳng khá hơn, bởi lẽ ông xưa nay làm lụng một mình chẳng buồn mở miệng dẫn giải. Mà rồi chẳng bao lâu tôi bỏ đi, tìm đến kẻ cạnh tranh với ông bố tôi, trong hàng sửa chữa xe hơi duy nhất của vùng Gournay. Nghĩa vụ quân sự ban cho tôi cơ hội “lên” Paris và phát hiện ra ở đây một ông bác, chủ nhân của một hãng sửa xe gần Ballon des Ternes. Ông bác tiếp đón tôi vồn vã và có ý ra ơn cho bố tôi mà bác tôi không gặp kể từ khi việc chia gia tài ông nội tôi làm cho bác và cha tôi gấu ó nhau. Tôi trở thành người bạn đường đầu tiên của bác khi tôi mãn nghĩa vụ và bác chết đi để lại hãng sửa xe ở Ballon cho tôi, năm năm sau. Như thế là sự việc ngẫu nhiên nó muốn tôi làm nghề như bố tôi, nhưng ở mức cao hơn, làm như thể tôi từng nuôi tham vọng leo lên vài nấc thang xã hội mà không trở mặt với truyền thống gia đình. Buồn cười thay cái vỏ bề ngoài ấy! Thật ra tôi hoàn thành nhiệm vụ - như tôi đã từng làm lính, như đã từng nếm mùi đàn bà, như tôi trả tiền thuế - một cách nguội lạnh, như kẻ thụy du, mải miết mơ tưởng mở mắt, mơ tưởng một sự đứt đoạn đến giải phóng cho tôi và cho phép mình cuối cùng là mình. Sự đứt đoạn ấy, bảo rằng tôi mơ tưởng hãy còn chưa đủ. Tôi đã bảo, chiếc mặt nạ run rẩy trên khuôn mặt tôi. Và trên hết mọi thứ là có cái bàn tay trái này, là sự ló dạng đầu tiên của tên Tiffauges mới mẻ đã từ ba tháng nay viết nên những điều mới lạ với những chữ nghĩa mà bàn tay phải của tôi ắt tìm không ra. Có mùa xuân đâu đây. Mùa xuân, băng rã, băng tuôn tràn...
11.4.1938. 99,06% cử tri người Áo hôm qua bỏ phiếu thuận nhập nước mình vào nước Ðức. Sự đồng tình lao xuống vực sâu của hầu hết mọi người ấy không phải là sự tác động của một lực ngoại lai nào quét sạch sức đề kháng đâu. Không phải, căn bệnh nó đâm rễ trong từng người, và đám đông đứng trước hai nẻo sống chết phải chọn một, họ đã hô to “Chết! Chết!”, giống như bọn Do Thái đáp lời Ponce Pilate bằng tiếng “Barabbas! Barabbas!”
13.4.1938. Tôi nhỏ người và tong teo cho tới mười hai tuổi. Rồi bỗng cao lên thật nhanh, gần như không cân nặng thêm, đến nỗi con người gầy guộc của tôi, lúc đầu chỉ thấy xấu thôi, sau đó thấy lố bịch, thoắt đâu trở nên đáng báo động. Hai mươi tuổi, tôi cao một thước chín mươi mốt và nặng sáu mươi tám kilô. Thêm vào đó, bệnh cận thị tăng vọt khiến tôi mang kính dày mãi thêm trông chưa chi đã giống miếng chai chằn giấy khi tôi đến trình diện hội đồng tái khám. Bằng một cử chỉ tai ác chắc hẳn là vô tình, gã cai tuần là người chỉ đạo công việc bắt tôi lấy kính xuống rồi đẩy tôi ở truồng trùng trục, mắt mù câm, vào trong phòng “danh dự” của thôn đường. Tôi xuất hiện khiến cho mấy kẻ có máu mặt trong đám hương chính của Gournay ngồi làm vì sau bàn giấy phá lên cười. Điều gây cười nhất đối với họ, là “chim” của tôi tuyệt không cân xứng với vóc người tôi, một “chim” trẻ con trơn tru. Vị bác sĩ địa phương thốt lên một từ bác học làm mọi người cười òa lần nữa vì nghe ra một điều tục tĩu cao độ: teo chim. Trường hợp của tôi được lôi ra thảo luận lâu lắc. Cuối cùng tôi suýt được miễn dịch, và được trưng dụng vào truyền tin, là binh chủng ít khắt khe về phương diện đặc điểm thể chất của tân binh.
Thêm một lần nữa, người ta đánh giá tôi lầm lạc, vì vừa mãn quân dịch một cách tàm tạm thế thôi, thì, như Nestor đã từng tiên toán, răng của tôi đâm ra lớn mạnh, tôi có ý nói rằng tôi ngon miệng muốn ăn lạ lùng làm cho dạ dày của tôi bắt đầu thót lên hằng ngày.
Lúc đầu bao giờ cũng giữa các bữa ăn cơn đói mới ập tới. Đột nhiên ngay tại xưởng hay trong phòng làm việc, một cảm giác trống không cồn cào trong bụng, cơn run làm rời rã tay và đầu gối, mồ hôi toát đẫm hai bên thái dương, nước miếng ứa ra dưới lưỡi. Tôi buộc phải ăn, tức khắc, ăn một cái gì đó, không chậm trễ. Cơn đói ấy vào những buổi đầu bắt tôi chạy tới tiệm bánh gần nhất, người bán bánh sững sờ nhìn tôi ngồm ngoàm bánh nướng, bánh quai vạc hết cái này đến cái khác. Về sau, đến mùa đông, tôi để ý thấy những thùng ốc sò bày bán đẫm mùi rong ướt trên vỉa hè bên cạnh một gã bán rượu. Người ta mới bày ra chuyện này để có cớ uống rượu vang trắng nguyên chất đi đôi với ốc sò và phổ biến nó ra kể từ đó. Họ nạy cho tôi hai tá sò Portugaises số không và dọn ra cho tôi kèm một cốc rượu pouilly fuissé. Tôi say sưa hau háu cắn ngập vào lớp thịt mềm nhờn màu đục trắng, mằn mặn, pha chất i - ốt, cái chất tươi mát bọt biển của những cơ thể nhỏ bé đang thí thân mềm nhũn, vô hình dáng, cho vòm miệng chiếm đoạt ngay khi bị bóc ra khỏi các hõm cư trú xà cử của mình, đó là một trong những phát hiện trong thiên hướng phàm ăn của tôi. Tôi hiểu rằng tôi sẽ thỏa mãn sự thèm ăn của mình một cách toàn vẹn hơn nếu tôi càng đến gần với lý tưởng là đồ ăn sống tươi tuyệt đối. Tôi tiến thêm một bước lớn một hôm được biết rằng loại cá trích tươi, mà thông thường người ta ăn chiên hoặc hấp, cũng có thể ăn sống và lạnh miễn sao nhà bếp chịu khó róc vảy, vì vảy khó róc. Nhưng sự khám phá tối cao của tôi trong địa hạt này là món “bíp-tếch sống”, thịt ngựa thái nhỏ ăn sống với lòng đỏ trứng gà kèm theo mớ gia vị nặng nề bao gồm muối tiêu, dấm, tỏi, hành, ném và nụ bạch hoa. Nhưng về món này cũng cần tiến bộ mới thỏa mãn được một đam mê ít người chia sẻ đến thế. Sau bao nhiêu bàn cãi với những người phục vụ tại tiệm ăn duy nhất vùng Neuilly có bán cái món ngược đời bạo tợn ấy, tôi được người ta giảm bỏ dần dà đến kỳ hết mọi thứ gia vị màu mè chỉ có nhiệm vụ che mắt chất tươi sống thẳng thừng của thịt. Và vì tôi cũng kỳ kèo về số lượng, nên chẳng mấy chốc tôi được phép vào buồng thịt tự thân xay lấy từng thớ thịt mà tôi mua ở một cửa tiệm thịt ngựa. Có thế tôi mới hiểu cái hấp dẫn từ bao giờ vẫn đến với tôi từ những quầy thịt và những móc thịt vốn bày ra trước mắt mọi người cái chất bóc trần hăng nồng vạm vỡ của mấy con thú bị lột da, những khối thịt ròng ròng, những miếng gan nhầy nhớt mang vẻ kim khí, những buồng phổi ửng hồng như miếng xốp, cái cơ thể phía trong đỏ chót phải bày ra giữa hai chiếc đùi ngựa chành bạnh thô tục, và nhất là các mùi mỡ nguội lạnh và mùi máu đông sệt phất phưởng bên trên lớp tường sát sinh này.
Cái khía cạnh ấy của tâm hồn tôi mà tôi phát hiện chẳng bắt tôi lo lắng chút nào. Khi tôi bảo “tôi thích thịt, tôi thích máu, tôi thích thịt”, chỉ có cái động từ thích là đáng nói. Cả con người tôi là toàn thích. Tôi thích ăn thịt vì tôi thích loài vật. Thậm chí tôi nghĩ mình có thể đưa tay ra cắt cổ và ăn trìu mến ngon lành một con vật do mình nuôi và chung sống. Tôi sẽ ăn thịt với một ý vị sáng suốt hơn, sâu thẳm hơn là ăn một con thịt vô danh, không riêng biệt. Ðó là điều tôi đã mất công diễn giải cho cái cô ngốc là Toupie vốn ăn chay vì ghê sợ các lò sát sinh. Sao có nàng chẳng hiểu cho rằng nếu ai nấy giống như cô thì đa số gia súc biến mất hết trong cảnh đời, có phải buồn chết không? Chúng sẽ biến mất giống như con người cũng đang trên đà biến mất theo nhịp chiếc xe hơi giải phóng con ngựa thoát cảnh tôi đòi.
Nói tóm lại, chất lượng con tim tôi có thể được chứng thực - nếu được – bằng một sở thích khác nữa, đó là sữa. Lối thưởng thức của tôi tìm lại được mức độ tinh vi khởi thủy bằng thịt không nấu chín và không gia vị, và biết cách khám quá vô vàn mức độ tinh vi dưới hương vị bề ngoài nhạt nhẽo của thức ăn sống, nó có dịp thao diễn trong chất sữa là chất đã trở thành khá nhanh chóng thứ nước uống duy nhất của tôi. Ở tại Paris ta phải đi xa mới tìm ra một tiệm sữa với loại sữa không bị thủ tiêu vì các lối khử trùng và khử chất thô tục kia! Thật ra, ta phải đi tới nông trại, đi tới con bò sữa, ngay cội nguồn chất lỏng ấy vốn đồng nghĩa với sự sống, sự ngọt ngào trẻ trung, đang bị trù dập vì bọn vệ sinh học, bọn nghiệt ngã, bọn cớm cùng với đủ thứ đầu trâu mặt ngựa! Phần tôi, tôi thích thứ sữa còn vất vưởng những mùi chuồng bò kèm với lông bò và cọng rạ, là những dấu hiệu của sự chính thống.
Hai kilô thịt sống cộng với năm lít sữa hàng ngày dần dà không khỏi biến dạng con người tôi, cùng với những quan hệ của tôi với thể xác. Hôm nay, nếu tôi có một khuôn mặt khó coi, thì tôi lại hài hòa với thân thể tôi. Mặc dù tôi xấp xỉ một trăm mười kilô, đôi chân tôi luôn luôn dài khô và cân xứng. Giai do tất cả sức mạnh của tôi dồn tụ lại ở vùng hai đùi to mạnh và tấm lưng u nắn của tôi, các cơ bắp phía lưng dồn quanh hai bên bả vai tạo thành một chiếc bị hai túi có vẻ nặng nề khó thở. Trong các tư thế và dáng bộ thường ngày, bao giờ tôi cũng có vẻ gập người xuống dưới sức nặng riêng của cột sống. Kỳ thật, nếu cần, tôi nhấc phần trước hoặc phần sau của chiếc xe Rosengart hoặc của chiếc Simca V như một chiếc lông vậy.
Rachel là người vốn dùng kính lúp quan sát tôi nên chỉ hiểu mọi thứ đặc điểm trên cơ thể tôi - kể luôn cả và tất nhiên là đáng kể trước tiên cái tình trạng teo chim của tôi - và chưa hề bỏ lỡ một cơ hội nào để cười cợt sự thể ấy. Tựu trung, nàng bảo, anh có một cơ thể như kẻ khuân vác, thậm chí của một con vật chở đồ nặng. Một con ngựa khỏe, anh nghĩ sao? Hay đúng hơn là một con la, vì người ta bảo giống la không sinh con.
Nàng cũng thích hành hạ tôi về chỗ xương hõm xuống giữa ngực tôi, và bọn bác học giả hiệu ở đại học gọi tên là “cái phễu giữa ức”. Cuối cũng, quá trí, một hôm tôi kể cho nàng một mẩu chuyện mà nàng trố mắt thán phục lắng nghe. Tôi bắt đầu kể:
- Hắn là Thần hộ mệnh của anh. Anh định bụng làm một điều cấm kỵ. Hắn ra mặt ngăn cản. Cả hai cãi cọ nhau, anh toan tát tai hắn. Hắn đánh trả một phát vào ngay ngực anh. Một quả đấm thiên thần. Một quả đấm cứng nặng hơn cẩm thạch. Một quả đấm bằng đồng. Anh ngã ngửa người ra ngất thở. Giá như quả đấm là thuần vật chất, nó đã giết chết anh rồi. Nhưng đây là một quả đấm thiên thần, bao bọc chung quanh bằng những chiếc lông vũ trắng của trí tuệ, như một chiếc bao tay quyền Anh lót lông mao trí tuệ. Anh đứng lên nhưng kể từ đó, anh mang dấu vết ấy, chỗ hõm trên ngực mà bọc quanh là cơ bắp ngực, nở lên như những hòn bun cứng, gân guốc, như những chiếc vú nhỏ, khô cằn tuyệt vọng. Với lại đôi khi anh thở mệt, dường như thể cú đấm cẩm thạch chưa chịu buông tha anh và lấy hết sức đè nặng xuống lên ngực anh. Riêng với anh, anh gọi tên sự khó thở này là sự đè nặng thiên thần hay nói gọn hơn là thiên thần.
Nàng nghiêm giọng hỏi đi hỏi lại khiến tôi ngạc nhiên:
- Nhưng anh có chắc là do thiên thần hộ mệnh của anh không?
- Ðôi khi anh có ngờ vực thật đấy, tôi đáp, và anh tự hỏi không biết chừng là thiên thần hộ mệnh của một kẻ nào khác chiếu mạng sai lạc xuống con người anh chăng. Hay là thiên thần hộ mệnh của em ư? Hoặc của một đứa bạn cùng chung ký túc xá với anh và nay đã chết.
Nàng hỏi thêm:
- Nhưng mà này, điều cấm kỵ mà thiên thần ngăn cản anh thực hành là điều gì vậy?
Về phương diện thiên thần đó là bệnh trạng độc nhất của tôi. Mà có phải là bệnh không đã? Dăm ông bác sĩ khám cho tôi chẳng tìm thấy trong tôi có cái gì bất thường cả và tha hồ đoán già đoán non một cách kỳ cục. Khi tôi ngỏ lời với một ông trong bọn họ xem thử có liên quan gì giữa sự khó thở và cái hình phễu giữa ức của tôi, ông ấy nhất quyết lắc đầu.
Tôi nói rõ thêm:
- Có thể không phải là một tương quan nguyên nhân hậu quả mà một tương quan giữa biểu tượng và vật dùng làm biểu tượng chăng?
Dù sao đi nữa nhờ có thiên thần, tôi gán ghép vào đời sống hô hấp của mình một ý nghĩa cơ bản. Nhờ có đời sống này, buồng phổi của tôi thoát khỏi đêm trường tuyến hạch để ra ngoài cái ánh sáng lờ mờ của tạng phủ, hơn thế nữa, trong những trường hợp cực đoan ấy, đó là cơn bồn chồn khó thở vật tôi xuống đất chống chọi với một vòng siết vô hình cố sát, nhưng cũng là cái hít thở dài sâu bổ khoét thu hút toàn bộ bầu trời đầy én và tiếng đàn thụ cầm đang cắm thẳng vào buồng phổi tôi chiếc rễ chia ra hai nhánh.
14.4.1938. Có cần nói rõ nhờ ai tôi có được cái sức mạnh đáng gờm mà vô ích tích tụ trong đôi vai và hông tôi không? Dĩ nhiên là thừa kế của Nestor. Nếu như bán tin bán nghi về việc này, thì cái cận thị nặng nề mà hắn nhượng thêm cho tôi như để chính thống hóa việc thừa kế cũng đã đủ thuyết phục tôi. Chính sức mạnh của hắn làm căng phồng cơ bắp của tôi, cũng như trí óc hắn dẫn dắt bàn tay trái của tôi. Cũng chính hắn là kẻ nắm được cái bí ẩn của sự đồng lõa thầm kín buộc chặt số phận tôi với dòng đời, sự đồng lõa thể hiện lần đầu tiên trong vụ hỏa hoạn tại trường Saint – Christophe và kể từ đó cứ nhắc nhở tôi bằng cách lấp ló ẩn hiện hầu như bao giờ cũng lững lờ. Đó là bấy nhiều điều cảnh giác đánh thức cái bí ẩn sâu kín nhất và đen tối nhất của đời tôi trong khi chờ đợi Ngày Vui Lớn sẽ phanh bí ẩn ra ánh sáng.
15. 4. 1938. Sáng hôm qua, lễ thánh ngày thứ năm tại giáo đường Ðức Bà. Tôi chỉ bước vào nhà thờ, chỉ đi xem lễ nếu có những tình cảm lẫn lộn thích hợp. Bởi dù có lầm lẫn, Luther vẫn có lý khi tố cáo sự có mặt của quỷ Xa tăng trên ngai của thánh Phê rô. Cả một hệ thống thứ bậc đều theo đuôi Ngạ Quỷ và trâng tráo khoác lớp áo quỷ dữ trước mắt thiên hạ. Có mù mắt u mê mới không nhận ra cái phô trương của mọi thứ xa hoa tôn giáo, sự huê dạng kệch cỡm của Xa- tăng, những chiếc miện hình mũ tai lừa, những cây trượng như bao nhiều dấu chấm hỏi, là những biểu tượng của hồ nghi, của ngu muội, bao nhiêu vị hồng y súng sính trong lớp áo tía trông giống như con Điếm đỏ trong thiền Mặc thị, và tất cả bộ sậu của thời La Mã, chiếc que tua đuổi ruồi và ngự uy của Giáo hoàng chót vót trong điện thờ thánh Phê rô với cả một cái tàn tán thô kệch của điêu khắc gia Bernin thòi xuống bốn chiếc gọng và chiếc bụng voi phệ phủ lấp bàn lễ như để vào hùa với nhau.
Tuy nhiên không có cái gì có thể che bít hoàn toàn làn ánh sáng nhợt nhạt rót nhẹ xuống cả cái đống rác rưởi ấy, bởi lẽ nếu Xa - tăng có vồ vập thừa hưởng thánh kinh Tân Ước đi nữa, thì mọi thứ ánh sáng đều xuất phát từ đấng Kitô, và các ông linh mục buộc lòng cần đến thứ ánh sáng ấy trong khi vẫn chế giễu giáo lý của người. Vì vậy không phải là ta ít khi thấy một vệt sáng len lỏi qua cả một rừng gian dối tội lỗi ấy, và trong nỗi đợi chờ tia sáng ấy tôi vẫn đến với lễ đạo nhưng càng ngày càng thưa thớt.
Buổi xem lễ cử hành trong bóng âm u của ngày thánh thứ sáu và nặng nể tĩnh tâm hơn là hào quang chiếu rạng. Sau kinh Lạy Chúa, chuông đổ làm cuối trước ngày thành thứ bảy. Tiếp đến là bài thuyết giáo có đệm đàn theo dòng nhạc một tấu khúc của Bach.
Lạy Cha tha tội cho con, chẳng qua mỗi lần nghe nhạc chính thức, giàn nhạc ống, vang vang giọng vàng trịnh trọng, là tôi trở về với những con ngựa gỗ hội chợ ở Gournay - en - Bray. Giàn quay nhai đi nhai lại cùng một điệu nhạc sôi nổi, tang tóc. Bầy trẻ con kẹp chặt mấy chiếc đùi trần vào hông ngựa đánh loáng và chỏng vó nửa vời đang hăm he ngước lên trời, hàm há hốc và mắt nổi loạn. Ðoàn trẻ con la đà một thước cách mặt đất, bay bổng theo tiếng kèn đồng của giàn đàn ống oang oang như bão táp, đúng là nhạc xưởng thợ, bao nhiêu ống xả hơi, ống đồng, trống bập, một ràn ống đan qua chéo lại, kèm theo một nữ thần của Âm ty với đôi vú đồ sộ và ánh mắt thất thần đưa tay đánh nhịp dứt khoát và chính xác. Kỷ niệm vốn khoác lên mọi thứ đã khuất một vẻ tinh thần nên chỉ đã biến trường ngựa đua ấy thành một tấu khúc giản nhịp, và trong làn ánh sáng của kính hoa chờn vờn khói nhang ấy, tôi hình dung đang quay tròn, quay tròn những đứa bé con của những năm mất hút...
Tôi chìm nghỉm vào cơn mơ đến độ giật mình theo Thánh kinh cùng Lễ rửa chân tiếp theo đó. Mười hai đứa bé đồng ca ngồi ở cánh gà, đứa trước đứa sau, để ló ra dưới lớp áo lễ mấy bàn chân trắng để trần hiện ra rõ nét một cách đáng yêu giữa cái không khí tưng bừng trịnh trọng. Ðức ngài Verdier quỳ gối tuần tự trước mặt từng đứa bé. Từ một chiếc bình bạc, ngài nhỏ vài giọt nước xuống một bàn chân trần, lau chân ấy bằng một tấm khăn, rồi hạ mình và hạ luôn bụng phệ của mình cúi sát đất hôn chân. Sau cùng để cảm ơn em bé, ngài cho nó mẩu bánh với một đồng tiền - như ở nước Đức cổ xưa sau đêm tân hôn người ta tặng cho người vợ mới của mình món quà buổi sáng sau đêm tân hôn. Bọn trẻ phản ứng khác nhau trước vinh dự ấy. Đứa thì nháo nhác nhìn quanh, đứa lại cúi mặt lặng lẽ, đứa tôi thích hơn cả là đứa có khuôn mặt thiên thần thì mím môi lại cho khỏi bật cười tràn.
Hình ảnh ấy đi vào mãi mãi trong trái tim tôi, hình ảnh ông cụ vàng bạc và áo tía đấy mình ấy, cúi sát sạt đặt môi lên chân trần của đứa bé. Và dù Giáo hội bày ra nước mắt tôi những vết ô nhục nào đi nữa, tôi sẽ không quên câu trả lời rất sâu Sắc, rất cao mà Giáo hội đã đưa ra sáng hôm qua đối với câu hỏi của Nestor, hai mươi năm trước đây, hai ngày trước khi hắn chết.
20.4.1938. Hạnh phúc ư? Trong hạnh phúc, có tiện nghi, có tổ chức, có ổn định được tổ chức, là điều xa lạ đối với tôi. Khổ sở là cảm thấy cái giần xây hạnh phúc lung lay vì những trớ trêu của số phận. Nếu theo nghĩa này thì tôi yên ổn. Tôi khỏi bị khổ, vì tôi không có giàn xây. Bản thân tôi là con người của nỗi buồn lẫn nỗi vui. Sự hàng hai này có đối lập với sự hàng hai khổ sở hạnh phúc. Tôi sống trần trụi và đơn độc, không gia đình, không bạn bè, để sống con tôi làm một nghề quá thấp kém đối với sức mình đến nỗi làm thì làm chứ nghĩ thì nó chẳng hơn gì sự tiêu hóa hay hít thở. Cái khí hậu tinh thần của tôi thường là một nỗi buồn đen như mun, đục mờ và đầy bóng tối. Nhưng cái màn đêm ấy lắm khi được xuyên thủng bằng những cơn vui vụt chợt, bất thần và run rủi, chúng tàn lụi tức thì, nhưng không khỏi để lại cho tôi đôi mắt đầy ngấn lân tinh ánh vàng nhún nhảy.
6.5.1938. Sáng hôm nay, ở trang nhất tất cả các nhật báo, người ta đăng tải các chân dung của nội các mới. Một hàng hiên trưng bày lạ mắt và bảy mùi chết chóc. Cái chất ti tiện, bì ổi và dốt nát hiện thân muôn màu muôn vẻ trên hai mươi khuôn mặt ấy - mà người ta đã có dịp chiêm ngưỡng hai chục lần trong những chuyến “lắp ghép” khác. Ða số có tham gia vào nội các trước đây.
Bạn nên nghĩ tới một bản “hiến pháp ảm đạm” có phần nhập đề gồm sáu mệnh đề sau đây.
l. Tính chất thánh thiện là tính chất của cá nhân đơn độc không có quyền lực thật sự.
2. Ngược lại quyền lực chính trị đều thuộc cả về Ông Lớn. Tất cả những kẻ thi hành quyền lực này đều chịu trách nhiệm mọi thứ bất công của tập thể xã hội, tất cả những tội ác hàng ngày diễn ra nhân danh quyền lực ấy. Bởi thế cho nên kẻ phạm pháp lớn nhất của một quốc gia là kẻ nắm giữ chức vụ cao nhất trong hệ thống thứ bậc chính trị. Tổng Thống của nền Cộng Hòa, và sau ông, là những bộ trưởng và sau họ là tất cả những chức sắc của tập thể xã hội, các luật gia, các vị tướng, các bậc cao cấp trong tôn giáo, tất cả đều là những kẻ giúp việc cho Ông Lớn, tất cả là những biểu tượng sống của một bãi sình lầy mang tên là Trật Tự an bài, tất cả đề phủ máu me từ chân lên tới đầu.
3. Phục vụ cho những nhiệm vụ đáng kinh tởm này, các cơ quan sẵn sàng chỉnh đốn một cách hoàn hảo. Ðể đáp ứng với nghề nghiệp bỉ ổi hơn cả, một ban được tuyển chọn lãnh trọng trách tìm lấy trong các đội ngũ rác rưởi được thanh lọc để chọn lấy đội ngũ tinh vi hơn cả mà quốc gia có thể cung cấp. Điều rõ ràng là từ một hội đồng bộ trưởng, từ một hội nghị tôn giáo, từ một cuộc họp quốc tế tối cao, bẩy ra một mùi thây ma làm bay xa những con kênh kênh dày dạn hơn cả. Ở một bình điện khiêm tốn hơn, một hội đồng quản trị, một bộ tư lệnh, cuộc hội họp của một tập thể nào đó được thành hình toàn là những mớ người ô trọc mà một con người lương thiện ở mức trung bình cũng không thể nào lui tới.
4. Ngay khi một người soạn thảo ra luật, là nó đã tự đặt mình ra ngoài vòng pháp luật và cùng một lúc lọt ra ngoài vòng bảo vệ của luật. Bởi vậy đời sống một kẻ thi hành một quyền lực nào đều có giá trị không bằng một con gián hay một con rắn. Tính cách bất khả xâm phạm của nghị viên nên trở thành một sự nghịch đảo nhẹ nhàng cho phép mỗi công nhân sử dụng tính chất ấy để bắn ngay khi bắt gặp và không cần giấy phép săn bắn vào bất cứ chính khách nào xuất hiện ở đầu súng của mình. Mỗi cuộc ám sát chính trị là một công trình lành mạnh về tinh thần, và làm cho Ðức Mẹ cùng các thiên thần trên thiên đàng mỉm cười hân hoan.
5. Nên thêm vào hiến pháp 1875 một điều khoản chiếu theo đó tất cả thành viên một chính phủ bị lật đổ sẽ bị xử bắn không được vãn hồi và không gia hạn. Ðiều không thể quan niệm được là những con người không còn được quốc gia tín nhiệm không những được quay về vô tội, mà còn tiếp tục sự nghiệp chính trị của mình điểm thêm một vòng hào quang do công việc vỡ nợ ấy mà ra. Lối giải quyết ấy sẽ có ba cái lợi là lau khô cái ung nhọt thối rữa nhất của quốc gia, tránh được sự quay trở lại của mấy bộ mặt ấy trong những chính phủ kế tiếp, và đem đến cho đời sống chính trị điều hiếm hoi hơn cả: cái không khí nghiêm túc.
6. Bất cứ ai đến phải biết rằng, khi tự nguyện khoác một bộ đồng phục nào đi nữa, nó tự chỉ định mình như người của Ông Lớn và rắp ranh bị những người đàng hoàng trả thù. Luật pháp phải xem như là những con thú hôi hám có thể săn bắn bất cứ mùa nào những bọn người như cớm, linh mục, canh gác quảng trường, và ngay cả những ông hàn.