Tại điện Éllysée, tổng thống quay mặt hướng về quyền lực quân sự tối cao mà đại diện là thống chế.
- Nói gì thì nói, thống chế giải thích thế nào về sự đại bại vô tiền khoáng hậu này?
Ông Albert Lebrun vừa bật ra câu hỏi mấu chốt như thế. Chúng tôi càng chăm chú thêm. Toàn bộ vấn đề chiến lược nằm cả trong câu hỏi. Và trong tai tôi vẫn còn câu trả lời của thống chế.
- Có lẽ ta đã phát triển truyền tin quá độ. Truyền tin bị cắt đứt. Có lẽ ta đã loại bỏ quá sớm những người chơi chim bồ câu cùng những con bồ câu đưa tin. Có lẽ ở hậu phương nên đặt một nơi nuôi bồ câu giúp cho Tổng hành dinh được tin tức thường trực.
Chúng tôi nhìn ngó nhau nghẹn họng.
Laurent – Eynac.
Ngày 6 tháng 9 được gọi đến trung tâm nhập ngũ ở Reuilly, Abel Tiffauges có được đồng phục từ đầu xuống chân không phải gặp khó khăn gì hết, cũng nhờ vào kích tấc ngoại khổ của anh. Bởi vì nếu quân phục cỡ trang bị lớp trình diện đầu tiên trưng dụng và hết sạch, thì vẫn còn loại trang bị cho toàn bộ lớp lùn và lớp cà khêu của thế gian. Ba hôm sau, anh được đưa về Nancy, trưng thu vào tiểu đoàn 18 công binh điện tín và nhập vào đội tập sinh tiêu phòng.
Ngay buổi tiếp xúc đầu tiên với loại mầu tự ám hiệu (morse), anh cảm nhận rõ rệt và là lần đầu tiên từ nhiều năm nay, sự bật dậy từ bên trong con người anh đã từng tẩm thuốc độc cho tuổi nhỏ và tuổi lớn lên của anh và nay báo hiệu rằng trí khôn và trí nhớ của anh đã bị khóa chặt đứng trước một thứ mới. Viên sĩ quan trường bách khoa chỉ huy đội, muốn kích thích mọi người phấn đấu, đã quyết định rằng ai muốn có phép xuất trại phải nắm vững mẫu tự điện tín trước đã. Tiffauges dễ dàng yên tâm giam hãm mình trong trại. Đối với anh, cuộc động viên nếu đã giải thoát anh ra khỏi tù thì vẫn tiếp tục giam hãm anh dưới một hình thức khác. Quá tình đây là một quãng thời gian chờ đợi đơn điệu nhưng sẽ được ngắt quãng bằng những biến cố đáng ghi nhớ chứ chẳng không, và nếu nó có dài lâu khô khốc thì cuộc tái sinh đang chuẩn bị lại càng vinh quang.
Cũng vậy, bao nhiêu bài tập truyền tin chẳng mấy chốc làm cho bao nhiêu tập sinh thụt lùi xuống mức ngang anh. Số là các huấn luyện viên mỗi đêm sau buổi dạy, cố làm sao viết báo cáo khai thác thiết bị ở mức nhiều nhất và tốt nhất cho nên thà họ đích thân thao tác máy còn hơn. Bọn chuẩn úy phụ trách tiếp nhận thường thường ngồi trước các ám hiệu dồn dập đã tỏ ra bất kham cho nên chỉ đáp lại bằng một câu cứu nguy là: xin nhắc lại, xin đánh ám hiệu chậm hơn. Do vậy Tiffauges mãn nguyện với việc quay tay máy phát điện, là nhiệm vụ khiêm tốn và đơn điệu nhưng hợp với anh hơn, nhất là vì hàng ngày anh đã nếm cái cảnh nhìn các đồng đội bộ binh bò lặn trong đống bùn hoặc thở dốc theo những cuộc chạy bộ bất tận. Đến tháng 1 năm 1940, anh vô phương làm chủ các dấu hiệu quy ước, trừu tượng, vô bổ, không mang tính định mệnh, nên phải chịu trượt trong kỳ thi lên cấp bậc hạ sĩ, và với tư cách binh nhì anh được phái đến Erstein, khoảng hai chục cây số về phía nam của Strasbourg nằm giữa quốc lộ 83 và bờ sông Rhin.
Đại đội của anh gồm có hai mươi điện thoại viên và hai mươi vô tuyến điện và đại đội có nhiệm vụ chuyển biến bưu điện đông dân này với sáu ngàn người đa số đã di tản thành một trung tâm đầu não của sư đoàn, gánh lãnh công tác giao lưu giữa bộ máy chỉ huy đặt ở sảnh đường thành phố và ba tiểu đoàn bộ binh phân ra trong các chòi nhà của sông Rhin, bao gồm một toán thám thính là kỵ binh, có luôn cả pháo binh chiến đấu, pháo binh nặng, công binh và dịch vụ hậu cần.
Suốt nhiều tuần lễ, Tiffauges di chuyển dọc theo các lộ và đường nhỏ ở trong vùng vừa đẩy một chiếc xe bô ệt chở đầy dây cáp quân sự hoặc mang trước ngực mình một chiếc yếm cứng với các khoanh dây cáp cứng, trong khi đó hai đồng đội thủ sẵn thang và dáo chĩa móc dây cáp chạy dọc theo các tường, cây này sang cây kia, hoặc cột này sang cột nọ. Anh tự ví mình như con nhện to tướng giăng dây bất tận phía sau lưng mình, và anh lấy làm thích những chuyến đi dài đường vào trong làng giữa mùa đông giúp anh khỏe người lên mà tâm trí lại được thảnh thơi. Thấm thoát bưu điện ở Erstein quả nhiên giống như trung tâm chiếc màn nhện với bốn chục đường dây chạy trên trời phân đi khắp các ngả, mà theo lời nhận xét của thiếu úy Bertold vốn nổi tiếng không thích bọn hữu tuyến, đó là một mục tiêu dễ bị máy bay thám sát nhận ra.
Số là có sự đối nghịch ngấm ngầm giữa bọn hữu tuyến và bọn vô tuyến điện, bọn sau tự cho mình có kỹ thuật vừa hiện đại hơn vừa ít lộ liễu hơn, và không phải mất công đặt dây và coi ngó mạng lưới. Trước Noel một thời gian ngắn, các biến cố xảy ra dường như trùng hợp với ý kiến bọn này. Chiếc loa phóng thanh của bọn Đức vùng Ottenhem tuôn ra xối xả cho bọn người trong các lán trại, băng qua dòng nước sông Rhin đầy bùn, toàn những thông tin và khẩu hiệu, mở lời chào hỏi các đơn vị đúng từng con số và luôn các sỹ quan theo đúng tên của họ, mở lời xỏ xiên yêu cầu chuyển lời khen tặng đến các công binh điện thoại viên vừa mới hoàn thành lắp đặt dây cho mạng lưới Erstein. Tiếp theo chúng nó miêu tả tỉ mỉ các dây lắp đặt về mặt kỹ thuật và luôn cả khả năng truyền tin của dây. Có lẽ mọi việc sẽ dừng ngang đây thôi, giá như không có một binh sĩ Pháp thăm dò và phát hiện trên bờ hữu ngạn của sông cái vòng dây loa phóng thanh trên chiếc xe cam nhông và dùng súng có kính ngắm bắn vỡ vụn nó ra. Như thế là hành động thẳng thừng đi ngược lại với những quy ước chung sống hòa bình mà hai bên đang tôn trọng, và tạo ra một sự trả đũa. Sự thể này diễn ra sáng hôm sau từ tinh mớ, dưới hình thức một chiếc máy bay đơn độc, đâm bổ xuống tấn công bưu điện Erstein. Ngay những tiếng lạch cạch đầu tiên của súng liên thanh trên mái ngói, Tiffauges cùng với sáu đồng đội khác đang làm nhiệm vụ nhảy ào xuống hầm làm bằng thân cây. Máy bay nhào lộn mấy vòng và thả một loạt bom nhỏ rơi xuống mấy khu vườn. Thiệt hại lẽ ra không đáng kể giá như không có chiếc lò đẩy củi và không được coi ngó trong thời gian báo động đã phải phát lửa và làm cháy nam bộ phận điện thoại gần đó.
Biến cố được phóng đại thêm giữa cuộc sống đơn điệu của nhóm người. Thoạt tiên người ta thảo luận sôi nổi về tiếng rú chát chúa của máy bay khi đâm bổ xuống. Một bọn thì cho rằng trong máy bay có còi hụ để tạo một hiệu quả tâm lý, bọn này quyết liệt cãi lại những tên nào chỉ cho rằng tiếng rít là do máy bay sau khi bổ xuống thì phóng trở lên để tránh đâm đầu xuống đất. Tiếng rít nhỏ lại khi máy bay đến gần và òa ra to khi nó bỏ đi, tiếng còi có thể là như vậy. Các cuộc bàn cãi này Tiffauges tham dự nhưng không góp ý. Dần dà anh tin rằng chiến tranh chỉ là sự đối đầu giữa các con số và dấu hiệu, tuyền là một sự bùng nhùng giữa tai nghe và mặt thấy chỉ tổ làm cho người ta khó hiểu hoặc hiểu sai. Nhìn vẻ bề ngoài thì không ai khác cho bằng anh được chuẩn bị cho những vấn đề tiếp thu, giải mã và phát tín hiệu ấy, thế mà anh chẳng hiểu gì vì anh thiếu mất yếu tố sống nóng và máu me vốn đối với anh là dấu hiệu của con người cho nên mọi thứ cứ bềnh bồng trong một khối cầu trừu tượng, trầm mặc và ngẫu nhiên. Anh tin tưởng và kiên nhẫn chờ đợi sự hòa nhập giữa dấu hiệu và da thịt với nhau, đối với anh điều này là cùng đích của sự vật và đặc biệt là của chiến tranh này. Điều này sẽ xảy đến cho anh vài tuần lễ sau đó, dưới một dạng phải nói là buồn cười, nhưng vẫn báo trước những dạng vẹn toàn hơn trong tương lai.
Những sự báo động của bộ chỉ huy về truyền tin có thể bị lộ cho nên quả tình đã gây ra những hậu quả bất ngờ cho Tiffauges. Hiệu quả đầu tiên là phe vô tuyến điện tạm thời đắc thắng. Nhưng khu vực quá rộng, thêm vào đó là thiếu nhân viên và thiết bị, nên các trạm truyền tin cách xa nhau và không nối với nhau được. Ngoài ra phải áp dụng một con số đã hóa ra cần thiết vì tình báo địch lợi hại – hàng ngày chiếc loa phóng thanh của Ottenheim đều chứng tỏ điều này – nên vấn đề truyền tin điều chỉnh nhịp độ chậm lại và vấn đề nhân viên thành ra trầm trọng. Đến lúc này thiếu úy Bertold, người say mê chim bồ câu, đề nghị xây dựng một chuồng bồ câu bay đi bay về lân cận trụ sở của ban tham mưu. Vị chỉ huy, Granet, là cựu chiến binh từ trận Verdun, bên cạnh vị chỉ huy Raynal hồi ông dũng cảm bảo vệ pháo đài Vaux lúc bấy giờ liên lạc với tướng Pétain bằng bồ câu đưa tin. Ông hoan nghênh lời đề nghị của Bertold. Muốn phụ việc cho thiếu úy, cần có một ai đó làm đủ thứ việc. Người ta để cử Tiffauges, là người rảnh tay vì không ai níu giữ anh.
—★—
Suốt tháng đầu năm, mọi người chăm lo xây cất và chỉnh đốn chuồng bồ câu trên đỉnh một ngọn tháp, tháp này mọc bên hông của tòa sảnh của thị trấn và tầng trệt dùng làm kho chứa dụng cụ cho phu đường. Bên trong có một chiếc thang dựng đứng cho phép trèo lên tới một tầng tròn khoét nhiều lỗ nhỏ, áng chừng trước đây là những lỗ châu mai. Mấy lỗ này được đính các liếp gỗ có thể điều khiển theo bốn vị thế: đóng, ra lẻ, vào lẻ, mở. Tuy nhiên tầng được chia làm hai vách ngăn, vì theo lời giải thích của Bertold, cần phân định loại chim bồ câu tự dẫn, tức là gắn bó với chuồng vì quen hơi và vì kết đôi, và loại bồ câu thuộc một chuồng ngoài gần xa ít nhiều sau khi nhận được thông điệp và được thả ra thì về chốn cũ. Loại thứ hai chỉ được cầm giữ ngắn hạn và chia riêng con đực con cái, bằng không chúng sẽ theo chuồng mới và thế là phải để sang loại thứ nhất. Nhờ một anh làm mộc, họ xây một loạt bảy mươi ô, mỗi ô có thể tiếp nhận một con độc thân, hoặc một đôi, như thế dung lượng chuồng lên đến một trăm bốn chục mạng tối đa, “một sơ khởi”, Bertold bảo thế, rõ ràng anh ta mơ màng tưởng đến một cuộc chiến chỉ gồm toàn vun vút qua lại những đám chim mờ trời. Trong một góc của tầng trệt ngọn tháp, có mười ba thùng gỗ nhỏ tập hợp một loạt những hạt dùng làm thức ăn đúng quy cách cho bồ câu quân đội, gồm các loại đại mạch, yến mạch, kê, lanh, hạt cải dầu, bắp, lúa mì, đậu lăn, đậu tằm, gai dầu, đậu răng ngựa, lúa và đậu Hà Lan. Người ta cũng không quên chiếc hộp đựng đất mặn, gồm có gạch, vữa và ốc hàu xay, có thêm những mẩu đá lửa và đất sét, tất cả nhồi với nước mặn.
Ngày 20 tháng 1, khi tất cả đã đâu vào đấy để tiếp nhận các chú lính bay, theo cách gọi của Bertold trong những lúc tình cảm, vị chỉ huy Puyjalon hạ lệnh trưng dụng, chiếu theo đó những ai nuôi bồ câu trong khu vực cần khai báo bằng thư từ và thỏa thuận bán lại một số chim mà người lính công binh phụ trách bồ câu chỉ định sau khi đã dò xem và tuyển dụng. Như thế là cuối tháng, Tiffauges dong ruổi trên các nẻo đường vùng Alsace lái một chiếc cam nhông nhỏ chở đầy những giỏ lác đặc biệt – bộ binh số 1 – có thể đựng mỗi giỏ sau con bồ câu bó lại.
Bertold có dạy cho anh, bài học chủ yếu được lấy trong cuốn Sách dùng cho thí sinh phổ thông cấp hai chuyên biệt về bồ câu quân sự của đại úy Castagnet. Anh biết rằng con bồ câu quân sự giống tốt có thể bay bảy trăm đến chín trăm cây số trong một ngày, và truyền lại về sau những ưu điểm đặc sắc của nó về thể lực và trí lực, nó phải có chiếc đầu tròn phính, mỏ khỏe, mắt nhấp nháy nhanh, các cơ mắt linh động nhạy cảm, ánh mắt thẳng và dữ nơi con đực, hiền hơn nơi con cái, cổ dày lông, gáy mạnh nơi con đực, mềm mại hơn nơi con cái, ngực nở, ưỡn về trước, vai rộng, bàng quan dũng mãnh và dày lông, ức khỏe, cong về trước mà xuôi về phía sau để sát tới bàng quan và tóp bụng tối đa, cánh gắn chặt vào vai và có hình thể hơi cong, với những chiếc lông vũ úp sát vào nhau như ngói úp trên mái, lưng rộng và chắc khép lại bằng chiếc phao câu nở nang mọi mặt với chòm lông nhỏ mịn, mười hai chiếc lông đuôi thường là ngắn chứ không dài lún phún lông ngỏ ở phần gốc và tạo thành chiếc bánh lái vừa động, dẻo mà mạnh, bắp đùi gân guốc, cẳng khô, móng nhọn và chắc ở từng ngón chân. Anh cũng học biết rằng ưu điểm cần cho người nuôi bồ câu là dịu dàng, kiên nhẫn, thận trọng, sạch sẽ, biết suy nghĩ, có óc quan sát, vững vàng và tinh thần kỷ luật, và Bertold bắt anh học thuộc mấy dòng sau đây nổi tiếng ở tất cả các chuồng bồ câu quân sự tại Pháp: “Yêu chim bồ câu say đắm là một đạo bùa giúp cho người lính công binh có đa số các tính tốt ấy khi bước vào một chuồng bồ câu. Kẻ nuôi câu hiếu động nhất và vọng động nhất trở thành hiền hòa và kiên nhẫn đứng trước chim câu của mình, kẻ sơ sài nhất cũng săn sóc cho chim được sạch sẽ hơn là săn sóc chính mình”.
Kể từ độ ấy, người ta trông thấy Tiffauges đi cùng khắp đồng này rừng nọ, bước vào các trại gia súc, đối đầu với bò tót và chó dữ thả rông, đánh thức các xóm ngủ yên, gõ cửa các ngôi nhà tranh, bấm chuông ở các bờ rào sắt của cơ ngơi các ông chủ, và bao giờ cũng vậy, tay cầm lá thứ, xin được xem và sờ mó các con chim câu được trình báo. Anh đã quen cầm chim trên tay và nắn nót chim một cách dễ dàng mà anh chẳng lấy làm ngạc nhiên. Nhẹ nhàng đưa hai tay lên khỏi đầu chim rồi hạ xuống từ từ. Kế đó anh cầm lấy, bàn tay trái túm lấy phần sau của chim, túm hai chân kéo ra trước đuôi giữa hai ngón tay trỏ và giữa, ngón cái nhập với ngón trỏ để giữ cho cánh úp lên đuôi, trong khi bàn tay phải đặt xuống phía dưới ngực chim giữ giữ mình trước của chim, đầu cho nghiêng về phía phải. Khi nào anh muốn sử dụng tay phải, anh ấp mình trước của chim lên ngực mình để cho chim khỏi mất thăng bằng, và không cho chim tìm cách vuột khỏi tay trái. Anh biết tên gọi mọi loại màu sắc có thể có, màu xanh Vendôme có ngấn đến trên cánh, màu xanh chì, màu nung gạch, màu hung vây, dân giá, ánh bạc, khảm màu, và anh biết rằng giữa những con bằng điểm nhau thì bao giờ cũng nên chọn con lông sẫm màu hơn, vì nó kém nhạy và thông thường lại dai sức hơn. Anh biết phân biệt bồ câu “xương hở” – xương chậu hở nhau ít nhất một phân – với bồ câu “xương hàn” – xương chậu chạm nhau – và những con “xương khép” – xương chậu gần chạm nhau. Anh có thể nhắm mắt sờ một thoáng là định được tuổi, đực hay cái, luôn cả đoán chừng lần thay lông vừa rồi và cả lần thay lông tới đây.
Đêm đến anh trở về Erstein với mấy lồng chim, Bertold ngâm nga bình luận về chất lượng các chiến lợi phẩm, vừa móc vào chân trái của chim chiếc khuyên sắt mang số hiệu kèm với hai số năm sinh và hai mẫu tự đan chéo AF. (quân đội Pháp). Kế đó các bạn tân binh được đưa vào chuồng dành riêng và chờ được bữa ăn ngũ cốc thỏa thích.