Chúa Tể Đầm Lầy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3

❊ ❊ ❊

Stefan Raufeisen

Tôi sinh ra ở Emden, vùng Osfriesland, năm 1904, đây là một thành phố nhỏ giàu có, loại thành phố Hà Lan, một nửa buôn bán, một nửa phố cảng nhờ hai con sông đào nối liền thành phố, một sông ở Ems, sông kia ở Dortmund. Cha tôi mở một tiệm bán thịt trong một khu phố bình dân, và vì dân nghèo không ăn thịt, chúng tôi cũng nghèo theo luôn. Cha tôi có một người anh, bác Siegfried, cũng bán thịt, nhưng ở Kiel, vùng Schlesvig-Holstein, và ở trong khu phố của hải quân. Bác Siegfried chết năm 1910, chúng tôi lập tức dời đến để kế vị.

Tôi còn quá nhỏ chưa nhận rõ sự khác biệt về không gian sống giữa một thành phố nhỏ lờ đờ, sạch gọn của bờ biển miền bắc, với không khí hừng hực nổi loạn và giành giật của hải cảng vùng Baltique, nhưng sự thể là tôi lớn lên trong bầu chính trị sống nóng. Vị hoàng đế đã quyết định rằng tương lai nước Đức là ở biển nên đã chọn Kiel là thành phố hàng đầu. Ngài đến đó ở lại nhiều lần, và sự hiện diện của ngài nổi bật lên đặc biệt trong tuần lễ trọng đại của chúng tôi, mệnh danh là tuần lễ thành phố Kiel, vào cuối tháng sáu, khi ngài đích thân chủ tọa những cuộc đua thuyền buồm quốc tế.

Năm 1914, cha tôi nhập ngũ, phục vụ trên một chiếc tuần dương hạm. Ông thiệt mạng luôn với chiếc U-Boot năm 1917. Theo đúng một lẽ thường tình nghiệt ngã mà hiếm khi lịch sử sửa sai, chính từ thành phố Kiel này là nơi xuất phát một đòn đau hơn cả cho ngai vàng của hoàng đế. Sự nổi loạn của các thủy thủ đoàn của hải quân chiến đấu tháng mười một 1918 gióng hồi chuông báo tử cho đệ nhị đế chế Đức. Tóm lại là một sự trở lại từ đầu: đình chiến và hiệp ước triệt hạ chiến hạm và loại trừ lá cờ Đức quốc ra khỏi toàn bộ mặt biển trên trái đất, vừa giết luôn một cách tàn bạo thành phố Kiel với các kho xưởng và bến tàu. Cửa hàng bán thịt của gia đình đang ngắc ngoải. Tôi không buồn để ý. Tôi mười lăm tuổi. Không có thịt heo tôi làm nhồi với thịt ngựa từ lực lượng kị binh của hoàng gia bị khai tử, nhưng đầu óc tôi nghĩ đến chuyện khác. Cái hình tượng chim di làm động lòng tôi…

Sự chuyển động của chim di, trước hết đó là hành động của thế hệ trẻ tách rời khỏi hàng ngũ đàn anh. Tất cả những thứ này, sự thất trận, nghèo hèn, thất nghiệp, tình trạng xôn xao về chính trị, chúng tôi không màng đến. Chúng tôi vứt trả lại cho cha ông cái di sản mà họ toan ấn vào tay chúng tôi. Chúng tôi từ khước tất cả mọi thứ lẫn lộn bao gồm cái luân lý cứu chuộc của họ, các bà vợ nai nịt bó rọ, các căn hộ mịt mùng phủ đầy mành cửa, màn che và ghê ren tua, luôn cả các nhà máy um khói và tiền bạc của họ. Chúng tôi, tụm năm tụm ba, ca hát, quấn quýt, rách rưới, mũ dạ sùm sụp nhưng điểm hoa, hành trang chỉ mỗi một cây đàn trên vai, chúng tôi đã khám phá khu rừng của đất nước, bao la, tinh tuyền với các con suối và tiên nữ. Chúng tôi ốm o, ghét bẩn mà trữ tình, ngủ trọng vựa rơm và máng cỏ và sống bằng tình yêu với nước trong. Trên hết mọi thứ, điều gây nên sự đoàn két giữa chúng tôi, đó là vì chúng tôi cùng chung một thế hệ. Chúng tôi nuôi dưỡng một cái gì đó giống như là một hội kín của tuổi trẻ. Tất nhiên chúng tôi có những bậc thầy. Đó là những người mang tên Karl Fischer, Hermann Hoffmann, Hans Bluher, Tusk. Họ viết cho chúng tôi những câu chuyện kể và những khúc hát trong các tạp chí nhỏ. Nhưng chúng tôi thừa thông cảm với nhau một cách ngấm ngầm nên chẳng cần đến một chủ thuyết làm gì. Chúng tôi chưa hề gặp họ ở Kiel.

Ngang đến đây xảy ra cái phép lạ về những người Hành khất. Chúng tôi là những học sinh, với Hội những người hành khất vốn giống chúng tôi như anh em nhưng lại thuộc ý thức hệ Đức quốc xã, chúng tôi bỗng phát hiện rằng bao nhiêu lý tưởng của chúng tôi và lối sống của chúng tôi không nhất thiết phải đứng ngoài lề của xã hội vốn đang mạnh mẽ nhờ sức tổ chức và sức ù lì của nó. Bọn hành khất, chính là lũ chim di đang mang trong mình một sức mạnh cách mạng đe dọa trực tiếp toàn xã hội.

Mơ mộng qua rồi. Bắt đầu có những giao tranh trên đường phố. Lập tức, cửa hàng bán thịt của tôi mang một ý nghĩa: tôi trở nên người lãnh trách nhiệm chính trị của nghiệp đoàn.

Đi dán áp phích, bôi đen nhà cửa của bọn dở hơi, không cho chiếu cuốn phim phản chiến Miền Tây không có gì mới lạ ở Kiel. Thành phố phản ửng và áp đảo, không cần phân biệt đám quốc xã và đám xã hội. Một hôm, đoàn Thanh niên Hitler bị cấm mặc đồng phục. Lúc bấy giờ, bao nhiêu chú lái thịt trong đoàn của tôi đều mặc áo quần lao động diễu hành trên đường phố, và các nhà tư sản đâm hoảng sợ trước những cây dao phay nhét vào thắt lưng mấy chiếc tạp dề trắng bê bết máu. Bọn xã hội được đào tạo sử dụng ống sáo, và nhạc cụ này dùng để làm nhạc hiệu tập hợp. Chúng tôi có đám xã hội riêng và sau nhiều lần đụng độ, tay sáo trở thành quốc xã.

Nhưng không có gì quan trọng cho bằng ngày 1 tháng 10 năm 1932. Baldur Von Schirach đã quyết định lấy ngày hôm đấy làm Đại hội thanh niên quốc xã lần thứ nhất họp tại Potsdam. Đảng đã thuê ba mươi tám tấm vải trại khổng lồ có thể chứa tổng số là một nghìn người tham dự. Tất cả có hơn một trăm nghìn thanh niên nam nữ từ các tỉnh của nước Đức đổ dồn về. Họ đến đầy từng chuyến tàu, đi bộ, đi xe đạp, đi xe cam nhông với từng đoàn lũ lô nhô cờ xí trương rộng. Nhào nháo chưa từng thấy. Một sự hỗn độn vĩ đại của tình hữu nghị! Vấn đề tiếp tế hoàn toàn không có. Mệt mỏi vượt sức con người. Chúng tôi sống căng thẳng ngất ngây trong tiếng hát, reo hò, đi bộ tới tới lui lui. Đúng như thế, đi bộ! Nó trở thành huyền thoại, trở thành thuốc phiện đối với chúng tôi! Đi, đi, đi! Biểu tượng của tiến bộ, chinh phục, và là biểu tượng của tập hợp, đại hội, biến đôi chân cứng khô và bụi bặm của chúng tôi thành những bánh xe, những cần trục, bộ phận chính trị chủ yếu trong con người của chúng tôi!

Sáu chục ngàn đứa con trai tập trung ở bãi bắn, năm chục ngàn đứa con gái ở sân vận động. Bảy giờ liền, chúng tôi diễu hành trước khán đài trung ương. Nhưng chúng tôi, đám trẻ của thành phố Kiel, là tập thể đẹp đẽ hơn cả, man dại hơn cả. Chúng tôi xắn tay áo, lật bít tất xuống, vì chúng tôi kiêu hãnh với bắp thịt đồng thau của mình. Chúng tôi bước qua khỏi khán đài với âm thanh rít cao của sáo, đúng lúc ấy một gã tùy tùng của thủ lãnh chạy đuổi theo chúng tôi.

- Thủ lãnh sai tôi đến hỏi xem các em là ai!

- Xin thưa với ngài rằng chúng tôi là Thanh niên Hitler của thành phố Kiel sẵn sàng phụng sự và chết!

Nói làm sao hết nỗi vui sướng, lòng thèm muốn hy sinh trong câu trả lời ấy!

Bốn tháng sau, Adolf Hitler trở thành thủ tướng Đức quốc xã.

—★—

NTVBTT. Sáng nay Blattchen đưa cho tôi xem một tờ thông tư xuất xứ từ việc thanh tra tổng quát ở các trường chính trị quốc gia và liên quan tới việc tuyển chọn những Thanh niên trong các thí sinh. “Khi tuyển chọn, một đoạn thông tư viết như vậy, cần xét tới sự chậm trễ trong tăng trưởng bình thường xảy ra đối với thiếu niên thuộc các chủng tộc đa Lich hoặc Bắc Âu, về phương diện thể chất cũng như tâm lý. Người phụ trách tuyển chọn không nên để mình bị chi phối bởi cái vẻ lờ đờ và mức độ thông minh ít lộ gây nên thiệt thòi đối với các cá thể ấy khi so sánh với đám thiếu niên miền đông vùng Bantique và thiếu niên vùng núi Alpes trạc cùng tuổi. Thực ra, một trí óc thông minh nhanh nhảu và một năng khiếu đối đáp đích đáng (“thằng này quả mau miệng!”) thường thường là dấu vết của một sự tinh khôn trước tuổi vốn không ăn nhập với tính cách tinh túy của dân tộc Đức. Gần như bao giờ cũng vậy, một sự khảo sát kỹ lưỡng sẽ làm hiển lộ những đặc tính nhân loại học đi cùng một chiều với nhau”.

- Thưa ông Von Tiefauge, ông thấy không, Blattchen nói luôn, ta hết lòng ca ngợi con người nào thảo ra thông tư này vì sâu sắc và cam đảm. Anh có nhận thấy chăng, mỗi một dân tộc, trước hết tự ban cho mình cái đức tính mà nó thiếu hơn cả? Tính lịch sự riêng biệt của người Pháp, chẳng hạn, thật sự che giấu cái gì, nếu chẳng phải là một sự thô bỉ khắc sâu vào xương tủy cứ chờ dịp là hiện ra ngoài, và đặc biệt là đối với phụ nữ? Cái ý thức về danh dự mà người Tây Ban Nha khư khư dành riêng cho mình thì lại do những chủng tộc Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đi ngược lại vì họ có xu hướng mạnh mẽ thiên về sự phản trắc và thối nát. Còn cái đức tính lương thiện của người Thụy Sĩ - các nhà lãnh sự Thụy Sĩ giành nhiều thì giờ của mình để cứu các đồng bào gian giảo của mình ra khỏi nhà tù -, tính phớt tỉnh của người Anh - ôi! Những con người đầy lòng căm hận điên tiết và mù quáng -, tính sạch sẽ của người Hà Lan, ôi những bãi tập trung hôi hám của giống người này! - tính vui vẻ của người Ý... Ôi, ông cứ đi quan sát tận nơi, tự khắc ông sẽ thấy! Nước Đức không thoát khỏi quy luật ấy. Kể từ khi ông sống ở đây, chắc hẳn ông đã nhàm tai với cái tính duy lý, với cái năng khiếu tổ chức và lấy hiệu quả làm đầu của dân tộc Đức. Kỳ thật ông Von Tiefauge ạ, tâm hồn người Đức là một mớ hỗn mang mù tịt! Chẳng phải vì chậm khôn mà đứa trẻ bắc Âu trở thành nhạt nhòa và u mê. Có trưởng thành đi nữa, nó cũng không bao giờ đạt tới sự sáng trí của dân Địa Trung Hải. Lý trí là điều phát minh của người Hy Lạp thời xưa, dân tộc một ngàn lần bị trộn lẫn với dân vùng núi Alpes bị dân vùng núi Balkan đồng hóa sâu đậm, cộng thêm vào đó là ảnh hưởng của dân miền đông Địa Trung Hải và Ai Cập, nói tóm lại là một hỗn hợp tạp nham của bao nhiêu cặn bã của Âu Phi. Cái thuần túy nó màu đục, ông Tiefauge ạ, đó là chân lý mà ta phải có can đảm nhìn thẳng vào! Đứa trẻ Bắc Âu bề ngoài hoàn toàn có vẻ ngu ngơ, nhưng chính là vì nó trực tiếp giao kết với sự phát tiết thâm sâu của bao nhiêu nguồn sinh lực. Nó mơ màng lắng nghe tiếng vang vọng của tạng phủ dâng dậy từ nguyên úy của con người mình, và nhắc chừng cho nó cách sống. Không ai cho bằng con người Đức có ý thức về nguồn cội tối tăm âm thầm kiến tạo nên căn nguyên của sự vật. Cái bản năng uyên nguyên ấy thường thường tạo cho nó thành một kẻ cục súc ở trạng thái ngủ yên, có thể loạn động vô cùng tệ hại, nhưng đôi khi cũng phát sinh những sáng tạo không thể lường nổi!

—★—

NTVBTT. Dù học tiếng Đức tiến bộ nhiều, hiển nhiên tôi học quá trễ và không bao giờ nói được như tiếng Pháp. Tôi cũng chẳng lấy làm tiếc lắm. Cái khoảng cách - dù được thu ngắn lại - giữa ý tưởng và lời nói, mỗi khi tôi suy tư, nói thành lời hoặc mơ tưởng bằng Đức ngữ, bày ra nhiều lợi thế không thể nào chối cãi. Trước tiên, ngôn ngữ, phần nào vẩn đục, tạo nên một cái gì đó như thể là một vách ngăn giữa người khác với tôi, và cho tôi một sự tự tin bất ngờ và rất có lợi. Có những điều tôi nói bằng tiếng Pháp không được - chẳng hạn những lời nặng nề, những thú nhận -, và những lời này vuột ra khỏi miệng tôi không khó khăn gì cả, được bọc vào trong lớp tiếng Đức khô khốc. Sự thể này phụ thêm vào lối nói giản lược của tôi mà tôi buộc lòng vận dụng vì hiểu biết tiếng Đức còn thiếu sót, nó biến tôi thành một kẻ cộc lốc, thẳng thừng và bạo tợn hơn tên Tiefauge nói bằng tiếng Pháp. Một sự hóa thân vô cùng đáng quý... ít ra là đối với tôi.

Tiếng Đức không có đọc nối. Các chữ và luôn cả các âm tiết đặt kề cạnh nhau như các hòn cuội, không trộn các mút chữ của mình. Trong khi đó một sự mềm nhuyễn nó khiến cho câu tiếng Pháp đắm vào một chuỗi liên tục êm ái, nhưng điều này lại có nguy cơ chuyển thành một tình trạng thiếu rắn chắc bởi lẽ tiếng Đức được cấu tạo bằng những mẫu chắc chắn, như những mẫu trong một trò chơi xây cất, cho nên nó chờ chực được xây cất đủ kiểu để hóa thành những chữ ghép mà ta giải mã được dễ dàng, trong khi đó những lối tạo từ như vậy trong tiếng Pháp sẽ biến ngay thành một mớ bùng nhùng vô dạng thù. Kết quả là câu tiếng Đức, nhanh nhảu và hà khắc, lập tức trở thành lục cục và khua vang. Thích hợp với tượng hoặc là người máy. Con người Pháp, những sinh vật lờn nhờn và hâm hấp, thì thích câu nói nhẹ nhành của vùng Ile-de-France.

Điều lạ lùng là cái giống phải mà tiếng Đức gán cho đồ vật và luôn cho cả con người. Cái giống trung hòa được thêm vào, đó là một sự hoàn thiện lợi hại, với điều kiện là phải biết dùng. Nếu không ta sẽ chứng kiến một sự tuôn trào đầy ý xấu muốn che đậy tất cả. Mặt trăng trở thành một vật thể giống đực, mặt trời là một vật thể giống cái. Cái chết là giống đực, sự sống là giống trung hòa. Cái ghế thành ra đực, không hiểu nổi, ngược lại con mèo thành ra cái, đúng với vẻ bề ngoài. Nhưng nghịch lý đạt đếm cực điểm với từ phụ nữ được hóa thành giống trung hòa mà tiếng Đức cố tình nhấn mạnh (Weib, Madel, Madchen, Flaulein, Frauenzimmer).

—★—

Các thanh niên nhiều tuổi nhất là mười bảy và mười tám tuổi. Đứng cạnh những đứa trẻ thực thụ, sự hiện diện của mấy đứa tráng niên này và của loại người lớn còn non tuổi này làm cho Tiffauges xốn xang vì anh một mực đòi hỏi sự tươi trẻ. Tình trạng này lan tỏa trong nhà ăn, trong các nhà ngủ và toàn bộ cơ sở, tạo ra một mùi vị đàn ông và lính tráng mà anh không thích và dựng nên một bờ rào cách ngăn đáng tiếc giữa Kaltenborn với anh. Một trở lực đi ngược lại với thiên chức của anh như thể sớm muộn gì cũng phải được cất bỏ. Số lượng khí giới do vị tổng chấn hứa cấp sẽ giúp huấn luyện tại chỗ các lứa nào được gọi nhập ngũ. Đó là mối hy vọng của vị chỉ huy tình báo đang ước mong thành lập ở Kaltenborn một đạo quân toàn lính trẻ được trang bị và tập luyện. Những việc tòng quân chậm trễ dù ông liên tiếp đề đạt. Ngày 1 tháng ba, điều không thể tránh đã xảy ra. Hai đạo đàn anh - mười sáu mười bảy tuổi - được thanh toán do lệnh nhập ngũ tức tốc. Bọn lớn tuổi ra nhập quân lực, bọn nhỏ hơn vào một trại đào tạo cấp tốc. Mười ba hạ sỹ quan đặc nhiệm SS được chỉ định kèm cặp cũng rời trường chính trị quốc gia.

—★—

NTVBTT. Bọn lớn sửa soạn được chuyển đến bãi chém giết vào tuần sau hiện đang tập luyện ở bãi đất chuồi. Chúng mang ủng, chẽn bằng quần cộc, nhưng mình trần trong không khí cắt da buổi sáng sớm. Vị chỉ huy tình báo vốn chủ trương kết hợp khổ luyện với sự nhịp nhàng chung đã bày ra trò múa may với cây gỗ. Mỗi cây dài mươi thước do một đội mười hai người khiêng. Mỗi đội đưa lên hạ xuống cây gỗ, chuyển vai này sang vai kia, tung lên trời, mới đầu tung thẳng lên, tiếp theo là tung sang phải, và đội đứng gần bên phải đỡ lấy. Hụt tay thì ở đâu đó có thể bị dập đầu, tét tai hoặc gãy vai và nếu lỡ như vậy, đối với ban chỉ huy, cũng tốt thôi.

Bọn trai tráng này từ mười lăm đến hai mươi tám tuổi, và dấu dao cạo hãy rành rành trên hầu hết cằm má của chúng. Nhưng phải thật thà nhìn nhận rằng mình mẩy chúng nó đều trẻ trung khiến ta xúc cảm và được đề cao nhờ nét thô của dây thắt lưng, quần dài và ủng. Không một sợi lông trên bộ ngực trắng và đa số phần nách cũng nhẵn nhụi. Và sợi dây chuyền đính thêm huy chương phụ thêm một nét trẻ con ở phần cổ búng ra sữa của chúng nó vốn mời gọi môi hôn của mẹ hơn là mũi kiếm của gã Cô Dắc.

Một cánh tay hai mươi tuổi, về phương tiện da thịt, có thể là tương đương với một cẳng chân mười hai tuổi, nhưng ta không nên nhầm lẫn. Phía dưới thắt lưng, không còn sự trong trắng của đứa trẻ, chỉ toàn màu đen và nam tính cẩu trệ...

—★—

Một thời gian ngắn sau cái buổi rút bớt người mà lại trao trả cho Kaltenborn cái chất “trong trắng trẻ thơ”, nhưng làm giảm sút hết phân nửa quân số và làm xộc xệch tổ chức, vị chỉ huy Stefan triệu tập một hội đồng chiến tranh có Tiffauges tham dự, ngồi lẩn núp đằng sau ông Blattchen, cùng với các thành viên đặc nhiệm SS và các giáo sư dân sự còn lại. Sự ra đi của các hạ sĩ quan sẽ được bù đắp bằng các học sinh tham gia nhiều hơn vào đời sống vật chất của cơ sở, vi chỉ huy giải thích như vậy. Nhiều kíp luân phiên phục vụ tại nhà bếp, nhà giặt, chuồng ngựa và sẽ thiết lập dây chuyền làm việc để đảm bảo các tạp dịch lấy củi và lương thực. Nghiêm trọng hơn là vấn đề tuyển sinh, Kaltenborn phải giữ vị trí trường chính trị quốc gia loại một do số lượng các lưu sinh và không được phép sao lãng nhiệm vụ vì những khó khăn do chiến tranh gây ra. Tất nhiên nguyên tắc muốn rằng trong mỗi một trường chính trị quốc gia phải có các thiếu niên gốc gác từ các tỉnh của đất nước và phải tránh tuyển sinh nặng chất địa phương. Nhưng tình hình bó buộc những giải pháp khẩn cấp. Vì thế những vị chỉ huy tình báo yêu cầu những người có trách nhiệm đích thân sục sạo trong khu vực để tìm ra các thiếu niên xứng đáng lấp đầy các khoảng trống do hai đạo nhập ngũ để lại. Ông sẽ cùng với giáo sư tiến sỹ Blattchen phụ trách thi cử cho các thí sinh tuyển mộ.

Tiffauges ít quan tâm đến các thứ loại và nhiệm vụ của trường chính trị quốc gia. Nhưng nếu như anh có hưởng ứng sự loại trừ các thành phần lớn tuổi, loại ít trẻ trung hơn cả và nghĩa là loại ít gây niềm cảm mến nơi anh, thì anh lại cảm nhận ra một sự lỏng lẻo không chối cãi được trong bầu không khí của Kaltenborn đã mất đi cái sung mãn rầm rộ và đặc quánh của nó. Bởi thế anh nhiệt tâm ước mong rằng ngôi trường bổ sung lại quân số của nó, nhưng vẫn không trông đợi điều tốt đẹp từ lời kêu gọi của vị chỉ huy. Thật tình mà nói, anh hiểu rằng lời kêu gọi ấy nhắm vào anh vượt lên trên đám người phàm phu và vô ý thức này – có lẽ ngoại trừ Blattchen hiểu biết một đôi phần, nhưng cách của ông này xem ra tà vạy lắm! – và anh hiểu rằng chắc chắn sẽ đến lúc định mệnh cuốn phăng bọn cặn bã này đi và đặt lại vào tay anh những chiếc chìa khóa của vương quốc sinh ra dành cho anh.

—★—

NTVBTT. Chuyện phải xảy đến thôi: Sự ra đi của mười gã hạ sĩ quan cùng với việc bọn trẻ tham gia vào hoạt động vật chất của trường chính trị quốc gia đã gieo một sự xáo trộn không thể vãn hồi trong cái guồng máy chạy tròn mà tất cả chúng tôi đang bị giam cầm. Ngoại trừ một số tiêu mốc nổi lên ở bề mặt – điểm danh, chào cờ và lễ lạc khác – cái thời khóa biểu vốn rất nhịp nhàng của trường chính trị quốc gia nay bị rã rời và kỷ luật bị xé rào. Đối với tôi sự giải phóng này không tách rời khỏi tiết mùa xuân đang được loài chim sâu khản cổ chào đón và đang làm róc rách mấy con suối ẩn tang dưới lớp tuyết đông đặc. Đầu năm không phải là ngày 1 tháng một, mà là ngày 21 tháng ba. Con người ta điên dại gì đem tách cuốn lịch của mình ra khỏi chiếc đồng hồ vĩ đại của vũ trụ điều tiết các mùa tuần hoàn?

Tất nhiên tôi chẳng rõ năm này đang khởi đầu sẽ đưa tôi đi đến đâu. Nhưng cái ông Blattchen này – tiết ra toàn tội ác – hé lộ cho tôi thấy có thể sẽ có một sự phát hiện vĩ đại và não long: biết đâu tất cả, tuyệt đối tất cả những gì ở đây đang đáp ứng – hay có vẻ như là đáp ứng – mọi khao khát và hoài bão của tôi, suy cho cùng là chẳng phải là sự đảo lộn ác nghiệt của chính những khát khao hoài vọng ấy?

Ha, ha, ha! Thế mà trích lời của thánh Pavlov nữa chứ! Anh chàng Freud Do Thái chủ trương mọi việc đều tất định trong đời sống do những may mắn và rủi ro của những năm đầu đời, anh chàng cùng bước theo con đường này, tuy có tinh tế hơn. Đó là một nền triết lý của lũ con rơi, lũ du canh du cư, không truyền thống, không chủng tộc, bọn thị dân nhiều cha nhiều mẹ không gốc rễ. Chủ nghĩa Hitler cắm sâu vào lòng đất già năm của nước Đức, học thuyết của người làm nghề nông và bám đất, học thuyết này đảo lộn các hạn từ của luận thuyết kia. Đối với chúng tôi, mọi thứ đều nằm trong hành trang truyền thống, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, theo các quy luật quen biết và không lay chuyển nổi. Dòng máu xấu thì không thể nào cải thiện hay dạy dỗ được, cách giải quyết duy nhất biện minh được là sự hủy diệt thẳng thừng mà thôi.

“Ông nên ghi nhận rằng cái triết lý quý tộc của thời phong kiến tạo sẵn những mô thức cho suy nghĩ. Đối với hang quý tộc, con người “sinh ra có dòng dõi”, hoặc chẳng đáng gọi là “sinh ra”, và chẳng có công trạng gì khiến người ta bỏ qua cái gốc dân dã cho người da đen. Và dòng họ càng xưa càng có giá. Tôi nhận ra rõ ràng trong những con người như bá tước Von Kaltenborn những kẻ tiên phong của chủ trương phân biệt chủng tộc. Nhưng họ không biết cách tiến hóa. Bộ môn sinh học nên tiếp nối cương lĩnh Gotha của đảng dân xã. Những tước hiệu phải nhường chỗ cho các sắc thể sinh học. Ông Tiefauge ạ, huyết phô là thần linh ám ảnh chúng tôi! Thay vào các hiệu kỳ của quý tộc thời xưa, chúng tôi để các bộ phận nội tạng đầy máu, đầy sức sống, còn phật phồng, là những gì thẳm sâu cốt thiết nhất của chúng tôi! Cũng vì thế mà chúng tôi chẳng sợ đổ máu. Ông hiểu chứ: Máu và đất. Hai thứ nương giữ nhau. Máu từ đất ra và trở về đất. Đất phải được tưới máu, đất gọi máu, đất cần máu. Máu ban phước cho đất và bón đất!”.

Nhưng còn tôi, khi nghe tràng diễn thuyết lung tung đó, tôi sực nhớ mình thuộc dòng Abel, tên du mục, tên không có gốc rễ, và tôi nhớ Chúa có nói với Cain: “Máu của em trai ngươi kêu ráo tờ dưới đất lên tới tai ta. Giờ đây ngươi sẽ bị nguyền rủa do mặt đát đã há mồm ra hứng máu em ngươi từ bàn tay của ngươi”.

Đêm vừa xuống, hết thày Thanh niên tập họp lại trên sâu đất chuồi và xếp hàng san sát, để dành chỗ cho một ô vuông trống trơn về phía pháo đài. Ở đây, có một chiếc bục thấp, hai bên có các ngọn đèn dầu và cờ phướn, bục này dùng làm chiếc án sắp sửa dùng làm lễ. Một bên là đội trống với những chiếc trống to của các loại lính thuê mướn ngày xưa, màu vân đen trắng, tựa lên đùi chân trái, phía bên kia là đội kèn, loa kèn đồng ấp lên hông, đợi chờ lặng lẽ. Kèn bỗng nghe the thé chua chát. Trống rùng rùng dâng dậy giữa đêm thành từng đợt nối tiếp nhau, đe dọa và gầm gừm rồi tan biến, như mất hút vào xa xăm. Một câu chuyện phản trác và chết chóc được xướng lên bằng lời thơ kết tội do những giọng người lạc lõng và xốc nổi.

- Và giờ đây kèn đồng im tiếng, và bao nhiêu người xếp thành hàng vô tận thành kính mặc niệm, và các lá cờ chầm chậm rũ ngọn trước anh linh của những người chết vì tổ quốc.

- Giờ phút này, chúng ta tưởng nhớ quân nhân đầu tiên của Đức quốc xã, Abert Leo Schlageter.

- Schlageter xuất thân từ một dòng dõi lâu đời làm nông dân vùng Schonau, miền Nam của Rừng Đen. Thi thể của người an nghỉ ở đó. Tình nguyện nhập ngũ và là thương binh nhiều bận trong chiến tranh, anh tham gia vào đoàn tuân tự nguyện của vùng Baltique và vào các lính biên phòng vùng thượng Selessie sau điều khoảng Versailes.

- Nhưng phía Tây, dông nổi dậy và sét đánh xuống người chiến binh gương mẫu ấy. Các toán quân Pháp vì phạm luật lệ và hòa bình, xâm chiếm vùng Ruhr. Kháng chiến hừng hực tứ phía. Schlageter chiến đấu ở tuyến đầu. Cùng với đồng bạn, bằng những hành động đảm lược, anh làm tê liệt những đường truyền tin và viện binh của kẻ thù.

- Vì phản trắc, anh rơi vào tay quân Pháp!

- Thanh niên chúng tôi vốn yêu nước Đức, chúng tôi ghi lên ngọn cờ chữ Chiến đấu! Và những gì là hèn nhát và yếu ớt đều phải tự rụi! Luật pháp của chúng tôi phát tiết từ máu và đất. Ngọn lửa trong sáng sẽ vùi những con người nửa vời! Ta hãy bẻ gãy tất cả những gì thối nát và sâu mọt! Hãy giải phóng Tổ quốc ra khỏi nô lệ! Hãy đúc rèn nước Đức. Thanh niên chúng tôi vốn yêu nước Đức, chúng tôi đề lên ngọn cờ chữ Chiến đâu!

- Schlagerter không một phút do dự khi vang lên tiếng gọi của dân tộc lâm nguy. Anh là trung úy ở tiền tuyến, trưởng đội pháo của các tỉnh vùng Baltique, người đi đầu trong lý tưởng quốc xã, lãnh đạo kháng chiến ở vùng Ruhf- luôn luôn sẵn sàng hy sinh cao cả,

Ngươi thấy chăng bình minh ửng hồng ở phương Đông?

Đó là mặt trời của tự do đang mọc.

Chúng ta sát cánh bên nhau, cùng sống và cùng chết

Nghi ngại gì nữa? Ta hãy chấm dứt bất hòa.

Dòng máu Đức đang cháy chuyền trong huyết quản ta.

Dân tộc hãy cầm khí giới.

- Schlageter ra trước tòa án binh vì tội toan giật nổ chiếc cầu Haarbach. ở kalkum, Giữa Duseldorf với Duisbourg. Sau khi chiếm lấy vùng Ruhr, ngày 11 tháng một, đạo quân xâm chiếm đã trưng dụng hết thảy tàu lửa, cốt đề chở than đánh cắp. Schlageter quyết tâm ngăn cản vụ cướp của này bằng cách phá đường sắt. Ngày 26 tháng hai, viên tướng lãnh quân đội Pháp của vùng Ruhf ra lệnh tử hình đối với kẻ nào phá hoại. Schlageter bị xử bắn.

- Rạng ngày 26 tháng năm 1923, một lực lượng áp giải lôi anh đi đến một hầm đá ở trăng Golzheim, nơi đây ngày nay còn dựng cây thánh giá mang tên anh. Chúng nó trói tay anh sau lưng. Đánh anh buộc quỳ xuống. Nhưng khi anh còn lại một mình đối diện với các họng súng, lời thốt không bao giờ của một Andreas Hofer vang lên trong trí anh. Anh muốn chết đứng giống như đã chiến đấu. Anh ưỡn thẳng người. Tràng súng kết liễu vang lên trong im lặng của bình minh. Một lần cuối thần thể rướn vụt lên, rồi ngã úp xuống mặt đất.

- Nơi đây ngã xuống trên đá kẻ đã từng giống như chúng ta Mặt trời đã tắt, và nỗi buồn làm chúng ta tan nát trước thi hài của bao nhiêu hy vọng của chúng ta.

Lạy chúa, các nẻo đường của Chúa không rõ! Kẻ ấy là một kẻ kiêu hùng. Cờ của chúng ta mang băng tang, nhưng anh ấy,tràn đầy chiến công, đã về với tổ tiên. Chúng ta đoàn kết với người khuất mặt nàyÝ người là ý ta, phận người là phận ta. Dẫu mất người, người vẫn là bất tử đối với tổ quốc, và từ mộ sâu, giọng người lên tiếng: Có ta đây!

—★—

Sự lừa trẻ do các cán bộ của Kaltenborn chủ trương chỉ đưa đến những kết quả thảm hại. Bọn họ là những người quá mệt mỏi, còn rơi rớt lại từ những chuyến tái nhập ngũ khiến họ sống một cách tạm bợ, chẳng có một ý nguyện đèo bòng nào, họ chẳng ưu tư gì bao nhiêu đến việc tuyển mộ cho một cơ chế mà sớm muộn gì họ cũng từ giã, và cơ chế này sẽ phải tàn lụi theo lời họ rỉ tai nhau. Raufeisen vẫn còn tin tưởng cuồng nhiệt,cho nên lên tiếng rủa tình trạng bất cập này, trong khi Blattchen phàn nàn về sự kém còi trên bình diện nhân loại học của những đối tượng ít ỏi mà người ta đưa đến cho ông.

Ngày hôm ấy, Tiffauges đi Nikolaiken đóng đinh ngựa mời cho con Râu Xanh trở về. Mùa xuân phần nào muộn màng của năm nay nở rộ tươi vui khiến cho anh không khỏi tin rằng có một biến cố run rủi nào đó đang chuẩn bị xảy đến với anh. Con ngựa nòi, kiêu hãnh vì mấy chiếc đinh lóe sáng, thả vó lóc cóc trên con đường đá cứng, và Tiffauges hồi tưởng, một mối hồi tưởng thường chen nhẹ vào các đoạn đời buồn bã nhất và ác liệt nhất của thời gian qua, anh hồi tưởng đến đôi giày lính đóng đinh cá và xẹt lửa của thằng Pelsenaire. Anh cũng liên tưởng tới chiếc xe đạp Alcyon đẹp đẽ của thằng Nestor mà khi gợi nhớ anh không khỏi lấy làm đắc chí, đúng lúc này anh vừa đi tới bờ hồ Lucanain, cách Kaltenborn một giờ đường, và vừa vặn nom thấy sáu chiếc xe đạp tựa vào các cây bên hồ. Đây là những chiếc xe Đức nặng nề có tay lái chổng lên như sừng bò, với cái phanh chân và một chiếc bơm có lỗ có phần trên bằng gỗ và dính vào khung xe. Qua lớp cành cây, dội lại ánh nước phản chiếu cùng với tiếng cười nói và tiếng bì bõm.

Anh xuống ngựa, thả con Râu Xanh trong một cánh đồng nhỏ nở hoa, và hai phút sau, anh nhảy xuống làn nước nước trong mát đang lòe chớp ánh sáng và những gợn sóng linh động. Anh đã tính toán cái đà của mình để nhô lên giữa đám trẻ con. Cả bọn cười reo đón anh. Chúng nó từ Marienburg đến đây, cách đây ba trăm cây số, và thừa dịp nghỉ lễ Giáng làm để phóng xe băng rừng băng hồ vùng Mazuire. Tiffauges chuyện trò với chúng nó về Kaltenborn, về cổ thành với các gian phòng tập thể dục, các quầy bắn súng, ngựa, tàu, khí giới, về đời sống hào hứng của đoàn thanh niên, và mời chúng nó đến ăn tối và ở lại đêm với mấy trăm bạn cùng trang lứa.

Khi Raufeisen nghe tới cái tên Marienburg, ông thót người khoái trá hãnh diện. Đó là kinh đô lịch sử và tinh thần của các hiệp sĩ Đức thời cổ, và lâu đài tại đây được gìn giữ đẹp đẽ hẳn nhiên là tuyệt tác kiến trúc ngạo nghễ hơn cả của miền Đông Phổ. Nơi đây, ở đại sảnh hiệp sĩ, hàng năm, ngày 19 tháng tư, Baldur Von Schirach dùng mi-crô nói với thiếu niên Đức mười tuổi lời nói công thức trói buộc chúng nó suốt đời với vị Thủ lãnh. Blattchen không ngăn nổi tiếng reo mừng khi thấy đám trẻ mới đến. Ông chưa hề được mục kích gần gặn đến thế này những mẫu người thuần khiết thuộc chủng loại Borreby miền đông Baltique, mà Hindenburg vẫn là mẫu người danh tiếng hơn cả. Có trao đi gửi lại điện thoại và thư từ với gia đình mấy đứa trẻ và với chính quyền địa phương của chúng nó. Thế là chúng không bao giờ về lại Marienburg nữa.

Tiếp theo cái mẻ lưới tài tình ấy, vị chỉ huy tình báo mời Tiffauges lên gặp. Ông thừa nhận từ trước đến nay đánh giá thấp tài năng của anh thanh niên người Pháp. Anh này vừa chứng tỏ mình có thể đem về cho Kaltenborn những thứ giá trị hơn là phó mát và đậu. Tất nhiên vị chỉ huy tình báo không thể nào ban cho anh một cái quyền nào chính thức, nhưng ông giao cho anh nhiệm vụ lục lạo khắp vùng tìm kiếm chiêu mộ bọn thiếu niên xứng đánh với trường chính trị quốc gia. Ông gửi thông tư báo trước cấp lãnh đạo các xã Johannisburg, Lyck, Lotzen, Senburg và Ortelsburg, và các xã ở xa hơn nếu cần. Tiffauges chỉ có trách nhiệm trước vị chỉ huy tình báo này, vị này sẽ căn cứ trên kết quả mà liệu việc.

Blattchen không kịp khen vị phụ tá của mình được thăng tiến như thế. Trong thời gian gần đây, người ta đề cập đến một chương trình rộng lớn được gọi bằng một cái tên mật mã là Hành quân cắt rạ do sáng kiến của chính vị thủ lãnh lực lượng đặc nhiệm SS. Đây là công việc chọn lựa và đưa sang Đức, trong những ngôi làng riêng biệt bố trí nhằm mục tiêu này, từ bốn mươi ngàn đến năm mươi ngàn trẻ con vùng Ruthénie da trắng tuổi từ mười đến mười bốn có nguyên quán là những vùng chiếm đóng do Sư đoàn Trung tâm. Một lần nữa, vị bộ trưởng Vùng đất chiếm đóng phía Đông là Alfred Rosenberg hoàn toàn không thông cảm với những người chủ trương cuộc hành quân thuần túy có tính cách riêng của đơn vị SS, cho rằng trẻ con nhỏ tuổi như vậy sẽ là một gánh nặng đối với quốc gia hơn là một sự đóng góp tích cực về nhân công, và đề nghị nên lấy đám trẻ con từ mười lăm đến mười bảy tuổi. Các gã đặc nhiệm của Himmler đã hoài công giải thích mãi với ông này rằng đây không phải là một sự thuyên chuyển lao động một cách thô sơ, mà là một sự chuyển dịch công phu trong nội tạng sinh học của hai cộng đồng và nhằm làm suy yếu một cách rốt ráo mọi sinh lực của dân tộc Slaye. Ván đề cần thiết là đành phải hoạt động thoát ra ngoài vòng Bộ ngành miền Đông.

Đến đây người ta nhớ lại trường hợp Otto Blattchen với công trạng hiển hách của ông trong vụ một trăm năm mươi nhân mạng người Bô-sê-vích gốc Do Thái. Hiển nhiên vốn hiểu biết của ông về ranh giới Nga và Ba Lan đã nổi tiếng thời buổi ấy.

Ngày 16 tháng sáu, ông từ biệt vị Chỉ huy cùng vị chỉ huy tình báo, và sau khi dọn dẹp mấy con cá thía vào các bình niêm phong, ông bỏ đi, miệng thì rủa vào mớ hành lý ít ỏi của mình mà chiếc xe Opel tồi tàn được phái tới giúp ông phương tiện chuyên chở đi. Hai hôm sau, vị chỉ huy tình báo cho phép Tiffauges dọn đến ở trong ba gian của Trung tâm chủng tộc.

Trở nên chủ nhân ở nơi này, một mình trong “phòng thí nghiệm”, lọt vào giữa mớ máy móc nhân loại học hỗn độn do vị giáo sư tiến sĩ bỏ lại, anh phá lên cười ngặt nghẽo, vừa có cảm giác đắc thắng, vừa nhói lòng hồi hộp đứng trước một trò đời mới mẻ của định mệnh.

—★—

NTVBTT. Tối hôm nay các đội lặng lẽ tản mát ra trong bóng tối hâm hấp hương thơm để đốt đuốc ngày hạ chí ở vùng quanh hồ, trên bờ hồ Spirding, bên kia hồ Tirklo, khắp các nơi nhìn xuống thấy đuốc của các đội khác và các đội khác trông thấy mình.

Buồn âm thầm cho ngày lễ mặt trời như thế này. Mùa hè chớm nở, vừa mới ăn mừng xuất hiện thì nó đã bắt đầu đi xuống, tất nhiên không phải dễ thấy, nhưng đi xuống ri rỉ một hai phút mỗi ngày. Cũng giống như thế, đứa bé, ở chót vót tuổi hoa niên, đã bắt đầu mang lấy mầm sống bại hoại. Và trái ngược lại, lễ Giáng Sinh, vào tận cùng cuối năm, lại ăn mừng sự huyền bí hoan lạc của đấng Hài đồng tái sinh vào tiết tối tăm hơn cả và ẩm thấp hơn cả của mùa đông.

Đám Thanh niên bao quanh giàn củi xếp thành hình vuông mở ra một mặt để giá cuốn khói và lửa đi. Đứa trẻ nhất đám tách hàng bước về phía giàn củi. Nó cầm trên tay một đốm lửa lắt lay nhẹ nhàng như cánh bướm sáng, có vẻ khác thường đến độ tất cả chúng tôi e ngại đốm lửa sẽ tắt ngấm trước khi hoàn thành nhiệm vụ châm ngòi. Lửa quả nhiên biến đâu mất khi đứa bé quỳ gối xuống giàn thân cây nhựa thơm tua tủa nhiều cành lá. Nó vụt nhảy lùi khi ngọn lửa bùng lên lách tách dữ dội. Mấy giọng trong trẻo cất lên trong bóng đêm thỉnh thoảng xẹt sáng:

Dân đến với dân, như lửa đến với lửa!

Lên đến tận trời, hỡi ánh hồng thiêng,

Hãy reo vang chuyền cành trên hàng cây!

Đám trẻ tan hàng và mỗi đứa tiến lại giàn lửa thắp đuốc. Hàng ngũ hình vuông tái lập, và lần này bập bùng ánh lửa.

Trong bóng tối đằng xa nhóm lên các đốm lửa của các đạo khác được chào đón bằng một giọng người nhỏ tiếng:

Ai ơi nhìn xem mặt trời giải thoát chúng ta ra khỏi bóng đêm. Xa xa rạng đông của thời kỳ rực rỡ đã ửng hồng. Tương lai mở cửa chào đón những ai có con tim nồng nàn với tổ quốc. Ai ơi nhìn xem những đốm sáng làm mặt đất hãy còn tối tăm sống dậy. Miền đất Mazurie cổ kính đau thương đáp lời kêu gọi của chúng ta và bùng lên hàng ngàn ánh lửa anh em. Lửa mở đường và khơi ngòi cho ngày chói lọi nhất trong năm.

Ba Thanh niên đội vành lá sồi tiến lên đám lửa:

- Xin dâng vòng hoa tưởng niệm anh hùng liệt sĩ.

- Xin quàng vòng hoa cho cách mạng quốc xã.

- Xin tặng vòng hoa cho những gương hy sinh mai sau mà thanh niên Đức sẽ hăng hái vui lòng dành cho tổ quốc.

Đám đông đồng thanh đáp lại:

- Thanh niên là lửa là củi. Thanh niên là lửa đám lửa ngọn. Thanh niên là ánh sáng là hơi ấm đẩy lùi bóng tối, khí lạnh, hơi ẩm.

Trong khi cả tòa thân cây hừng hực đổ ào giữa những vòi lửa cuồn cuộn, cả khối hình vuông máy động. Đám Thanh niên chuyển động thành vòng tròn, và từng cá nhân lần lượt rướn người nhảy qua lửa.

Phen này chẳng cần phải minh giải, chẳng cần đến một bộ khung giải đáp. Buổi lễ này quyết tâm trộn lẫn vào nhau những hình ảnh tương lai và cái chết, và đẩy đám trẻ đứa này đến đứa kia vào miệng lửa, rõ ràng đó là sự khêu gợi và dâng hiến một cách quái đản cái hình ảnh tàn sát bao kẻ vô tội mà chúng ta vừa ca hát vừa hướng tới.

—★—

Kể từ nay, người ta nom thấy Tiffauges ngồi trên con ngựa đen to lớn dong ruổi miền Mazurie từ thượng vùng Konigshohe phía Tây cho đến vùng đầm lầy Lyck phía Đông, thẳng đường tiến xuống phía Nam đến tận biên giới Ba Lan. Mang sẵn mấy lá thư giới thiệu vào lực lượng Kaltenborn, anh dấn thân vào các tòa đô chính, khảo sát các trường làng, chuyện trò với các giáo viên, ngắm nghía đám trẻ, và chuyến thị sát kết thúc bằng cuộc thăm viếng các bố mẹ mà anh vừa hứa hẹn lớn lối vừa răn đe bóng bẩy để thuyết phục học cho con cái vào trường chính trị quốc gia. Rồi anh phi trở về Kaltenborn và báo cáo với Raufeisen để những quyết định của mình được chuẩn y và trở thành khả thi. Nhưng anh cũng vấp phải vài lực đối kháng ít nhiều lộ rõ và luôn luôn khó vượt qua trong cái xứ sở ám bóng thất trận này, và lắm khi chính bọn thiếu niên được anh đánh giá cao hơn cả vì lẽ này hay lẽ khác lại tỏ ra là loại con mồi khó khuất phục hơn cả.

Chính anh đã truy ra ở tận cuối cùng vồ Baldahn kéo dài thành một mũi đất hẹp, xanh, ngoằn ngoèo ăn sâu vào dải cát Johannisburg, có một cặp sinh đôi có cha mẹ sống nghèo khổ trong một chòi thợ chài. Lâu nay anh vẫn bị thu hút vào cái tính chất song sinh có vẻ chất chứa một sức sống ở tầng sâu, nơi đây nhục thể đè nặng lên linh hồn và bắt linh hồn phục tùng theo những bốc đồng của nhục thể. Cái bốc đồng từ bản chất này nó bộc lộ một cách vô tình hay hữu ý cho một kẻ khác thấy mọi bí ẩn sâu kín của mình vừa biến kẻ ấy thành cái tôi thứ hai. Thêm vào đó, Haio và Haro là hai đứa tóc màu hung trông giống một cặp chồn con, chúng nó trắng như sữa và óng ả như dính bụi cám. Một hôm trông thấy chúng bứt hoa lau bên hồ, anh liên tưởng ngay đến cái lý thuyết nhập nhằng mà Blattchen có nói với anh – để rồi anh đùng đùng sổ toẹt – cái lý thuyết quan niệm chỉ có hai chủng loại người, là chủng loại tóc hung riêng biệt từ căn bản là tế bào, và toàn bộ chủng loại tóc vàng và nâu đậm nhạt vô cùng khác nhau từ một sắc tố chung.

Sự thu nhận đôi trẻ này bất ngờ vấp phải thái độ chống đối thụ động gần như không lay chuyển nổi từ phía bố mẹ chúng. Sau một hồi lâu vờ vĩnh không hiểu tiếng Đức – họ nói qua nói lại với nhau bằng một phương ngữ Slave -, đối với những lời dẫn giải của Tiffauges, họ khăng khăng không chịu hiểu như những kẻ mắc bệnh thần kinh, họ lặp đi lặp lại một điệu rằng trẻ con mười hai tuổi còn nhỏ quá đi lính làm sao được. Tiffauges hoài công rảo khắp các làng mạc quanh vùng. Ở tòa đô chính nào cũng vậy, không mấy sốt sắng lao vào một công cuộc chẳng sáng sủa lắm, người ta vẫn không chịu nhìn nhận vùng hồ thuộc quyền điều động của làng. Vậy cho nên buộc lòng ông Raufeisen, vốn đã được chàng thanh niên người Pháp kích động, phải mời ban lãnh đạo xã Johannisburg can thiệp, và cuối cùng ông hương trưởng phải đích thân đưa cặp song sinh đến Kaltenborn.

—★—

Ể ĐẦM LẦY Nguyên tác: Les Rois des Aulnes ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 1997
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Michel Tournier

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.