Chúa Tể Đầm Lầy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 19 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
1

❊ ❊ ❊

Tiffauges buông thả con người mình vào trong tình cảnh tù tội không hề kháng cự, lòng vẫn tin tưởng sắt đá và lạc quan như kẻ du lịch buông mình vào chặng nghỉ ngơi biết rằng vài giờ sau mình tỉnh táo, cùng một trật với mặt trời, qua khỏi những cơn mỏi mê của hôm trước, trở lại hồi sức, sẵn sàng cho một chuyến khởi hành mới. Anh đã để rơi lại đằng sau mình, như để rơi những quần áo lấm bẩn, giày mòn, da nứt, để rơi Paris cùng nước Pháp mà trước hết là nàng Rachel, cửa tiệm Ballon cùng ông bà Ambroise, và ở hàng sau là vùng Gournay-en-Bray, thành phố Beauvais và ngôi trường Saint-Christophe. Không có ai ý thức định mệnh của mình cho bằng anh, một định mệnh đi thẳng một đường, không suy suyển, bất di bất dịch cứ nhắm theo cùng đích riêng của nó mà xếp đặt các biến cố lớn lao nhất trên thê giới. Nhưng sự ý thức này cũng bao hàm một thái độ sáng suốt không khoan nhượng đối với điều nhất thời, nét giai đoạn, cùng bao nhiêu sự việc vặt vãnh mà con người thường tình quyến luyến và đứt ruột mỗi khi chia xa. Từ tuổi nhỏ bị chà đạp, từ tuổi mới lớn đầy phản kháng, từ tuổi thanh niên nồng nhiệt – được che đậy suốt một thời gian dài dưới cái vỏ bề ngoài kém cỏi hơn cả, nhưng tiếp theo đó lại bị lật tẩy và lăng mạ do một thứ người ti tiện – từ những khoảng thời gian ấy, giống như một tiếng thét, bật dậy sự lên án một trật tự bất công và giết người. Và trời đã đáp lời. Cái xã hội đã làm khổ Tiffauges được nạo sạch lôi cuốn theo bọn tòa án, tướng tá và giáo sĩ, các luật lệ, luật pháp cùng nghị quyết.

Giờ đây anh tiến lên phía trước. Người ta nhét sáu chục mạng một toa trong một con tàu ì ạch khi đi khi đứng thất thường. Một vài kẻ lì lợm, luôn luôn đeo đẳng ảo tưởng, xúm xít quanh một gã trung sĩ công binh có chiếc la bàn, và họ cứ vin vào từng khúc quặt hơi ngặt nghèo của đường sắt, hoặc vin vào một đoạn giật lùi trong một nhà ga để tự nhủ rằng mình không phải đi về hướng đông bắc mà về có cơ về hướng nam, hướng tây, biết đâu chừng… Còn Tiffauges thì biết và, chẳng cần la bàn mới biết, rằng mình đang đi về hướng ánh sáng. Ánh sáng nào đây? Ánh sáng nào đây? Anh chẳng rõ, nhưng anh sẽ biết một cách nhẫn nại ngày này sang ngày khác, với những thời kỳ dằng dặc bóng tối mùa đông nhưng bên trong vô cùng phong phú, và kèm theo những phát hiện bất chợt mà lại sáng ngời.

Người ta thả bọn họ xuống một thành phố công nghiệp nhỏ có tên là Schwweinfurt. Ban đầu họ bị tấp vào trong những lán trại cô lập, hôm sau người ta bắt họ phải qua những màn tẩy uế và làm sạch chí rận. Bị rễu đi rễu lại trần truồng từ sân ra lán, trọc lông hết, chà xát xà phòng đen, giội nước, rồi phô mình ra trong tình cảnh thảm hại của cơ thể, giờ này qua giờ khác, giữa một cánh đồng rào thép gai, nhiều người chảy nước mắt vì nhục nhã. Tiffauges chẳng có gì để nói về cách xử sự này, đối với anh nó có giá trị như một nghi thức tẩy trần. Anh lại thấy ngồ ngộ nữa là đằng khác, về sự vượt trội bất ngờ của mình nhờ trần truồng mà có, vì nhớ cao lớn và có bắp thịt anh đè bẹp dáng dấp gầy gò và khuyết điểm của chúng bạn, bọn họ chỉ có cái giống và lông lá. Anh chỉ mong sao chóng có thể vứt vào bụi bộ đồng phục mà người ta giao cho, nó vừa ra khỏi nồi nấu bị thau lại và còn bốc khói. Ngày nào mặc được một bộ quần áo khác, hợp với tư cách đích thực của mình, thì ngày đó anh biết – và mọi người cùng biết với anh – rằng thời buổi tăm tối ấy đã qua đứt. Hai hôm sau, một cuộc hành trình tiếp diễn, vẫn theo hướng đông bắc. Họ xuyên qua vùng Thurynges, Saxe và Brandebourg. Qua ô cửa nhỏ của toa tàu họ thấy lướt qua trước mặt vùng Wartbourg d’Eisenach, các tháp lâu đài Gotha, các cánh đồng hoa Erfurt, dinh cơ Weimar, các nhà máy Zeiss của Iéna. Tới Leipzig họ được phép xuống bến tàu và thong thả trong một góc nhà ga được vây kín đối với họ. Tàu dừng phải đến mấy tiếng đồng hồ. Người ta phát xúp cho họ trong phòng đợi hạng ba, kế đó họ tìm cách tự xếp lại thành từng đơn vị hoặc theo tỉnh hoặc chỉ vì cảm tình. Lẽ ra Tiffauges xếp hàng độc một mình giá như gã tài xế Ernest không đeo theo anh. Sự bám sát này không gây lướng vướng cho anh nhưng nó làm anh ngạc nhiên nhất là vì anh thấy ở nơi con người Ernest một thái độ lễ phép mà anh không hiểu vì cả hai cùng cấp bậc. Anh gợi cho hắn nói. Ernest làm bồi phòng ở ngoài đời, một nghề nghiệp đã trở thành hiếm có người làm, và đối với Tiffauges nghề ấy có một sự uy tín âm thầm nào đó vì đòi hỏi vừa đi nước đôi một cách lạnh lùng vừa cần phải lễ mễ một cách có tính toán. Điều này làm phủ lấp sự chệch choạc khó chịu giữa các hạng giàu có được phục vụ và những người có gốc gác khiêm tốn đang hành nghề. Tựu trung anh đã tha thứ cho Ernest phần trách nhiệm của hắn trong việc hy sinh các con chim bồ câu, việc này cũng giống như hầu hết các biến cố trong đời anh được anh khoác lên một tính cách định mệnh khiến cho sự việc trở nên hồn nhiên và dễ hiểu. Cuối cùng anh thu nhận hắn là người có vẻ đã chọn anh làm chủ! Khi con tàu tiếp tục chuyển bánh giữa đêm, bọn canh gác khóa trái các cửa và các lỗ thông ở toa tàu. Những ai không ngủ đều hiểu rằng tàu đang xuyên qua Berlin nhờ các chặng dừng và cách vận hành của tàu làm cho con tàu gặp trở ngại trên đường đi. Kế đó đoàn tàu chuyển động đều nhịp làm ru ngủ những thân xác chất chồng lên nhau. Chắc hẳn tàu đang băng qua một đồng bằng rộng, bất tận mà chỉ có đêm tối mới làm cho con người bớt chóng mặt.

Trời sáng có vẻ nhanh hơn và mát hơn thường ngày. Các cánh cửa kéo được mở ra ầm ầm. Tiếng lệnh truyền, tiếng gọi vang. Đám người ngơ ngác nhảy ra khỏi toa, lập tức bị khựng lại vì một ngọn gió mát lạnh và cắt da. Một lán trại to tướng làm bằng gỗ phết dầu hắc lù lù có vẻ như thể uy nghi bởi cảnh vật đều bằng phẳng. Từng đợt gió làm rung một tấm biển gỗ hình chữ nhật dựng trên hai cột, trên đó nổi lên những chữ viết kiểu màu đen trên nền trắng: MOORHO. Chung quanh là những chiếc ao liền nhau mút mắt, xem kẽ là những cánh đồng mà người ta đoán rằng ngay mùa thu các cánh đồng này sẽ biến ngay thành đầm lầy. Xa xa, từng quãng một, có từng cụm thông cho ta một ý niệm về tỷ lệ và làm cho ta cảm nhận rõ hơn cái bao la của chân trời đang chìm đắm và nhiều đợt khói chạy dài theo bãi lau và cỏ cao. Tiffauges vốn là người ngoài Paris ra chỉ biết có những vùng đồi hoặc những ngôi làng cây cối lúp xúp nay phải ngẩn người ra vì cái bao la của vùng đất.

Vì tầm nhìn của anh trải ra vô tận tứ bề, phóng ra giữa làn hơi sương la đà trên những ngọn thạch thảo cùng những mặt nước gương soi, anh có cảm giác tự do xưa nay chưa hề biết tới. Tự dưng anh mỉm cười cho cái điều trớ trêu này, đồng thời tiến bước theo sau một đoàn người đờ đẫn, tiến mãi về phương bắc dưới những tiếng tru tréo thúc giục của một gã thượng sĩ.

Họ bỗng khám phá thấy căn trại cách đường đi vài trăm thước, trong khi ngôi làng Moorhof vẫn chưa chịu xuất hiện. Họ không ngừng rút kinh nghiệm. Trong cái xứ sở phẳng phiu như bàn tay này, bề ngoài trông rộng mở và không có gì bí mật, các ngôi nhà, vựa lúa và luôn cả chòi canh của trại chỉ cần rời một đoạn là không trông thấy, tất cả như bị hút vào cái bề dày của đất và nền cỏ. Đây là một trại có kích thước khiêm tốn, vì chỉ gồm có bốn lán trại đôi bằng gỗ, dựng trên những chiếc cột ngắn, lợp bằng vải dầu hắc ín, mỗi cái có thể chứa hai trăm mạng người. Quân số đầy đủ là tám trăm người, quân số này chỉ đạt được vài tuần sau đó nhờ có những đợt người khác tới và tương ứng với các lao tác, nhưng không thuận lợi cho tù binh vì con số còn quá ít ỏi không bắt người ta tổ chức đầy đủ hoặc tạo những nguồn lợi phong phú về con người, và khiến một kẻ đơn độc khó lòng lẩn trốn trong đám đông. Bốn chiếc lán trại được bọc quanh bằng hai lớp rào kẽm gai, giữ hai lớp rào dày đặc những con ngựa sắt. Không gian giới hạn này có thể rộng đến nửa hécta. Bốn chiếc chòi canh ở bốn góc.

Những ai bước vào trong địa phận mới này đều chỉ thấy toàn là không có tiện nghi trong cái sơ sài của lán trại, toàn là thù nghịch trong nội vi này, và toàn là ngay ngáy đầy ác cảm từ phía các vọng canh. Tiffauges vững tin thêm trong cái cảm giác tự do và thong dong đã ập vào người anh từ khi trên tàu lửa bước xuống. Mọi thứ như thể đâu vào đấy sẵn sàng để bày ra cảnh đồng bằng luôn luôn gần cạnh với bọn người của trại. Anh nhớ lại loại trang trại rộng lớn ở vùng Picardie với bao nhiêu mặt tiền đều mở ra quay và trong sân và chỉ bày ra phía ngoài những lưng tường mù đặc. Ở đây, hoàn toàn ngược lại. Các bờ rào bằng dây thép gai là những cái tường nhìn thiên thâu. Các vọng gác dường như mời mọc lục soát chân trời. Bên trong cái lán trại được chỉ định, anh chọn lấy giường ngủ tầng trên, xa lò sưởi, nhưng từ chỗ nằm anh có thể xoay đầu nhìn qua lỗ cửa toàn bộ mặt đông của đồng bằng. Anh sà ngay xuống giường, mệt nhoài vì những ngày lộn xộn và những đêm chẳng ra làm sao mà mình vừa trải qua. Đây là lần đầu tiên kể từ khi bị bắt ở Neuilly làm anh trốc gốc, anh cảm thấy mình tới được một bến bờ, và có được một sự an toàn nào đó. Cõi Châu Âu đã được vứt lại đằng sau xa về phía mặt trời lặn, đang bó mình vào một hình phạt đáng đời. Nhưng trên hết mọi thứ có một lời kêu gọi vỡ òa và êm dịu của vùng không gian trinh bạch nào đây, với mặt đất xám bạc, được tô điểm phơn phớt bằng màu tím của một phía lưng chừng thạch thảo, trỗi lên bằng độc một bóng cây bạch dương mảnh khảnh, và bao nhiêu là cát, là đầm, một không gian chạy dài bao la về hướng đông chắc hẳn kéo dài đến tận Sibéria cũng nên và hút lấy cùng đất này như một họng ánh sáng nhạt màu. Rốt lại, nhờ bọn người nhập trại trước anh, anh biết được vị trí chính xác của Moorhof trên bản đồ của Đông Phổ. Ngôi làng bốn trăm dân này cách Insterburg mười hai cây số về hướng tây và cách Gumbinnen về phía đông, ở bên bờ một con sông, sông Angerapp, sông này nhập với sông Inster tại Insterburg để thành ra con sông Pregel.

Về lao tác được đòi hỏi ở bọn họ, là bọn người mới tới, sau đợt nghỉ ngơi đúng như thủ tục là hai mươi bốn tiếng đồng hồ, họ hiểu rằng mình sửa soạn ăn nằm ngày này qua ngày khác với vùng đất đen và ăm ắp nước trước mặt. Đây là một công trình quy mô lớn cần đào vét các cánh đồng bên bờ sông Angerapp, thực hiện bằng những phương tiện vật chất thiếu thốn nhưng được bù đắp bằng công nhân dư dật và ít tốn kém hơn. Mỗi đêm, người ta nhốt tù binh lúc bảy giờ vào các lán sau khi thu quần dài và giày của họ – đúng hơn đó là những đôi guốc gỗ được phân phát. Thế là bắt đầu chuyến du hành tưởng tượng dằng dặc trong đêm đối với mỗi người, chỉ lóe lên nhờ năm chiếc đèn bão đốt bằng dầu hỏa. Họ quá là người mệt mỏi nên chẳng biết chán nản là gì. Sáng ra, người ta cho họ ra lúc sáu giờ, và phân phát một phần tư lít nước Waldtee, là một phần hợp chất dị thường gồm có lá thông, bạc dương, lá trăn và dâu dại mỗi thứ một ít, kèm theo một món đỡ lòng cho cả ngày gồm có một lát bánh mì và một nạm khoai tây nấu chín và tất nhiên là nguội. Tối đến một món xúp nước trong nhưng được một cái là nóng, chờ chực họ.

Họ bước đi từng cụm mười người, một tên lính Đức giám thị kèm theo, đi đến đoạn đường đào vét được chỉ định. Công việc của họ là làm sạch một vùng rộng khoảng năm trăm hécta mà gần như toàn bộ đất này phụ thuộc vào một nông trại khổng lồ tọa lạc gần Moorhof. Công trình đào vét dự liệu một hệ thống đường hầm sâu hai thước rưỡi mà phần đấy được bố trí như một cái kênh gồm ba mặt đá, hai mặt dựng đứng, mặt thứ ba nằm ngang, phủ lên hai mặt kia. Lòng bằng gạch đập nện, kế đó là đất thịt bít kín. Các ống dẫn nước theo một độ dốc vừa phải đổ ra một con kênh chứa nước, con kênh này lại rót ra sông Angerapp. Phần lớn nhân công lao vào cuộc đào hầm bằng xẻng. Hầm đào xong, hai người bước đi bước lại trên hai bờ, kéo lệt sệt một cây bào để chà đáy hầm cho bằng phẳng. Công việc xây cất các kênh được giao cho công nhân người Đức, và luôn cả việc đo đạc các mức độ và vạch ra các đường kênh sắp tới.

Sự chung đụng bất đắc dĩ trong lán trại cuối cùng đã hòa lẫn những cá nhân riêng rời dồn ún với nhau thành ra một cộng đồng nhỏ hợp nhất và cân bằng, trong đó có chỗ đứng cho mỗi người. Đối với nhiều người trong bọn họ, sự việc cần thiết chia sẻ mọi thứ với bọn bạn mà nguồn gốc xã hội, sinh quán hoặc nghề nghiệp hoàn toàn khác nhau là một điều lạ lùng, có khi có lợi, có khi khổ sở. Tình trạng rứt ra khỏi môi trường quen thuộc, môi trường gia đình và địa lý làm cho một số người rơi vào tâm trạng ngẩn ngơ chứng tỏ một sự sa sút tinh thần và trí tuệ nguy khốn. Đối với một số, trái lại, đây là một sự giải phóng cho phép những hoài bão khẩn thiết của họ được nảy nở. Có kẻ lại rút mình lầm lũi, nhưng nếu như thường khi đó thuần túy chỉ là sự câm lặng của con thú, thì đồng thời là một câm lặng đầy ắp đối kháng và tính toán. Có kẻ trái lại thao thao bất tuyệt, phân phô với hết bạn này đến bạn kia về nỗi hăm hở nảy ra những dự án và công trình đang nung nấu mình. Chẳng hạn một cậu bán buôn hàng xén cỡ nhỏ, tên là Mimile, ở Maubeuge, lấy vợ quá sớm, người vợ quá hiền, nói thẳng thừng hai nỗi ám ảnh của mình: đàn bà và tiền. Hắn chẳng bận tâm đến việc hai thứ ấy đi cặp với nhau, và nếu hắn có vẽ vời những trò kết hợp buôn bán lúc đầu loanh quanh trong trại rồi sau đó lan tràn ra toàn vùng, là nằm trong ý nghĩ kiếm một nhân tình người Đức sẽ bao bọc cho hắn, đứng tên cho hắn và qua đó hắn sẽ tậu của cải, một cái nhà, đất nữa cũng nên. Hắn lý luận mãi một giọng:

- Bao nhiêu đàn ông ở đây đều nhập ngũ. Chỉ còn lại toàn đàn bà và của cải. Đàn bà, của cải và bọn chúng ta! Phải rút ra kết luận tiện lợi từ cái tình huống đặt định ra như thế này cho chúng ta.

Nhưng cậu trẻ nhất lán là Phiphi, quê ở Pantin, thì khiến mọi người ê ẩm theo những lối nói chơi chữ và điệu bộ chê bai của cậu, cậu cho rằng chỉ có người phụ nữ Pháp, phụ nữ Paris, mới đáng nói tới thôi. Làm sao mê nổi cái đẹp thô kệch nặng nề của các nàng Nhật Nhĩ Man thắt bím với tất len mà mình bắt gặp kể từ khi đặt chân lên nước Đức này?

Minile nhún vai và phân trần với Socrate, một anh đậu thạc sĩ tiếng Hy Lạp đang quan sát cái đám người tù túng và đa tạp này qua lớp kính mắt, vừa ung dung kéo từng hơi thuốc ống vố. Socrate chỉ phá lệ dè dặt của mình khi nói lên rặt những lời phán giống như lời sấm thường thường mới đầu là những chân lý sáng suốt nhưng hơi tầm thường để rồi liền sau đó – chẳng hiểu sao – biến thành những nghịch lý lạ đời. Một hôm anh bảo:

- Chiến tranh kéo dài bao lâu, chừng nào chấm dứt, vạn sự tùy theo đó. Nếu mình được tự do trước Noel, thì thằng Phiphi có lý. Mình nên trung thành với quê hương. Còn nếu như, và điều này dễ xảy ra hơn, nếu như nước Đức đắc thắng củng cố thành tích của mình bằng xác chết của nhiều thế hệ thanh niên, thì đối chọi lại với một sự bại trận gọn ghẽ và có lợi là một thắng trận đổ máu mà danh giá. Trong khi những người lính Đức cuối cùng mạnh chân khỏe tay còn gìn giữ bên bờ Đức quốc xã ngàn năm hùng vĩ, chúng ta sẽ đem mồ hôi và tính huyết ra tưới bón cho đất đai và phụ nữ của nó.

Lối ăn nói như vừa rồi chỉ đánh thức một lóe nghi kỵ và phủ quyết trong con mắt ti hí nhà quê của Burgeron, anh chàng tá điền làm thuê của vùng Berry có ria quặp, nhưng lại gây ra tràng cười hi hí của thằng Victor mà họ gọi tên là Thằng Điên đã từng nổi danh trong “thế chiến kỳ cục”, và nhất là trong cơn tháo chạy. Victor tinh khí thất thường, không hòa đồng và vui buồn bất định, hắn lê la cùng khắp các trại tâm thần của khu vực thủ đô với vài quãng thời gian tự do ngắn ngủi thường thường kết thúc bằng những hành vi khác thường nên lại tái nhập viện. Đúng khi chiến tranh bùng nổ, hắn đang thong dong, nên lập tức tình nguyện vào bộ binh. Trong quân đội những hành vi kỳ dị tái diễn, nhưng vì những hành vi này trở thành những thủ thuật táo bạo trong hàng ngũ địch, cùng những hành vi dũng cảm khi tiểu đoàn của hắn tán loạn thảm hại, cho nên Victor phủ phê những tuyên dương và huy chương. Socrate đã đem trường hợp hắn ra bình luận và giải thích rằng vì hắn cực lỳ không thích nghi với một xã hội bình yên và trật tự, cho nên hắn lại thoải mái khi gặp những bất ổn trong chiến tranh, nhất là khi chiến tranh chuyển thành tháo chạy.

Tiffauges đứng ngoài rìa cái nhóm nhỏ của lán trại, dù có Ernest làm môi giới xun xoe chạy tới chạy lui với mọi người. Tuy nhiên, anh không hoàn toàn xa lạ với chúng bạn và cũng có khi anh quan sát thấy kẻ này kẻ kia có một cái gì đấy giống với mình. Ở mỗi người bọn họ anh thấy có nhiều lời giải đáp cho bài toán tù tội ít nhiều lần gần giống như lời giải đáp của chính anh – dù anh vẫn chưa xác định được rõ ràng, nhưng chắc chắn đó là một điều tuyệt đang hình thành. Chẳng hạn như những mơ ước chiếm đoạt xác thịt và tài sản của thằng Mimile có âm hưởng trong lòng anh và hơn thế nữa, cái tính điên của thằng Victor bị trật tự xã hội đè bẹp nhưng lại giống như con cá gặp nước đục và hỗn loạn của chiến tranh.

Tuy nhiên, người ta không bằng lòng thấy anh lao động hăng say. Anh đào đất và thọc sâu đụng tới nước một cách hăng hái, điều này không thể giải thích chỉ là vì anh khỏe. Làm thế nào cho chúng bạn hiểu rằng anh chờ đợi một cái gì đó từ xứ sở này một tín hiệu, một báo hiệu, chẳng rõ xác định là cái gì – vì cứ đào bới đất như thế này, anh có cảm tưởng mau chóng phát hiện cái thông điệp hé lộ cho riêng anh chăng?

Vả lại anh thích thú thâm nhập hùng hục vào phần nội tằng và thâm sâu của một xứ sở mà anh bắt đầu yêu thích. Mới đây anh đã phát hiện ra nó, cái hôm nhờ một tên lính canh dễ tính, anh thực hiện được điều ước muốn kể từ khi đặt chân đến đây là leo lên một vọng canh của trại. Đây là một trong những cái đài bằng gỗ cây sáu thước bề cao phía trên là một mặt bằng có lợp kín và leo lên đây bằng một cái thang. Tiffauges chỉ lướt nhìn trại giam một thoáng thôi, trại xếp đặt chặt chẽ với những dây nhà mới mẻ, mang nét kỷ hà, tương phản với những hình người tiều tụy là đám tù binh đang vất vưởng ở đó. Anh ngước nhìn ra đồng bằng, về hướng đông bắc có lẽ là mục đích của chuyến viễn du của anh, đã khởi đầu từ suýt soát một năm nay. Vùng đất phẳng lì đến nỗi tầm mắt anh phóng ra ngút xa, dù đài quan sát không lấy gì làm cao. Những đồng lúa mạch đen tiếp nối xâu chuỗi, trông như trắng, bị chắn ngang vì một đường đen là rừng thông, là những chiếc ao óng ánh như những tấm thép, bọc quanh là bãi cát sáng, những đầm than bùn làm lộ rõ các thân sáng bạc của bạch dương, những vũng lầy phản chiếu mấy mảng mây trắng sữa, bọc quanh là vòm lá cây trăn sẫm màu, những ruộng lúa mì đen xen kẽ với mấy cây sợi gai trắng. “Một xứ màu đen với trắng, Tiffauges nghĩ thầm, Ít màu xám, ít màu khác, một trang giấy trắng đầy những ký hiệu đen”.

Bỗng nhiên mặt trời xô ngã tòa mây đang chiếm cứ bầu trời và tóe lửa vào những đám hơi nước đang dâng lên từ đầm lầy và các đám khói từ ngôi làng Moorhof. Một ô kính nơi một ngôi nhà bắn ánh sáng lên chằm chặp như ngọn đèn đánh tín hiệu. Đến đây Tiffauges mới khám phá ra vùng làng này với những chiếc nhà lè tè có mái gỗ xúm xít quanh một ngôi nhà thờ đầy đặn, lù lù, quét vôi, có gác chuông ngắn ngủn vạm vỡ như thể đang ấp ủ dưới lớp mái thấp chè bè một lối đi bọc quanh. Đằng sau ngôi làng có thể là một vùng thấp phản chiếu ánh sáng loang loáng qua bãi cỏ cao và xa hơn, trên một bờ đường có thành đá, một cối xay gió kiểu Hà Lan hiện trồi lên với những hình dáng xiêu đổ lật bật. Một đàn sếu bay ngang qua bầu trời, chèo nhẹ đôi cánh, một hồi chuông rắc rải trong gió một điệu nhạc rời rạc, tang tóc. Tiffauges có cảm giác rất sâu sắc rằng một sợi dây thân thuộc buộc anh vào đất này. Để khởi sự - và có lẽ về lâu dài – anh bị giam cầm, và anh có nghĩa vụ phục vụ nó hết sức, hết lòng. Nhưng đây chỉ là giai đoạn thử lửa, nói là giai đoạn đính hôn cũng được, và sau đó, nhờ một sự đảo lộn quan trọng nào đó ăn khớp với đời anh, anh có thể làm chủ được.

—★—

Tất cả cái thớ đất đen màu mỡ mà anh đang cuốc xới ngày này sang ngày khác có lẽ cũng dự phần giúp giập anh: từ ngày nhập trại, và dù thức ăn eo xèo kém cỏi, anh vẫn sống trong tình trạng vô cùng phong phú về đại tiện. Hàng đêm trước hiệu lệnh giới nghiêm thứ nhì – tức là hiệu lệnh cuối cùng – anh ra hố xí ngồi kéo dài tối đa, đây có lẽ là giây lát thích nhất trong ngày làm anh nhớ những năm tháng ở Beauvais vô cùng. Một giây lát mở ra dấu ngoặc một thân một mình, lặng lẽ, tĩnh tâm làm việc phóng uế, hoàn thành một cách rộng lượng, không gắng gổ quá sức, cho cục phân xuống đều từ trong ống nhờn của các màn mềm.

Tuy nhiên địa điểm không thuận cho tư thế trầm tư. Đây là một cái hố sơ sài, trên miệng chạy dài một thanh ván gỗ nhỏ hẹp cứ hai thước đóng một khoanh gỗ giữ cho các bạn hàng một chỗ ngồi cheo leo. Tiffauges nhớ lại những lời bình bác của Nestor với loại phân phóng ra mất tăm. Ở đây, việc xúc phân được xử lý chừng mười ngày một lần, bổ khuyết cho tình hình vừa nói một cách không ngờ và chẳng phải là không có cái hay của nó. Việc xúc được thực hiện bằng những chiếc xe ben có bánh lăn mà một người đổ đầy lên đó bằng một cái xô đính vào một chiếc cần, như một chiếc môi khổng lồ, hoàn toàn giống những chiếc môi đem dùng ở bếp trại, làm cho chúng nó đem chuyện ra giễu cợt mãi không thôi. Tiffauges cảm thấy chột dạ khi thấy các xe goong sau đó được đổ tháo ra một hố rút nước dùng tưới bón đồng đều cho cả đồng bằng. Nhưng vấn đề tự trọng ngăn cản anh tự nguyện quá hăng hái vào tạp dịch đổ phân và, về sau, việc canh gác hố xí khiến anh chán hẳn chuyện ngồi hố. Thật vậy, người ta nhanh chóng phát hiện rằng tù binh có khi không chịu ra tới hố, và dừng bước nửa chừng vì lười hoặc vì thúc bách, và trên đường đi tới hố đặt những người canh gác về hùa với họ. Do đó bọn Đức thiết lập một hệ thống canh gác đảm trách do một lính Pháp cứ bốn tiếng đồng hồ đổi ca, và mang trên ngực một miếng tôn lủng lẳng có kẻ hàng chữ tồi bại là canh gác hố xí. Thế là xong toi việc ngồi một thân một mình trầm ngâm cần thiết cho công việc cần yếu, và Tiffauges lập tức quyết định chỉ dùng hố xổm và riêng, lưu lại ở những nơi lao dịch.

Anh nổi tiếng làm việc say máu nên chỉ được canh gác rất lơi lỏng, và tình trạng anh được thả lỏng nhiều giờ trơ trọi một mình đào dưới hố không phải là hiếm hoi. Như thế anh tha hồ chọn nơi thuận tiện để đào vài nhát xẻng và đặt hai cái thanh gỗ luôn có bên mình dựng lên một đài án để cho anh chễm chệ giao kết thân mật với lòng đất nước Phổ.

Nhưng về sau một sự phát hiện lớn lao tạo nên một ý nghĩa mới mẻ cho những thời gian rảnh rỗi của anh. Một hôm tham gia vào những chuyến hành quân vạch đường, thiếu chút nữa anh rơi xuống một giao thông hào rút nước đã ráo khô hoàn toàn lẩn lút dưới đám cỏ cao. Đầu mút của địa đạo này chỉ cách hiện trường của anh chừng trăm thước. Ngay hôm sau, anh tụt xuống đó, và đi thẳng tới trước để khám phá. Lòng đất cứng và phẳng. Trên đầu anh lớp cỏ ra hoa dày đặc tạo thành một lớp mái che nhẹ nhàng lay lắc có từng tia nắng xuyên qua. Một con chim trĩ hôi ổ phóng chạy trước mặt anh, chăm chăm tiến tới trong đường hào nhỏ. Chẳng mấy chốc anh có cảm tưởng mình bước lên triền dốc, và như thế anh hẳn phải hướng về một khu rừng thông nhỏ làm giới hạn cho vùng đất canh tác Moorhof. Anh bước đi hồi lâu, con chim trĩ vẫn đi cặp kè, tiếp theo lại có thêm hai con chim đa đa và một con thỏ to mập lưng màu hung mở đường. Kế đó lớp cỏ thưa dần, một đoạn đường mấy thước không có một loại cỏ nào án ngữ mảng trời xanh do hai bờ hố chắn lại, cuối cùng là những bụi gai và những câu đào dại báo hiệu đang chuyển qua một địa thế khác. Thình thình con chim trĩ cất cánh bay ầm ĩ. Cách vài thước một lớp tường đất có cây mọc chỉ rõ đường hào chấm dứt.

Tiffauges trèo lên mặt đất. Khu rừng thông nhỏ vốn chỉ còn một dãy cây thưa thớt nằm lọt lại đằng sau lưng anh. Thật ra anh đang đứng ở ngoài mép một khu rừng bạch dương với địa thế mấp mô có vài cụm táo đen. Anh có cảm tưởng đang ở vào một xứ sở khác, trên một vùng đất khác, có thể là vì anh đã thoát ra ngoài không khí của trại, mà cũng có thể là nhờ lối đi kỳ lạ gần hệt như là địa đạo đã đưa anh đến đây. Anh bước theo một con đường mòn đất cát ngoằn ngoèo giữa một nệm thạch thảo, xuôi dốc một thung lũng, leo lên một con đường dốc, và khám phá ra cái mà anh đang tìm: bên bờ rừng với những đốm tím nhạt của đám cây bả chó bắt gặp đầu tiên, có một cái chòi làm bằng gỗ khoanh, xây trên một nền đá, cửa lớn đóng, cửa sổ đóng, như đợi anh đến từ bao giờ.

Anh dừng lại ở bìa rừng xúc động bàng hoàng và thốt lên một tiếng bắt rễ từ quá khứ xa xôi nhất của anh, và chứa đựng những lời hứa hẹn sẽ được hạnh phúc: “Canada!” Phải chính anh đang ở Canada, chính là xứ sở Canada mà khu rừng bạch dương này, mà khoảng rừng thưa và cái chòi này tái lập nên ngay giữa vùng Đông Phổ. Và anh lại nghe ra giọng nói âm u của Nestor đang vùi đầu vào một cuốn tiểu thuyết của London hoặc của Curwood, và Nestor trong mùi hôi nồng nàn của phòng học chung nhắc nhở đến những vùng sa mạc có tuyết có rừng bọc xung quanh vịnh Hudson và vùng Biển Hồ, hồ Caribou, hồ Esclave và hồ Ours.

Hôm ấy, Tiffauges chỉ đi vòng quanh ngôi nhà của mình. Anh nhận thấy rằng cửa lớn bị đóng bằng một cái then bị chận cứng do một ổ khóa bằng sắt tây, muốn mở cũng dễ thôi. Anh trở lại con đường hầm phủ cỏ của mình. Sự vắng mặt gần ba tiếng đồng hồ của anh không bị ai để ý.

—★—

Những trận mưa nặng hạt đầu tiên của mùa thu bắt đầu giữa lúc trung úy Teschemacher, người quản trại, được tin rằng Tiffauges nguyên làm chủ hãng sửa xe vừa là thợ máy, ông nâng cho anh làm tài xế chiếc Magirus năm tấn trực thuộc trại. Thế là anh bắt đầu ruổi dong khắp xứ, lúc đầu có lính gác đi kèm, tiếp theo càng ngày càng hay đi một mình hoặc đi cùng với Ernest để thay nhau lái. Thông thường là đi lấy lương thực về cho trại, tức là đến các sân nông trại chở những bao khoai tây, luôn cả vài thớt da mỡ hoặc từng trảng xúc xích khô bó lại từng mười hai tá như bó củi. Mưa làm cho đường sá lún, xói thành những rãnh sâu có khi phải sợ cho chiếc xe tải và cả bụng xe vào lớp đá vồng lên giữa hai rãnh. Kể từ cuối tháng mười, đám lính Pháp kinh ngạc thấy đường sá được máy bừa ủi đều, công tác làm đi làm lại, dự phòng những trận giá đầu tiên, phục vụ cho xe trượt băng. Mưa có khi nặng hạt quá và rơi đều quá làm cho việc đào hào bị gián đoạn. Một nỗi rầu rĩ nặng nề úp chụp xuống bọn người cấm túc tại trại đang bị ngập nước một phần. Giữa lúc ấy Tiffauges lao lạc đi trong chiếc Magirus, mặt anh dán sát vào lớp kính chắn gió mà cái gạt nước quét không sạch nổi, và bản thân anh, lắc lư nhẹ nhàng trong chiếc xe nặng, dầm mình trong những tia nước bắn vào lần các màn hơi, anh có cảm tưởng mình đang ở trên một con tàu giữa một dòng biển dậy sóng.

Các làng mạc vùng chung quanh trở nên quen thuộc đối với anh, và các tên làng toàn sặc mùi đồng cỏ, rừng hoặc bãi lầy – Angermoor, Florhof, Preusenwald, Hasenrode, Vierhufen, Grunheide – lập tức gợi lên trong lòng anh một điệp khúc được minh họa bằng các tấm biển của các lữ quán, một sự nở hoa rộn rã và ngời sáng kèm theo nhiều tua ren ca tụng mỗi nơi một báu vật như Cừu Vàng, Cá Măng, Hoẵng, Bò Vàng hoặc Cá Hồi. Có khi anh lần lữa trong các gian phòng hun khói, lắc đầu không hiểu khi một khách hàng bỗng vớ lấy anh vì nhận ra anh là tù binh người Pháp, và anh bắt đầu quen hơi với những điếu xì gà nhỏ có mùi hắc với một đầu rơm mà người ta mời anh. Anh có dịp đi tràn về hướng đông đến tận Gumbinnen một thị trấn đông người có con sông Pissa chảy qua, cái tên này khiến người ta cứ cười mãi không thôi. Mỗi ngày thứ tư, gần sát sảnh đường thị trấn, có những thân cây thông bị đốn làm thành những bậc cấp to rộng, thường họp chợ trưng bày ngựa khá nổi tiếng do các chuồng ngựa lớn của hoàng gia ở Trakehnen đưa đến, ở cách đó khoảng mười lăm cây số. Đi xuống phía nam một đoạn nữa là bắt đầu vùng đất hoang Rominter, một khu dự trữ mênh mông gồm có rừng cây cao và hồ, nhung nhúc thú săn lông mao lông vũ, thiên đàng của loài nai đẹp nhất Âu châu. Càng thường xuyên trà trộn vào đám dân sự, Tiffauges được thể khám phá ra nước Đức, tập nói tiếng Đức, dần dà đi sâu vào một thế giới mới mà anh không lường được sự phong phú, mặc dù chưa nắm được cái chìa khóa.

Mùa mưa, quân số của trại giảm sút nhanh, đội lao động sai phái từng người một hoặc từng nhóm nhỏ thi hành đặc nhiệm ở xa chỉ giữ liên lạc hành chính với quản trại mà thôi. Đông nhất là những người được phái đi làm củi trong khu rừng chung quanh, nhưng nhiều kẻ do ý thích hoặc tay nghề cũng được phân bố ra các xưởng thủ công, các hầm đá, trại cưa hoặc trại chăn nuôi.

Có dịp là Tiffauges thẳng đường đến vùng Canada. Anh tin rằng bọn kiểm lâm đã tan tác theo tổng động viên, anh ít ngại bị rầy rà trong túp lều mà anh tông được cửa và ra sức thu dọn căn phòng độc nhất. Anh đốt một ngọn lửa sum sê trong lò sưởi, sửa soạn bước lên đài án đại tiện mà anh đã bố trí ở ngoài hiên, phía sau nhà, và đổ ra hàng giờ trầm tư mơ màng đặc hưởng nhờ một thứ xa xỉ ngoài vòng tưởng tượng: sự đơn độc. Điều lo liệu duy nhất là trước hết phải gom góp củi gỗ chất lại thành đống dưới triền mái dự phòng đông tới. Để rập khuôn với hình ảnh nếp sống của người săn bẫy, lúc đầu anh đặt vài gút bẫy thỏ tại nơi có dấu chân con mồi ở mép rừng dương xỉ, chắc chẳng ăn thua gì, nhưng sau đó nhờ mấy vết máu anh hiểu là có con chồn hay mèo hoang nào đó đã vớt mồi trước anh.

Một hôm bất ngờ trời đổ mưa, anh nhẩn nha chẳng đề phòng, ngâm nga theo ngọn lửa lách tách và mưa rả rích trên ván nhà. Anh ngủ quên. Thức dậy, trời đã tối, và nước mưa vẫn râm rỉ. Hẳn nhiên ở trại người ta đã điểm danh và báo hiệu giới nghiêm. Anh bị ghi là vượt ngục chăng? Qua đêm trong nhà mình. Rồi về trại tờ mờ sáng mai vậy. Anh xếp củi lên đến tận nóc và dọn một chỗ ngủ cầu âu, lòng khấp khởi như đứa học trò trốn học. Nỗi vui khiến anh tỉnh ngủ hồi lâu, mặt quay nhìn lò lửa đỏ, cái sân khấu nhỏ xíu hực lửa đang diễn ra một vở nhạc kịch hoa lệ không có tiếng nhạc, chứa đầy những âm mưu thầm kín đang vỡ ra thành hỏa hoạn. Đây là một chặng đường mới trong tiến trình giải thoát kỳ lạ đang diễn ra ngay trong cảnh tù tội.

Đồng đội của anh thì không phải như anh, khoảng thời tiết xấu này khiến họ càng sa sút tinh thần. Tiếng the thé của lũ chim di lướt qua bầu trời sung sướng, con gió lạnh se thắt không ngớt tức tưởi qua vách trại, dải đất âm khí mà mọi thứ đều thù địch, và thứ nhất là cái mùa đông này đang chụp lên đầu họ vừa chôn vùi mọi hy vọng phóng thích, mọi thứ cấu kết làm nản lòng cái nhúm người thô thiển này, bị rứt ra khỏi nếp sống đều đều khỏe khoắn hàng ngày vì một cơn gió bụi nào không hiểu. Riêng chỉ có Socrate tổ chức được một loạt bài thuyết trình về văn học sử, và Mimile làm ra bộ thu thu giấu giấu mỗi khi chúng nó đem hắn ra đùa về chuyện hắn quen biết với vợ gã thợ mộc, nơi hắn đến làm lụng hàng ngày, chỉ có ngần ấy thứ là còn mang đến một âm vang của đời sống vào lán trại. Một đêm Phiphi làm náo loạn khiến bọn bạn túm lấy hắn bắt hắn phải khai là có uống rượu. Hắn chống chế nói quanh, trộn lẫn tên này tên kia, luôn cả tên phố tên tiệm của thành phố Pantin cùng với mấy tiếng Đức – bị hắn Pháp hóa một cách lộ liễu mà hắn nhặt nhạnh từ khi đặt chân đến đây.

Mimile bảo hắn:

- Ít nhất có mày là hợp với mùa đông ở đây. Nhìn mày đẹp lắm!

Hôm sau người ta tìm thấy hắn đã chết, treo cổ nơi cột rào với cái thắt lưng. Vụ tự sát này gieo kinh hoàng trong trại. Thốt nhiên hiện rõ nét một điều là rồi chẳng có ai thoát ra khỏi trại này còn sống sót hoặc tỉnh trí, các thứ bệnh tật, tuyệt vọng hoặc mất trí sẽ chọn lấy từng nạn nhân trong những tháng tới đây. Huống chi các lán trại – hiển nhiên! – xây cất để chỉ dùng một năm thôi, và không phải chỉ có phóng thích mới giải quyết hết tù!

Mưu tính vượt ngục manh nha. Victor mỗi ngày mỗi nảy ra ý mới để lẻn trốn trại, hắn nói cho mọi người rõ, kể luôn cả lính canh. Có đứa trữ thức ăn, kiếm ra từng đồng tiền mark bằng cách trao đổi mấy bánh xà phòng hoặc thuốc lá đen với bọn gác hoặc một vài người dân bắt gặp. Rồi vẽ bản đồ. Một hôm, Ernest tiết lộ với Tiffauges rằng hắn cùng với một tù binh khác có ý nghĩ dùng chiếc xe Magirus với giấy thông hành để tìm cách trốn thoát. May ra có thể qua tới Ba Lan, tại đây kiểm soát chắc là lơi lỏng hơn và dân chúng, theo nguyên tắc, sẽ sẵn sàng giúp đỡ. Tiffauges nhún vai không nói gì. Về sau anh phải đương đầu với gợi ý của Mimile, gã này thấy chiếc xe cam nhông đi đi về về, cho đó là cơ hội nghìn năm một thuở tạo ra một thứ mạng lưới buôn bán ngoài phạm vi của trại. Hắn đề nghị việc phân chia phần trăm hậu hĩ cho Tiffauges, điều này không làm nao núng thái độ thờ ơ của anh, nhưng anh vẫn cảm thấy nhói người lo lắng khi thấy hố đào sâu thêm giữa mình với người đồng hương.

Một buổi sáng, người ta nhận ra chiếc Magirus biến mất cùng với Ernest và Berter, một kế toán trưởng ở Grennoble thuộc lán bên cạnh. Chiếc cam nhông được tìm thấy ra hết xăng, hai ngày sau, cách một trăm rưỡi cây số về phía nam. Nhiều hình phạt rơi xuống toàn trại, và đánh tan nguồn tin là nhẹ tay đối xử vừa áp dụng mấy tuần trước đây nhân sự kiện lịch sử của cái bắt tay thân thiện tại hội nghị Montoire. Người ta đánh cá về sự may mắn thành công của hai kẻ đào tẩu. Cuộc vượt ngục đầu tiên này có một giá trị làm gương. Nếu thành công, nó sẽ nuôi hy vọng cho bọn người không bao giờ có can đảm bắt chước như vậy.

Bốn ngày sau, người ta đưa Ernest trở về, mình đầy bùn, tơi tả, mặt mày biến dạng vì bị đánh đập. Người ta khiêng tới một chiếc cáng làm sơ sài, trên đó là xác thằng Berter. Sau khi vứt bỏ chiếc xe, hai tên đào tẩu phải rời bỏ các con lộ thường qua lại của cảnh binh Đức, và mạo hiểm vào vùng đất hoang. Họ bị lạc bước trong đầm lầy, tại đây Berter sẩy lún người mà chết. Cuối cùng Ernest đầu thú tại bộ tư lệnh của một thị trấn. Người ta nhốt Ernest một tuần lễ trong hầm kín – để làm gương – rồi tống đi đến một trại giam quân sự ở Graudenz.

Có lúc trời tạnh ráo giữa những ngày mưa tầm tã và gió bão mùa thu, Tiffauges có thể lần tới con đường hầm phủ cỏ mà mới đây những cơn mưa đã làm cho khó đi. Kể từ đây, một cách đều đặn, anh dành cho mình một đêm ở “Canada”, và cứ mỗi lúc như vậy là một hôm lề lạc, một thân một mình mơ mộng được phụ họa bằng tất cả những tiếng động ẩn mật của rừng, âm thanh của một người phụ nữ ăn vận toàn trắng nào đó đang đi săn nhại tiếng kêu của con mồi, tiếng kêu của con thỏ gọi đực hoặc vỗ chân bành bạch làm cho chồng chạy đến, và cũng có khi có tiếng lao xao xa xăm và buồn bã của cả đàn nai. Cuối cùng anh bẫy được mấy chú thỏ con. Anh nhặt lấy và nướng vào lửa, vui mừng như trẻ con được sống thật sự như kẻ săn bẫy của vùng Cực Bắc. Mấy bộ da căng ra trên những chiếc khung nhỏ bằng cây cành được hong khô trên bờ lò sưởi tỏa ra một mùi thú hoang và mùi da cũ kỹ.

Một đêm anh thức giấc vì những tiếng kỳ cọ vào tường nhà. Có ai vừa bước, hình như thế, vừa tựa vào vách gỗ và cửa luôn nữa. Hoảng sợ mà không muốn thú nhận, anh quay người vào vách và cố ngủ. Mấy ngày sau, anh nghĩ lại đến bước chân viếng thăm về đêm hôm ấy. Điều khó tránh khỏi là sự có mặt của anh ở Canada sớm muộn gì cũng bị lộ. Khói bốc lên từ lò sưởi của ngôi nhà nhỏ nó tố giác anh cho mọi người xung quanh. Nhưng làm thế nào khỏi đốt lửa? Anh tự trách mình hèn nhát. Nếu được viếng thăm lần nữa, nên đương đầu còn hơn, và tìm cách tính chuyện với kẻ lạ còn hơn bị tố cáo.

Nhiều tuần lễ trôi qua lặng lẽ. Mùa thu kéo dài và tưởng chừng thời gian lưỡng lự tiến vào đông. Tuy nhiên, một đêm, tiếng bước chân nặng nề và tiếng động khẽ quanh nhà vùng Canada lại đánh thức Tiffauges. Anh bật dậy và tiến ra áp sát vào cửa. Bên ngoài trở lại im lặng. Im lặng bỗng xé tan vì một tiếng khò khè làm Tiffauges lạnh hết xương sống. Tiếp theo là một tiếng kỳ cọ vào cửa. Tiffauges vụt mở ra, và lùi bước lảo đảo trước một con quái vật đang đứng ngáng ở cửa. Con thú vừa là ngựa, là trâu, là nai cùng một lúc. Nó bước tới một bước và lập tức bị ngăn trở vì bộ sừng to tướng, phần mút của các sừng bè ra và có răng cưa đụng tới trần cửa. Con thú ngước đầu lên, chìa tới Tiffauges chiếc mõm to, tròn, môi trên của nó he hé hình tam giác phập phồng nhè nhẹ như đầu mút của chiếc vòi con voi. Tiffauges có nghe nói tới những đàn con mê còn lảng vảng ở phía bắc của vùng Đông Phổ, nhưng anh thảng thốt trước khối lượng kếch xù của bộ lông, bắp thịt và sừng đang lăm le lấp đầy cả ngôi nhà nhỏ. Cái môi kia đang chìa tới anh, nó tràn đầy vẻ xin xỏ cho nên anh bước đi lấy khúc bánh mì trên bàn và chuồi tới con mê. Con vật đánh hơi khịt khịt và ngoạm mất. Kế đó cái hàm dưới như quẹo hẳn sang một bên, và một màn nhai ngấu nghiến chầm chậm và công kỹ bắt đầu. Con mê chắc phải hài lòng trước món quà tặng, nó lùi bước và biến mất trong bóng đêm, bóng dáng nó vụng về và nặng nề mà vẻ dị dạng và đơn độc trông thật đáng thương.

Như thế là hệ động vật miền Đông Phổ vừa cắt cử đại diện đầu tiên đến với Tiffauges, và đó là một con thú nửa thực nửa hư thoát ra từ những khu rừng mênh mông nguyên sinh của tiền sử. Anh thức chong chong đến khi trời mờ sáng, cuộc ghé thăm ấy đưa anh trở về điều đinh ninh kỳ lạ luôn luôn ấp ủ trong anh là mình mang những căn nguyên khó dò, một gốc rễ tưởng chừng đâm sâu vào thời gian mịt mùng.

Từ nay, mỗi lần theo địa đạo phủ cỏ để đến vùng Canada, anh mang theo vài cây cải cho con mê. Một hôm con thú đến lều muộn hơn, anh tha hồ quan sát nó qua ánh bình minh. Nó vừa uy nghi vừa thảm hại, bướu vai nó u nần, cao hai thước, trên chiếc cổ ngắn phình ra mảng đầu to tướng với đôi tai như tai lừa và bộ sừng vừa nặng vừa thô, bộ mông xương xẩu được chống đỡ bằng những cẳng cà khêu chệch choạc. Nó đang gặm những bụi cây ỏng ảnh, và phải lớ ngớ dạng chân trước ra để chạm xuống đất vì cổ quá ngắn. Kế đó, mồm nhai trệu trạo, nó ngẩng tảng đầu lên. Bấy giờ Tiffauges nhận ra hai vảy cá trắng phủ lên đôi mắt nho nhỏ của nó. Con mê vùng Canada này nó mù mắt. Đến đây Tiffauge hiểu ra bộ tịch cầu xin, lối đi đứng vụng về, vẻ chậm chạp như kẻ thụy du, và vì anh cận thị nặng, anh cảm thấy mình gần gũi với con thú khổng lồ u ẩn.

Một buổi sáng, một tiết lạnh thất thường khiến anh thót người. Qua khung cửa sổ trắng xóa, ánh sáng tràn vào sống sượng khác thường. Anh cảm thấy mở cửa khó khăn vì vướng một chướng ngại vật nhích động được. Anh lùi lại chóa lóa. Bóng đêm ẩm ướt đầu hôm biến thành cảnh tuyết và nước đá lóa ánh mặt trời trong cảnh vắng lặng mềm như bông. Nỗi vui tràn lòng không phải chỉ vì thích thú trước cảnh thần tiên sắc trắng luôn luôn làm dậy dàng con tim trẻ thơ của anh. Anh tin rằng sẽ có một sự thay đổi sẽ rộ lên trên dải đất nước Phổ này thế nào cũng báo trước cho anh một chặng đường mới cùng những phát hiện có tính quyết định. Ngay từ những bước chân đầu tiên phập sâu vào tuyết, điều tin tưởng của anh được khẳng định – đành rằng một phần nhỏ thôi, nhưng có ý nghĩa – trong các dấu chim, dấu loài gặm nhấm và thú nhỏ ăn thịt như các nét tốc ký tinh tế giao qua giao lại trên trang giấy trắng mở ra dưới chân anh.

Anh cầm lại tay lái chiếc Magirus mà người ta lấy dây buộc bánh vào nhau, và anh lái đi trong tiếng lẻng kẻng và tiếng bánh xe trượt đi giữa một cảnh vật được mùa đông tô đậm các sắc thái. Những nét đơn sơ được thu rút tối đa, những vệt đen thì hằn nét mực tàu vào dải bình nguyên bao la trắng phau, nhà cửa lún vào cả khối bông gòn được đùn nhẹ lên, luôn cả người ta, đầu phủ kín, chân đi ủng, cũng lẫn lộn vào nhau.

Một hôm anh cho lên xe rồi đưa về nhà một gã nông dân đang lạch bạch giữa mấy ụ tuyết bên đường, anh được mời vào nông trại uống một cốc rượu. Lần đầu tiên anh bước vào nhà dân Đức, và nỗi lúng túng của anh – một cảm giác vừa khó thở vừa đột nhập tội lỗi vào chỗ riêng tư – nó khiến anh thấy ra mình đến độ như người rừng, do chiến tranh, tù tội và có lẽ do khuynh hướng tự nhiên của anh nhiều hơn cả. Giá như một con sói, con gấu lạc bước vào một phòng ngủ cũng cảm thấy hồi hộp đến mức như thế này.

Anh được mời ngồi xuống lò sưởi với họng lò to tướng được trang trí bằng giấy hồng ren tua đỏm dáng và trông vui mắt nhờ vô số kỷ niệm, hình cưới, dấu thập ác trên nền nhung lửa lựu, bó hoa la văng khô, hộp bánh có thắt dải và vòng dây hoa bằng cành thông điểm bốn ngọn nến. Anh được ăn mỡ da có mùi bồ hóng từ lửa than bùn, ăn lươn xông khói, phó mát lỏng đựng trong hũ điểm thêm những hạt a-nít, bánh mì đen – bánh mì làm bằng lúa mạch đen nguyên chất – và được uống rượu Pillkaller, loại rượu từ một thứ hạt ngang phè như lấy từ ván gỗ ra. Vẫn tưởng làm vui lòng khách, chủ nhân nhắc lại kỷ niệm thời gian mình chiếm đóng ở Douai năm 1914, và kết luận bằng lời rủa sự nghiệt ngã của chiến tranh. Tiếp theo là súng ống xếp lại đặt lên giá bỏ vào tủ kính tạo nên cơ hội cho ông say sưa kể lại những chuyến đi săn lừng lẫy trong các khu rừng Johannisburg và Rominten với những đàn nai thần kỳ, trong rừng Elchwald ở mạn bắc, nơi đây dung đăng dung dẻ từng đàn mê, vụng về mà oai vệ, bên bờ các hồ ao có từng đàn thiên nga màu đen đáp xuống.

Chất men khắc sâu thêm trong con người Tiffauges cái nhìn cách không, cái nhìn có tính tự biện và tách bạch mà anh tự gọi là “thiên nhãn”, và cách nhìn này cho thấy thích hợp hơn cả để đọc ra những đường chỉ của định mệnh. Anh hiện đang ngồi cạnh một chiếc cửa sổ có hai lớp dọc ngang từng ô nhỏ, giữa hai sườn khung cửa là những thân cây leo khẳng khiu. Một trong những ô nhỏ này đóng khung vừa vặn cả một vùng phía dưới của ngôi Wildhorst với những ngôi nhà quét vôi lên tới cửa sổ của tầng lầu rồi đóng gỗ tiếp tục lên tận mái nhà, với ngôi nhà thờ dễ thương có tháp chuông bằng gỗ, với khúc ngoặt của mỗi con đường mà mắt anh trông thấy một bà già kéo theo một em bé trên chiếc xe tuyết, một đứa con gái nhỏ dùng cành cây lùa một đàn ngỗng đang trì ước, một chiếc xe với các súc thông do hai con ngựa kéo. Và bấy nhiêu thứ, thu gom trong một ô vuông mà đường cạnh là ba mươi phân, trông thật rõ ràng, thật rõ nét, đặt thật đúng chỗ, khiến cho anh tưởng như đã thấy đâu từ trước trong một vùng lung linh bất định mà nay một sự chấn chỉnh chi li hơn vừa sửa đường nét ngay ngắn lần đầu tiên.

Chính trong chiều hướng này phát sinh ra cho anh câu trả lời đối với câu hỏi mà anh đặt ra cho mình kể từ khi qua khỏi sông Rhin cho đến nay. Bây giờ anh rõ mình từ xa xôi đến hướng đông bắc này tìm kiếm cái gì: Dưới ánh sáng miền Cực Bắc lạnh lẽo và thấm sấu, tất cả các biểu tượng đều nổi lên bằng một ánh sáng không đâu bằng. Đối nghịch lại với nước Pháp, một vùng đất đại dương, lẩn trong mù, với đường nét nhạt nhòa vì vô số cung bậc giảm thiểu, nước Đức đại lục, rắn rỏi hơn và bộc bạo hơn, là đất nước có đường nét ấn sâu, giản lược, cách điệu, làm cho người ta dễ đọc và dễ nhớ. Ở Pháp, mọi thứ nhòe ra thành ấn tượng, thành động tác mơ hồ, thành những toàn bộ dở dang, dưới những nền trời vẩn đục, trong vô vàn tình cảm đằm thắm, người dân Pháp kinh sợ chức vụ, kinh sợ bộ đồng phục, cái vị trí đặt định chặt chẽ trong một cơ quan hoặc một hệ thống giai cấp. Gã bưu tá người Pháp xuề xòa nhưng luôn luôn muốn nhắc nhở rằng y cũng vừa là người cha trong gia đình, là cử tri, là kẻ chơi bun. Còn gã bưu tá người Đức thì cứng khựng trong bộ đồng phục, là kẻ hoàn toàn nhập vai không hề sai chạy. Và cũng như thế, bà nội trợ người Đức, cậu học sinh người Đức, gã xoi ống khói Đức, ông doanh gia Đức, là những người nội trợ hơn, học sinh hơn, xoi ống khói hơn, doanh gia hơn là những người Pháp đồng đẳng với họ. Và trong khi cái triền dốc dở hơi của Pháp dẫn tới tình trạng tồi tàn của bao nhiêu màu sắc tàn phai, của bao nhiêu tấm thân không có xương sống, những buông xuôi đáng ngại – đụng tới chỗ ve vãn, dơ bẩn, hèn nhát – thì nước Đức luôn lăm le trở thành cái sân khấu với những nhân vật mím môi trợn mắt hoặc thu tóm trong vài ba nét, cứ xem quân đội Đức là đủ biết, một bộ hình mỹ miều tập trung những bộ mặt của trường tàn sát, từ viên chuẩn úy đầu bò cho đến vị sĩ quan kính một mắt và thân hình bó cứng. Nhưng đối với Tiffauges là người mang một bầu trời điểm toàn những ẩn dụ và những nét chữ bí hiểm không ngừng vang vọng những lời nói không rõ tiếng và những tiếng gào khó hiểu, thì nước Đức lộ ra như một miền đất hứa, như xứ sở của những tinh chất thuần túy. Anh thấy ra nước Đức qua những câu chuyện kể của người chủ trại và giống như hình ảnh đóng khung trong ô cửa sổ với những ngôi làng láng lẫy như những món đồ chơi, có dán những tấm nhãn là các tấm biển có hình tổ vật, được xếp lên trang ngay ngắn trong một cảnh trí màu đen trắng, với những khu rừng có tầng bậc như những ống thông trong giàn đàn gió, với lũ đàn ông đàn bà không ngừng trau chuốt những đặc hưởng do nhiệm vụ của mình mang lại, và nhất là với hệ động vật mang tính biểu hiện này – ngựa vùng Trakehnen, nai vùng Rominten, mê vùng Elchwald, nhưng đám chim di phủ kín đồng bằng với đôi cánh và tiếng kêu vang – một hệ động vật hàng đầu có chỗ đứng trong các huy hiệu của mọi người Phổ trưởng giả.

Tất cả bấy nhiêu thứ đều được định mệnh ban bố cho anh, giống như trước đây là trận hỏa hoạn ở trường Saint – Christophe, là cuộc thế chiến kỳ cục và sự thất trận. Nhưng kể từ khi anh vượt sông Rhin, các lễ vật nhuốm màu sắc thiên cơ không còn nhắm đập vào nền tảng của một trật tự mà người ta ghê sợ chúng trở nên rõ rệt và tích cực. Mấy con chim bồ câu hồi ở Alsace đã là một báo hiệu – một báo hiệu sao mà nhỏ nhoi và gần như buồn cười thế, nhưng là một kỷ niệm êm ái – một báo hiệu cái duyên cơ dành cho anh. Cái vùng Canada đã minh định rằng vùng đất của anh, dù mới mẻ, dù trinh nguyên, vẫn nuôi những ký ức sâu xa âm thầm của anh về thời tuổi nhỏ. Và nay anh phát hiện cả vùng Đông Phổ là một quần tinh đầy ẩn dụ và phần anh là len lỏi vào mỗi một ẩn dụ ấy, chẳng phải như chiếc chìa khóa vào trong ổ khóa, mà như đốm lửa trong từng chiếc đèn. Bởi lẽ không những anh mang thiên chức diễn giải bao nhiêu điều tinh yếu mà còn phải khuếch sung chúng nó lên, làm sao cho công lực của chúng nó tỏa sáng. Anh sẽ diễn giải trái đất này theo cách nhìn của mình và đồng thời đưa trái đất đạt tới một hiệu năng ở tầm cao xưa nay chưa đạt tới.

Ể ĐẦM LẦY Nguyên tác: Les Rois des Aulnes ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 1997
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Michel Tournier

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.