Những trận đánh cuối cùng của năm 1944 nhắm vào thành phố Goldap, ở đông Phổ, khoảng trăm cây số phía Đông Bắc Kaltenborn. Ngày 22 tháng mười, các toán quân Tuyến thứ ba Bạch Nga do tướng Tcherniakovski chỉ huy đánh chiếm từng ngôi nhà một, đến ngày 2 tháng mười một, binh đoàn thiết giáp 29 của tướng Decker phản công tái chiếm. Từ đó cho đến lần tiến công của Liên Xô tái diễn ngày 13 tháng một năm 1945, có một thời gian lắng dịu cho phép dân chúng nhận định nguy cơ đang rình rập và đánh giá công lao đổ ra của chính quyền quốc xã. Nói tới chuyện hồng quân có thể xâm chiếm Đông Phổ, tức là phạm tội chủ bại và phản quốc. Đoàn người di trúc của miền Đông dài dằng dặc mà quân Liên Xô đẩy đi phía trước – trước hết là nông dân Bạch Nga, rồi dân Lituanie, dân chúng vùng đất Mêml, và cuối cùng là lớp dân Đức đầu tiên của Đông Phổ - vẫn không được thường dân Đức xem như là một lời cảnh cáo. Tại các quảng trường ở làng và trong các công viên thành phố, người ta nom thấy nhiều công dân nhởn nhơ đu dây yên tâm đã thu dọn hành trang chờ ra đi. Vì vậy cho nên hồng quân ngỡ ngàng bắt gặp dân các vùng bị quân đội bỏ rơi. Lính Liên Xô thuật lại rằng họ xông vào các trang trại và thấy đầy đủ gia súc trong chuồng ngựa, chuồng bò, thấy lửa đang nổ giòn trong lò sưởi, thấy xúp đang sôi trong nồi. Trên đường đi nhỏ hẹp, ít ỏi của vùng đất, trong cái lạnh cực Bắc giữa đông, một biển người man dại nhập nhằng những thức dân di trú của mọi quốc tịch đang tuôn chạy về phía Tây xen lẫn vào đoàn xe quân đội Đức ngược lên tuyến trước hoặc lui về hậu phương.
Dù thông thường không để ý đến những biến cố thế giới bên ngoài, Tiffauges hai lần có dịp làm chứng nhân của màn di trú thảm hại này. Đầu tiên là trước Noel 1944 ít lâu trên con lộ từ Arys đến Lyck. Lúc bấy giờ trong khi một đoàn quân nhân tiến chầm chậm về Lyck thì đoàn người chạy giặc đi ngược chiều và có vẻ chùn chân vì lạnh. Chắc là người bị dồn ún lại phía Arys, và tưởng chừng như các xe gỗ chuyên chở bị rã đám vì ngừng tiến, vì những người lợi dụng nghỉ chân để kiểm điểm thiết bị cho ngựa và cột lại các bao bị, trong khi đó trẻ con tản qua bờ đường và vào các bụi cây cạnh đường. Tiffauges ghì ngựa ngược dòng người đi về hướng Arys, và sau một đoạn đường một cây số rưỡi bắt gặp nguồn gốc tắc tỵ mà cách đó khá xa đã được báo trước do một đùm người vừa dân vừa quân xúm xít quanh hai chiếc xe húc đầu vào nhau. Một giàn xe quân sự trượt một đoạn dốc ngắn đóng băng không may đâm đầu vào một cỗ xe nông dân mà càng xe này đâm như ngọn lao vào giữa ức một con ngựa của xe quân sự. Con vật ngắc ngoải khuỵu gối, còn được níu giữ nhờ con ngựa xe của nông dân phía bên trái – và cả hai con đang vùng vằng rướn người để thoát ra khỏi nút bùi nhùi.
Tiffauges xưa nay bị ấn tượng sâu đậm vì quang cảnh di dân. Anh tưởng tới cảnh ấy của quân Pháp hồi tháng sau năm 1940, so ra thì vụ quân Pháp có vẻ như một chuyến ngao du trên biển – và anh lẩm nhẩm lời cầu trong Kinh thánh: Các người hãy cầu xin đừng chạy loạn trong mùa đông. Hình ảnh con ngựa bị xiên giữa ức không xóa nhòa trong anh, bởi lẽ anh không khỏi ngờ ngợ nhìn ra qua đó một biểu tượng – rất tiếc là khó hiểu – hoặc, nói rõ hơn, một hình ảnh của huy hiệu lạ lung, nhưng không phải là không gần gũi với hiệu kỳ của Kaltenborn. Khi dòng người trốn chạy có thể chuyển động trở lại, hình ảnh mà anh mục kích. Trái lại, không có gì là dáng dấp biểu tượng nữa hết mà hoàn toàn là hình ảnh khủng khiếp lõa lồ hơn cả: một cái xác người dính cứng vào lòng đường đóng băng, bị bẹp gí ngàn vạn lần, lép kẹp, bị nghiền dưới xích xe tăng, dưới bánh xe cam nhông, bánh xe bò, hoặc dưới chân giày thình thịch mà thôi, bởi lẽ xác chết không dày hơn tấm thảm, một tấm thảm tưởng như được cắt vanh theo hình người, ta còn mơ hồ phân biệt nét người, một con mắt và mấy chùm tóc.
Mấy hôm sau, trên con đường từ Lotzen đến Rhein, anh lại phải bắt gặp một cảnh gây điên đảo sâu đậm hơn cho anh nữa. Anh nom thấy họ từ xa đi lại, tất cả đám tù binh ấy, đầu quấn miếng khăn quàng cổ và đội chiếc mũ chốc mào của quân nhân, hai bàn chân quấn bằng những miếng băng len hoặc giấy báo cột lại thành ủng, họ dùng một sợi dây kéo theo những chiếc va li bằng tôn hoặc bìa cứng được biến thành những loại xe trượt tuyết nhờ gắn bánh xe gỗ. Họ đông hằng trăm, có lẽ đến hàng nghìn, chẳng có vẻ gì là chăm chú câm lặng như đám chạy loạn kia, mà trái lại chuyện trò đùa bỡn, và đong đưa bên hông những chiếc túi rết căng đầy lương thực. Ngay khi họ đột hiện, Tiffauger rõ tình hình, nhưng câu nói đầu tiên bằng tiếng Pháp lọt tai anh gây đau đớn cho anh không kém gì một chiếc gai đâm. Anh mở miệng chào họ, hỏi họ, nhưng một cái gì đè nặng giống như một nỗi tủi nhục chận ngang cổ họng anh. Không ngờ bùi ngùi bỗng nhớ đến gã tài xé Ernest, nhớ Mimile quê ở Maubeuge, nhớ Phiphi ở Pantin, nhớ Socrate, và nhất là gã điên Victor. Tựu trung chẳng có gì ngăn cấm anh nhập bọn với những con người này đang vui vẻ cất bước trở về nước Pháp và sẵn sang dong ruổi gần hai nghìn cây số đường đất bị chiến tranh cày xới, giữa mùa Đông, với những chiếc ủng bằng giẻ rách và giấy… Anh cúi nhìn đôi ủng của mình, đôi ủng đen, đẹp và mềm của quan chức Kaltenborn, mà sang nay anh tự tay cho xi đánh bóng. Đám tù bình giờ đây bước qua trước mặt anh, và họ hạ giọng, cho anh là người Đức, ngoại trừ một gã đen nhỏ người trông giống Phiphi nhìn anh nói oang oang:
- Chào lính Đức! Quân Liên Xô cùng khắp!
Nét tính bỡn cợt của dân Paris ấy chưa chi đã vụt hiện ra trong phút gặp gỡ thoáng qua với người đồng hương bỗng nhiên nhắc nhở cho Tiffauges thấy cái khoảng cách khó vượt qua nổi luôn luôn chia cách anh – con người nặng nề, lằm lì và buồn buồn – với đám bạn dễ mến. Anh quay ngựa lui, con Râu Xanh đang lộ vẻ sốt ruột và gục gặt đầu lia lịa, và anh trở về Kaltenborn. Anh quên nhanh buổi bắt gặp ấy, vì anh từ nay đã thuộc về cái nước Phổ đang đổ nhào quanh anh, nhưng cho đến khi về tới lâu đài anh vẫn bị ám ảnh theo hình bóng của vị Chúa Tể Đầm Lầy đang hụp xuống cái bãi lầy và được một lớp phù sa dầy dặn che chở khỏi mọi sự tiếp chạm, tiếp chạm của người và của thời gian.
—★—
NTVBTT. Sáng nay tại Gumbinnen. Trước cửa hàng đóng giày, một hàng người chờ chực, đàn bà, ông lão, mỗi người cầm một mẩu lốp xe hơi. Bên trong, mọi người cởi giầy và chờ thợ đóng miếng cao su cũ làm thành đế mới cho giày tàng …
Quyền uy của tôi càng tăng, tôi càng ngấp ngáy thích thú tham dự vào sự rệu rã đồng thời của Đức quốc. Bọn nhỏ được di tản về hậu phương. Người lớn thì kêu gọi trở thành trợ thủ cho pháp phòng không, tiếp theo đó các trường học lần lượt đóng cửa hết trường này đến trường kia. Chỉ có những bưu cục tại các huyện lỵ là còn hoạt động, và gửi thư hoặc gửi bưu phẩm đều phải đi hàng cây số. Trong các sảnh đường, một ông già làm việc thay cho hương trưởng, cho phụ tá và luôn cho thư kí, và ông chỉ làm những phần hành tối cần, trong các phần hành này – bên cạnh việc phân phối lương thực và việc thông báo cho gia đình có thân nhân hy sinh ở chiến trường – vị Tổng trấn buộc phải thêm việc cưới xin. Nước Đức đang suy sụp vẫn muốn bảo đảm việc truyền giống trong tinh thần hợp pháp. Chẳng còn có một mống bác sĩ nào trong vòng trăm cây số.
Đôi khi có nghe người ta than van đời sống phức tạp ra. Kỳ thật, đời sống đơn giản thêm thì có, nhưng, đơn giản thêm thành ra khó khăn, chì chiết thêm. Những vòng vận hàng – hành chính, thương mại cùng các thứ khác – của đời sống hiện đại là bấy nhiêu thứ nho nhỏ co giãn làm giảm nhẹ bao nhiêu ma sát giữa người với sự vật. Giờ đây dân chúng càng ngày càng đụng đầu với thực tế thô sơ.
Bởi nó xiêu đổ cho nên cái sứ sở này nó càng ngày càng chạm đến tôi gần gặn hơn. Tôi trông thấy nó ngã trần truồng dưới chân toi, yếu đuối, rũ rã, rơi vào tình trạng nghèo khó cùng cực. Tưởng chừng như, chao đảo. nó phô bày ra cái đế của nó, trước đây luôn luôn được chon lấp, nhưng bỗng đâu bị lật lên, phơi ra ánh sáng. Như một con sâu bọ bị va vấp, quờ quạng sáu chân giữa trời với chiếc bụng trắng mềm, ngửa lên trời, bất đồ mất chỗ trên mặt đất gần như kề đen kín và che chở cho nó. Ta tưởng như ngửi được mùi đất ẩm và mùi thối rữa còn sống đang tẩm vào cái bụng xanh mét của quốc gia đang bị đảo lộn. Yên nghỉ nơi đây là cái thân xác to lớn không tự vệ của nước Phổ, luôn luôn sống nóng, nhưng bày ra những phần mềm và dễ phạm dưới chân tôi. Nhưng vẫn phải cần như vậy mới bắt sứ sở này cùng những đứa con của nó quy phục những đòi hỏi yêu thương cấp thiết của tôi.
—★—
Vị chỉ huy tình báo Raufeisen biến dạng tám hôm. Một đêm ông trở về dẫn đầu đoàn cam nhông quân đội, đoàn xe trút xuống sân lâu đài ba nghìn khẩu phóng pháo Panzerfaust, và một nghìn hai trăm quả mìn chống chiến xa. Panzerfaust là những khẩu phóng pháo nhỏ, cá nhân, vô cùng kiến hiệu, dù là nhẹ và đơn sơ, những khẩu này xuất hiện đúng lúc, như là khí giới lý tưởng cho thay sung nghĩa quân lẻ tẻ chống trả thiết giáp xâm lăng. Trái pháo không có thuốc sung, khi nổ chạm vào lớp sắt, phóng ra một vòi khí nóng và một hòn sắt chảy với tốc độ vài ngàn thước một dây và vài ngàn độ nóng. Ở lỗ sắt thủng, sắt chảy bắn vào xe, làm bị thương hoặc giết người trong xe, và gây ra những làn hơi mỡ và hơi xăng lẩn quất trong vòm xe. Nhưng khẩu phóng pháo này chỉ có tầm tám mươi thước thôi, và các huấn luyện viên nhấn mạnh đến việc người bắn can đảm chừng nào tốt chừng ấy cần để cho mục tiêu đến thật gần. Mười lăm thước, đó là khoảng cách lý tưởng, người ta nói đi nói lại như vậy, táo bạo một cách điên rồ buộc ta nhìn thẳng mặt chiếc tăng nặng một cách lạnh lùng gần giống như vô tri.
Bởi thế cho nên, trong những buổi lý thuyết diễn ra trong một gian phòng của lâu đài có đem bảng đen đến, ông Raufeisen dùng đủ lời để thuần hóa con quỷ sắt trong đầu óc đám trẻ. Ông dằn giọng quả quyết:
- Chiếc xe thiết giáp nó điếc và đui một nửa phần. Các bạn nghe nó. Nó thì chẳng nghe gì. Tiếng động cơ ngăn cản luôn cả người trong xe phân biệt các tiếng ầm vang là tiếng gì và từ đâu tới: từ khí giới tự động, hay pháo binh, máy bay?
“Nó trông không rõ. Các bộ phận nhắm bị giới hạn vì các góc chết quá lớn bít cả vùng gần chung quanh chẳng hạn. Xe tiến tới nhô lên thụp xuống còn làm cho việc quan sát hóa ra sơ sài. Ban đêm trườn đi buộc phải mở nắp, mở cửa thông.”
“Thiết giáp không thể xả súng khắp nơi một lúc, bắn gần sát cũng không được. Các góc chết cộng thêm ít nhất là ba mươi giây để cho pháo của tháp quay đủ vòng cũng đủ cho phép anh bộ binh quyết tâm hành động không sợ nguy hiểm. Góc chết của đại bác xê xích từ bảy đến hai mươi thước, và góc chét của khí giới tự động từ năm đến chín thước tùy loại thiếc giáp. Sau cùng là thiết giáp khó lòng nhả đạn chính xác khi chuyển động. Muốn tác xạ chính xác bằng đại bác thì phải dừng lại, mà dừng lại là anh khinh binh đề phòng ngay.”
Kế đó ông kể ra sáu nhược điểm của thiết giáp mà xạ thủ cần tập trung nhắm bắn, và đó là dây chuyền chuyển động, mặt dưới của xích, hệ thống thông hơi, động cơ, họng tháp và bộ phận nhắm.
Theo lời ông nói, bọn trẻ hình dung chuyển động một con thú thần kỳ, dũng mãnh nhưng chậm, ầm ầm, vụng về, cận thị và điếc đặc, và chúng nó so sánh con thú này với con thú săn màu đỏ màu đen mà chúng có thói quen săn bắn. Loại thú này tất nhiên nguy hiểm hơn con nai, nhưng dễ đến gần và dễ hạ gục hơn nai, tựu trung là một loại heo rừng cao cấp, thế thôi. Và chúng nó cười khoái chí tưởng tượng những chuyến săn lý thú nay mai.
Buổi tác xạ thực sự bằng sung Panzerfaust diễn ra ở truồng Eichendorf, trên các mục tiêu là những tấm tường nhỏ bằng gạch mô phỏng thô kệch hình dáng các chiến xa, nhắc nhở cho chúng nó một thực tế khô khốc hơn. Tiếng nổ ban đầu, cái vòi lửa vọt ra sau gáy của xạ thủ, tiếng réo của hòn pháo chúi đầu xuống tuyết những lúc không nổ vì chạm đất dưới một góc khép quá nhỏ, rồi phát nổ chạm đích, cãi lưỡi bằng lửa làm tung tóe gạch ở trường như hoa giấy – đám trẻ mau mắn hiểu ra rằng người ta vừa tặng cho chúng nó một món đồ chơi tàn độc và một thời kỳ mới đang mở ra cho chúng nó. Thêm vào đó, tai nạn đầu tiên xảy ra hai hôm sau, và làm mất mạng một Thanh niên tên Hellmut von Bibersee.
Theo nguyên tắc nòng không giật lùi, đạn phóng ra phân làm hai áp lực cân phân, một ta phía trước, phóng pháo, và một ta phía sau, tản ra trong không khí. Cái nguy hiểm chính yếu đối với xạ thủ và trợ thủ là ở lưỡi lửa từ ống phóng hộc ra, về phía mà ta tưởng an toàn. Nếu cái lưỡi lửa này chạm vào một chướng ngại vật gần kề, nó lại bắn lui thành những vệt chết người đối với xạ thủ. Nhưng thứ nhất là viên trợ thủ đứng sau xạ thủ là ở trong tầm hiểm nghèo hơn cả, vì vòi lửa có thể giết người trong vòng ba thước.
Khi Tiffauges nghe tin Hellmut hoàn toàn bị đứt đầu vì vòi lửa thụt hậu của khẩu Panzerfaust, và thi thể đặt trên cáng trong nhà nguyện của lâu đài, anh lập tức đến ngồi một bên thi thể và trong một phần đêm anh ngồi đó một mình.
—★—
NTVBTT. Trước khi ánh sáng đầu tiên của ban ngày hiện ra, tôi không thể nào rời mắt khỏi tấm thân gầy guộc và như thể được vẻ bằng mực xạ thân gầy guộc và như thể được vẽ bằng mực xạ trên tấm vải trắng lót cho nó, một toàn thể xương xẩu lô nhô đó đây mấy mẩu cơ bắp như hình chạm nổi, như những đốm cây gửi giữa những cành trụi lá. Cái hình ảnh kỳ quặc này cho ta cảm nhận ra chẳng còn có gì là hình người trong cái thi hài cụt đầu này, không phải như thế sao? Chẳng có gì là hình người, có nghĩa là chẳng có gì liên quan giữa nó với những thứ xúm xít của người lớn. Hellmut chẳng còn gì là Hellmut, và chẳng từ đâu đến đây hết. Đây là tinh chất của sinh vật từ trên trời rơi xuống như một viên thiên thạch, và được chỉ định tan hòa vào đất. Cái chết đã giúp cho da thịt của nó đầy đặn mà nó không có được khi còn sống. Các mút cơ bắp, những sợi thần kinh, tạng phủ, mạch máu, tất cả cái guồng máy ẩn mật chuyền hơi nóng và chan rưới cho nó đã tan hòa thành một khối đồng chất rắn rỏi chỉ còn có hình dáng và trọng lượng nữa mà thôi. Ngay cả lồng ngực cũng được nâng dậy giống như được thở hít vào một hơi dài, và phần hõm mềm mại của vùng bụng cũng đầy đặn và tuyệt đối không có gì là nhấp nhô. Tất nhiên điều suy tư của tôi vẫn quanh quẩn ý niệm trọng lượng – cái trọng lượng chết – và cử chỉ bao trùm lên phải là cử chỉ bồng bế.
Tôi xưa nay ngờ rằng cái đầu chỉ là một quả bóng nhỏ căng phồng lên nhờ thần khí (khí là gió) nâng thân hình lên, giữ cho thân hình ở thế đứng thẳng, và cùng một lúc rút ra từ thân thể cái phần lớn nhất của trọng lượng nó. Do cái đầu, thân hình được thần khí hóa, phi nhục thể hóa, được tiêu trừ đi. Trái lại, bị mất đầu, thân hình rơi phịch xuống đất, bỗng nhiên bị trẻ về cho một khối thịt kếch xù, đèo thêm một sức nặng không tưởng nổi. Tình trạng sinh đôi vốn đi kèm với sự phân chia thần khí cùng với sự nặng thêm về nhục thể đã cho tôi một lối giải trình tương đối của hiện tượng ấy mà cái chết hoàn trả lại cho nó cái dạng tuyệt đối. Do đó mới có những hình khối như được đầy đặn thêm, mặc dù thân thể này bất động, phục phịch, mất hết co giãn.
Tôi bồng thằng bé song sượt lên tay, mắt nhìn chăm chăm vào vết thương phủ hết cổ. Lập tức, dù tôi có sức, và dù tôi mềm lòng, con người tôi lảo đảo dưới sức nặng. Tôi long trọng quả quyết rằng cái hình hài không đầu này nặng gấp ba gấp bốn hình hài sống.
Còn sự xuất hiện thần dược mang bồng thì nó đưa tôi len tới tầng trời đen đang rung chuyển từng giây một theo tiếng đại bác của thời Mạt thế.
—★—
Trong phòng hơi ngạt để sưởi ấm. Đó là những phòng giả làm phòng tắm. Người ta bắt tù nhân cởi hết áo quần rồi dặn họ nhớ chỗ để lấy mặc lại. Phát cả khăn tắm luôn nữa. Kế đó, nhét tối đa vừa đàn ông vừa đàn bà vào trong phòng.
Sau cùng, lính dùng vai đẩy họ vào để đóng cửa lại, và quẳng trẻ con lên đầu bọn người lớn. Mấy búp sen đều là giả, Cháu đã trông rõ các búp sen có lấm chấm chứ hông thực sự thông lỗ. Mở cửa ra sau khi xả hơi, những người nào khỏe nhất đã đạp đầu những người khác để vùng vẫy khỏi khí ngạt chết người từ phía dưới đất xông lên. Như vậy là thành cả một đống người chất cao lên đến trần nhà, phía dưới là trẻ con đàn bà, phía trên cao là đàn ông khỏe hơn cả.
Dù được nhiều sự dễ dài nhờ nhỏ tuổi và nhiệm vụ của Đoàn di động, Ephraim tấtn nhiên không được mục kích mọi chuyện diễn ra tại thủ đô của tử thần. Nhưng nó có tai nghe ngóng, và tiếng đồn lan truyền nhanh trong trại. Epharaim được biết có khu vực B, nơi đây bác sĩ Mengele chuyên nghiên cứu y học trên đám tù binh. Theo lời nó nói với Tiffauges, thì Mengele say mê nghiên cứu vấn đề song sinh, và ông theo dõi nhưng đoàn xe nào mới đến để tiếp thu cho riêng mình những cặp anh em hoặc chị em có mặt trong đoàn. Là vì hiếm họa mới có thể mổ khám nghiệm so sánh cặp song sinh chết một lần, và hiển nhiên chỉ cậy tình cờ thì không bao giờ được một cơ hội tương tự. Cái tình cờ ấy, bàn tay của bác sĩ Mengele phụ giúp vào. Sau hết, người ta bảo ở Auschwitz có những thí nghiệm về người chết trong môi trường chân không thực hiên trên đám tù, nhằm tìm cách chữa trị những tác hại sinh lý do bất thần mất áp suất không khí bình thường trong trường hợp máy bay lên quá cao. Sinh vật người thí mạng được đóng vào một chiếc thùng nhỏ, trong đó người ta có thể tạo chân không bất cứ lúc nào. Do một lỗ tròn bít gương của thùng, ta trông thấy máu vọt ra mũi và tai của nạn nhân, trong khi các móng tay bấu sâu vào da trán và, bằng một động tác chậm rãi nhưng không kềm chế nổi, cày luôn cả lớp thịt trên mặt.
Ăm ắp một nỗi rùng rợn, Tiffauges hình dung lù lù hiện lên, qua lời kể hồi lâu của Ephraim, một Kinh Thành địa ngục ứng đối trong từng viên đá một với Kinh Thành đeo mang mà anh mơ tưởng tại Kaltenborn. Xứ Canada, sự may dệt từng sợi tóc, điểm danh, đàn chó ngao, nghiên cứu vấn đề song sinh và tỷ trọng khí quyển, và nhất là, nhất là những phòng giả làm phòng tắm, bao nhiêu điều anh sáng chế, khám phá đều phản chiếu trong tấm gương rùng rợn, bị đảo lộn và cháy sáng lên bằng lửa địa ngục. Anh còn phải tìm hiểu thêm rằng hai dân tộc mà bọn Đặc nhiệm đuổi mà cho đến tiệt chủng là dân Do Thái và dân gi-tan. Do đó, ở đây anh tìm thấy sự căm ghét ngàn đời được đẩy lên cao độc của các chủng tộc định cư chống lại các chủng tộc di trú. Do Thái và gi-tan, những dân tộc lang thang, đàn con của Abel, là những người anh em mà anh cảm thấy mình liên đới bằng trái tim, bằng tấm lòng mình, là những người gục ngã hàng đống ở Aushwitz, dưới những ngọn đòn hằn của thằng anh Cain đi ủng, đội mũ sắt và được tổ chức khoa học. Tiffauges thì thoát hẳn ra ngoài cái trại tử thần rồi.
Nếu Auschwitz là nơi tận cùng của cái chết đối với đa số tù nhân khi bước vào chiếc cổng có điểm khẩu hiệu mỉa mai kệch cỡm là Lao động là tự do, thì đối với một số người đó là bước ngoặc để từ đó được chuyển tới những trại khác, hoặc đến những cổng trường, nhà máy, tùy thuộc một guồng hành chính muốn trong cùng một lúc, và một cách mâu thuẫn, tiêu diệt họ và lợi dụng lao động của họ tối đa. Mùa xuân năm 1944, Ephraim ra đi với một đoàn xe mấy chiếc về hướng Lituanie quê hương nó, tại đây nó vào trại ở Kaunas. Ở lại đây ít thời gian thôi, vì ngay từ tháng tám, quân đội Xô Viết tiến đến gần làm cho trại di tản, và lại ra đi về hướng Tây Nam, lần này đi bộ. Đoàn người thảm thương lê gót từ trại tạm này đến trại tạm khác để cuối cùng đi xuyên qua tỉnh Angerburg, nơi Tiffauges vớt được Ephraim.
—★—
Chính quyền Đức quốc xã tìm cách trì hoãn tối đa một biện pháp đối với Đông Phổ chắc hẳn mang một ý nghĩa tượng trưng báo điềm gở: dời chuyển sang Tây Đức di thể của thống chế Hindenburg hiện đang đặt tại lăng ở Tannenberg giữa cờ xí của bao nhiêu tiểu đoàn Phổ mà thống chế từng chỉ huy. Việc ấy hoàn tất vào tháng một 1945, giữa lúc quân đội Xô Viết, sau khi ngưng chiến hai tháng rưỡi, ồ ạt tấn công các tuyến quân Đức. Ngày 13 tháng một, một đợt rét biến các hồ, đầm lầy, thành đường băng cho thiết giáp, hai lữ đoàn chiến xa hạng nặng được yểm trợ bằng ba sư đoàn bộ binh. Khu rừng Rominten bị bao vây và các nhà dù săn bắt bị đốt. Trong các cánh đồng tuyết phủ và trên các mặt ồ đóng băng, khi người ta trông thấy lóc cóc thong dong từng đoàn ngựa mắt loạn cuồng, bờm tung tóe, đùi ngực bên phải in vết sắt mang hình sừng con mê được cách điệu, người trong cả vùng hiểu rằng các trường ngựa hoàng gia ở Trakehnen đã bị dẹp. Ngày 27, khi quân Xô viết đến cổng thành Konigsberg, các đơn vị công binh Đức cho nổ các pháo đài và các Hang Sói của Hitler ở Rastenburg. Người ta thuật lại rằng ở Varzin, bà nam tước Von Bismark, dâu của vị thiết huyết tể tướng Bismark, khăng khăng không rời lâu đài và địa phận của vua ban cho vị chiến thắng trận Sadowa. Bà ở lại một mình với một lão bộc, sau khi chỉ yêu cầu đám người hầu hạ đào sắn chõ bà một nấm mồ trước khi bỏ đi, và người đàn bà mảnh mai gan dạ ấy, chờ đợi làn sống hồng quân và biết mình sẽ không sống sót.
Tuy nhiên, cuộc tiên quân Xô viết diễn ra theo lố chọc thủng càng nhiều nơi càng tốt và có khi trải rộng ra đến hàng trăm cây số hơn là theo một tuyến liền lặn quét hết cả vùng. Vô số cụm kháng chiến vẫn bám lại đằng sau quân đắc thắng và phải cố thủ bền gan nhất là vì Hitler một mực huấn luyện kháng chiến kỳ cùng và không đầu hàng. Vì thế cho nên đạo quân phía Bắc, cứ đóng ở Lettonie và đứt đoạn với Đông Phổ kể từ đầu tháng mười 1944. Được tiếp lương đường biển nhờ cảng Libau, phải cầm cự cho đến đình chiến. Pháo đài Konigsberg cũng chỉ đầu hàng ngày 10 tháng tư, và lúc quân lực Đức đầu hàng toàn diện ngày 8 tháng năm, nhiều ổ quan trọng còn cố thủ, như ở bán đảo Hela và ở bờ biển phía đông Dantzig.
Vai trò của các trường chính trị quốc gia trong những ngày này được quyết định do chỉ huy trưởng Heissmeyer, thuộc lực lượng Đặc nhiệm, ông này viết trong một thông tư ngày 2 tháng mười 1944 rằng gặp trường hợp quân địch đến tận nơi, thì các trường chính trị quốc gia vốn tọa lạc ở đồng bằng nên không thể trông cậy quân đội yểm trợ, và do đó phải dùng đủ biện pháp để biến trường chính trị thành những ổ kháng chiến tự trị. Không có gì bình thường hơn khi vị chỉ huy Konigsberg đặt thành đội ngũ một đơn vị thiếu niên lướng vướng theo chiếc nón sắt cứ chao xuống tận mắt sau mỗi phát đạn chúng nó bắn, và đối với đám này thì rượu và thuốc lá phân phát trước khi tấn công được thay thế bằng kẹo và sô cô la.
Đêm 22 rạng 23, một vầng sáng khổng lồ đỏ ối chân trời nom rõ từ sân thượng phía 1 Đông của Kaltenborn. Đó là thành phố Lyck đang cháy. Tiếp theo là quân lính tán loạn nườm nượp hay ngày hai đêm dưới lũy thành của Kaltenborn. Các chiến xa M-2 cũ kỹ từ đầu chiến tranh kéo theo sau bốn năm cam nhông đầy ắp thương binh, thở hào hển, lồng lên trượt xuống trên những vũng lội đóng băng. Những chiếc xe gắn bên hông loại BMW từ chiến dịch trên đất Pháp, những chiếc xe ca lột mất vỏ, những chiếc cày che bạt với mày con ngựa bù xù như gấu bước một bước là lắc lư cái đầu và thở ra hai vòi khói, sau cùng là các gã bộ binh rãi rác đang đẩy hành trang của mình trong mấy chiếc xe trẻ con, tất cả theo một thứ lớp bất di bất dịch trong mọi trường hợp tàn binh. Raufeisen có ý nghĩ cầm chân bọn Thanh niên trong cổ thành để chúng khỏi phải thấy tang thương của quân đội Đức.
Sau đó là khoảng trống im lặng. Cuối cùng, ngày 1 tháng ha, các thông tin cho phép vạch lên bản đồ cái đường chỉ mới của mặt trận, theo một đường đi từ Kulm đến Dantzig, băng qua Graudenz, Marienwerder và Marienburg, cách Kaltenborn hai trăm cây số về phía tây. Đến đây, cổ thành hiển nhiên bị tác ra khỏi hậu phương lột vào một cái túi tạm thời ngưng tiếng súng giao tranh.