Chúa Tể Đầm Lầy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 19 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2

❊ ❊ ❊

Ngày bắt đầu dài thêm ra, nhưng cái lạnh thì siết con người lại. Trừ phi dưỡng mãi bếp lửa phần phật trong lò ở ngôi nhà rừng, bằng không đêm xuống ở vùng Canada này trở nên một thử thách khá ngặt nghèo, và Tiffauges một mặt vừa bớt đến đây, một mặt thích thú cái thuần khiết kích thích sau khi chung đụng nhớp nháp trong lán trại. Một buổi sáng đang khi các ngôi sao vì giá rét cao độ đã trở thành những đốm nhồi bông rựa sáng lên giữa bầu trời tối, anh thình lình bị đánh thức vì một tiếng gõ cửa. Hãy còn ngái ngủ, anh lầu bầu đứng lên, và bước đi lấy mấy lát cải để trên lò sưởi. Anh biết rằng mình không thể làm ngơ trước những sự nhắc nhở của con mê vốn lì lợm quyết liệt khi nó đánh hơi thấy có người trong nhà. Anh phải vất vả một hồi với cánh cửa bị kẹt cứng vì tuyết giá và thình lình bung ra, mở toang hoác để lộ một bóng người đàn ông cao lớn đi ủng và mặc đồng phục. Đôi bên cùng kinh hãi một lát, tiếp đó, kẻ lạ mặt tự tiện bước vào, đóng cửa lại, và chăm chăm tiến về phía lò sưởi, ông này cầm lấy một cây củi khô trên đối củi, ném vào lò, và quay nhìn Tiffauges nói:

- Anh làm gì ở đây?

Tiffauges thấy ngay ông này không phải là sĩ quan quân đội Đức. Trước hết là tuổi tác – chắc hẳn ông xấp xỉ tuổi sáu mươi – bộ đồng phục màu lục đậm với ve áo có huy hiện sừng nai, khẩu súng săn ba nòng, tất cả tiết lộ ông là một viên chức của thủy lâm thì đúng hơn – người kiểm lâm, kiểm lâm của quận, quản lâm của vùng… - tất cả những viên chức này vì động viên trở thành thưa thớt đang cố gắng bảo vệ và duy trì cái thiên đường lông mai lông vũ này đang bị tàn phá vì kẻ săn trộm và chiến tranh.

Ông cất chiếc mũ lưỡi trai của người trượt tuyết xuống, và vì Tiffauges chậm trả lời, ông dằn giọng:

- Tù vượt ngục?

Bất giờ người lính Pháp ngửa hai bàn tay ra, và vừa trưng mấy lá cải vừa nói:

- Tôi nuôi mấy con mê mù mắt!

Người lạ mặt không có vẻ ngạc nhiên lắm trước lời biện giải của anh, và Tiffauges nói tiếp:

- Tôi đang ở trong trại tù làng Moorhof. Lát nữa tôi trở về đó. Tôi, Abel Tiffauges, lính công binh nuôi chim bồ câu tiểu đoàn 18 công binh của Nancy bị bắt làm tù binh ngày 17 tháng 6 trong rừng Zincourt. Người đàn ông mặc áo lục có vẻ quan tâm hỏi:

- Nuôi chim bồ câu ư? Đó là khí giới cao quý nhất sau kỵ binh, tất nhiên. Tội nghiệp cho mấy con bồ câu!

Ông ngồi cạnh lửa, cầm cây gỗ đẩy khúc củi đang vụt cháy lên và lăm le rơi ra khỏi lò. Tiffauges lúng túng theo tiếng Đức, không thể đoán biết có cái có thể là mỉa mai trong lời khen ngành nghề nuôi bồ câu đầy hoài niệm ấy. Anh định tâm chỉ nhận ra qua đó một mối dây thiện cảm với người lạ mặt.

- Theo lời anh, chắc hẳn anh biết Unhold?

Con người rừng lên tiếng hỏi, và thấy Tiffauges có vẻ không hiểu nên giải thích.

- Đó là tên của con mê mù mắt, có lẽ nó sợ đám đồng loại và sợ các con mê đực khác hiếp đáp. Mọi người đều quen nó trong các khu rừng nó lẩn lút qua mùa đông, bằng chứng là nó đi xin ăn nơi các người qua lại. Khổ nỗi, cứ mỗi lần xuân đến, nó xuống phía nam vài cây số, và như thế nó có thể bị nguy ở một vùng xa lạ. Một ngày nào đó, người ta sẽ hạ nó mất thôi.

Ông trầm giọng kết luận như vậy.

- Vả chăng nó là một con thú bất tiện, có lẽ anh đã để ý thấy như vậy, Unhold, anh hiểu không? Chữ ấy có nghĩa là con cục súc, xấu mã, mà cũng có nghĩa là tên phù thủy, con quỷ. Nó khiến người ta phát sợ với cặp mắt trắng dã của nó, với vẻ lầm lì thô bạo!

- Nó đến đấy! Tiffauges nói.

Quả nhiên một tiếng kỳ cọ đặc hiệu chà xát vào tường nhà, rồi cà vào cửa xen lẫn với tiếng lửa bốp bốp.

Khi Tiffauges mở cửa, viên sĩ quan kiểm lâm dù đã gặp Unhold lắm lần, phải ngạc nhiên trước cái đám đen lông lá lập tức án ngữ ngay cánh cửa. Hướng về chiếc mõm nhích động, Tiffauges chìa ra mấy lát cải trong hai bàn tay mở rộng và đan lại với nhau. Con mê lựa chọn thức ăn một cách cẩn thận bằng hai chiếc môi nhỏ và bặm lại, chính xác như thể ngón tay trái và ngón tay phải. Kế đó cả hai quyện tròn với nhau. Tiffauges đưa mấy móng tay luồn giữa hai chiếc lỗ tai dài cực kỳ linh động và diễn cảm vừa giải thích cho Unhold biết rằng nó đẹp và hiền, nó khỏe mạnh và không ma mãnh, và đời thì xấu bụng và phản trắc. Unhold đáp lời bằng một tiếng rung, trầm sâu đến nỗi tưởng như tiếng cười của một gã khổng lồ nói bằng giọng bụng, và đôi tai đang múa giật trong không khí kia biểu lộ rõ ràng niềm vui sướng và tin tưởng. Tiếp theo, con mê lui gót, và Tiffauges bước theo, như để đưa tiễn ra tới ranh giới địa phận và vang vang nhỏ dần, tiếng lách cách riêng biệt của bước chân con dã thú đẫy đà của phương Bắc bỏ đi. Khi Tiffauges trở vào lều, viên sĩ quan day lưng vào lửa nhìn anh một lát im lặng. Mãi sau ông nói:

- Anh là tù binh người Pháp, có lẽ không phải vượt ngục, nhưng ít ra phải là trốn trại. Anh đã đột nhập vào nhà kiểm lâm mà tôi chịu trách nhiệm. Anh săn trộm, cứ xem mấy cái da thú hong phơi trên đầu tôi đây cũng đủ biết. Thế này đã đủ để đày anh tới Graudenz. Nhưng tôi nghĩ là anh đã được lòng con Unhold vốn khó tính. Vả lại, nuôi bồ câu mà sao lại nhốt vào trại trọng tội? Không, không nên… (Ông đứng lên). Anh về trại Moorhof đi thôi. Có thể sẽ gặp nhau lại. Tôi là kiểm lâm trưởng của vùng trảng cỏ.

Ông siết lại chiếc mũ lưỡi trai, sụp hai miếng che tai xuống, cài chiếc áo mưa bán thân và ra đi. Trước khi rời xa, ông còn dừng lại và quay người nhìn Tiffauges.

- Lạnh thế này đừng dùng nhiều cải! Tôi sẽ cho đưa đến vài bao rạ và một bao lúa mạch. May ra cầm chân con Unhold khỏi xuống xa hơn phía Nam.

—★—

Mùa xuân đối với Tiffauges được đánh dấu bằng một biến cố mà ở trại người ta quên ngay trong vòng hăm bốn tiếng đồng hồ nhưng lại biến đổi hình ảnh của chính anh và luôn cả số phận của anh tại miền Đông Phổ.

Các loại hoa nghệ tây bắt đầu nhú lên khỏi các lớp tuyết cuối cùng và đêm đêm người ta nghe đàn ngỗng khúc khích gọi nhau tụ tập ở các đầm Haff de Courlande chờ đợi gió xuân đưa đẩy chúng nó lên mạn Bắc. Mấy tuần nay, Tiffauges phải nhường chiếc xe Magirus trung thành với mình đổi lấy một chiếc Opel cũ kỹ chạy bằng khí đốt, bởi lẽ xe chạy xăng từ nay phải dành cho quân đội chiến đấu. Giả thử biện pháp này báo hiệu một sáng kiến quân sự của Hitler, theo lời đồn đại, Tiffauges chẳng quan tâm mấy, và anh chỉ thấy trong sự thay đổi này thêm một mối dây buộc anh với rừng rú nước Phổ mà củi gỗ của nó giờ đây cung cấp năng lượng cho những chuyến đi về của anh. Trong cái biện pháp rõ ràng là thu hẹp và lùi bước này, anh cũng linh cảm một bước đầu tiên trong sự rã rời và thoái bộ của nước Đức có khả năng làm cho đất nước chiến thắng, và sự ngạo nghễ này phải tự đặt mình ngang tầm với anh, ngang mức độ với anh, và – có thể biết một ngày nào đó – ngang tầm khống chế của anh. Các lán trại sau mùa Đông cần được tu bổ phần nào, bởi thế người ta phái anh ra đi khá xa ngược lên mạn Bắc chở ván gỗ trong các trại cưa lớn của Elchwald. Anh tìm thấy lại ở đây cảnh sắc và không khí mà con mê Unhold là hiện thân tinh túy hơn cả: đất nhiều cát hơn và dễ lún hơn tất cả các thứ đất mà anh quen biết kể từ khi đặt chân đến vùng Đông Phổ này, đất cứ tan hòa vào nước và trời cứ tan hòa vào chân trời sũng nước, các vùng đất thông thường mềm lòng đến nỗi các con ngựa được trang bị bằng vó gỗ với đế chìa hẳn ra ngoài, xe bánh gỗ thì trang bị bằng những bánh rộng như thể xe cán dẹp – loại xe Puffraeder – và đến nỗi mỗi nông trại đều có thuyền nhỏ và xà lan để đối phó với những trận lụt mùa xuân và mùa thu. Phía trên cao hơn, là những đụn cát do gió xóa đi làm lại mãi không thôi, cho nên người ta cố sức giữ cát bằng cách trồng cỏ và trên đỉnh các đụn cát này đôi khi ta thấy lượn qua lượn lại từng đàn mê tạo thành một mảng bóng lớn và có tính cách tiền sử. Tiếp theo, là vùng Haff de Courlande, một cái đầm không sâu rộng hơn một ngàn sáu trăm cây số vuông, qua mấy ngàn năm dần dà bị lấp bằng phù sa của các con sông Memel, Deime, Russ và Gilge. Chiếc hồ lớn nước mặn và sắp chết này chỉ cách biển Baltique bằng một vùng đất Nehrung, một doi đất cát mỏng manh dài chín mươi tám cây số và rộng từ bốn cây số đến chưa đầy năm trăm thước. Tiffauges chắc hẳn không bao giờ bén mảng đến nơi chân trời cuối đất ở miền cực bắc này. Anh không ngừng mơ tưởng đến nó, chẳng hạn như đến một ngôi làng có cái tên chim là Rossitten ở trung tâm vùng Nehrung, dân làng toàn là những người nuôi chim và suốt đời toàn quan sát cùng bảo vệ từng đàn chim di hằng hà sa số cứ mỗi năm hai lần bay qua làng và sà xuống dân làng như những chiếc lưới mênh mông sống động làm bằng cánh chim.

Từ chuyến viễn du đến ranh giới phía Bắc vương quốc của anh trở về, anh gặp nhiều chuyện xảy ra. Bộ phận cơ khí chạy bằng khí đốt cứ lăm le ngã gục dưới sức nặng của ván gỗ chồng chất cao quá buồng lái của xe cam-nhông. Nhưng cuối cùng chính đường sá mới đánh gục chiếc xa đang cố hào hển. Ra khỏi một cụm rừng, đường bị nước tráng một lớp mỏng, Tiffauges ung dung lao đi làm bắn ra hai bên xe hai luồng nước như đôi cánh lớn tưới ngập lớp đất cò ủ màu đen vì mùa Đông. Nhưng anh đột nhiên có cảm tưởng không làm chủ được hướng đi, và do một phản xạ sợ hãi, anh nhấn bàn thắng. Xe trượt khoảng hai chục thước và dừng quay ngang đường. Khi Tiffauges muốn rồ máy lại, bánh xe quay tít trong bùn và lún sâu hơn theo mỗi tiếng máy gầm gừ. Anh cuốc bộ đến Gross – Skaisgirren, ngôi làng kế cận, và nhờ tòa đô chính phụ giúp, vừa trình sự vụ lệnh. Trời sập tối khi anh quay trở lại xe, đi kèm với một người thợ làm nông dẫn theo hai con ngựa. Nhưng hai con vật trượt cẳng trong bùn nước, và một con lại quỵ luôn cả hai vó suýt nguy. Lẽ ra phải dùng thừng kéo xe bị nạn lên và ngựa phải đứng trên đất cứng. Tiffauges phải nộp mình cho cảnh binh và được ngủ trong một xó xỉnh chẳng lấy gì làm tiện nghi. Sáng hôm sau, xe được kéo ra khỏi bước hiểm nghèo, nhưng máy thì không chịu nổ. Phải ngủ thêm một đêm nữa trong xó nhà của cảnh binh và sáng lại mới trở về Moorhof chậm mất bốn mươi tám tiếng đồng hồ.

Trung úy Teschemacher đón anh, nhẹ nhõm bảo:

- Hôm qua có vớt một xác chết trong đầm than bùn Walkenau. Tao sợ là mày, nhất là miêu tả qua điện thoại nó gần đúng là mày. Lạ một cái là không thấy ai báo cáo có trường hợp nào mất tích cả, trong trại cũng không, trong các làng quanh đây cũng không.

Tiffauges vốn rất chăm chú đến các dấu hiệu và gặp mặt nên chi không bỏ qua chuyện này. Người ta bảo xác chết vô lý lịch đang để tại trường học Walkenau, trường đang nghỉ học vì lễ Phục sinh. Cách trại hai cây số. Gặp lúc thuận tiện, anh đến đó ngay.

—★—

- Các vị để ý thấy hai bàn tay và hai bàn chân đều đẹp, nét mặt thanh, nhìn nghiêng ta có cảm giác như loài chim săn mồi, mặc dù trán rộng, dáng vẻ quý tộc ăn khớp với tấm vải quàng sang trọng như thể dệt bằng những sợi chỉ vàng và ăn khớp với các vật dụng trên thân thể của người chết để có thể dùng tới ở thế giới bên kia.

Tiffauges xuất hiện làm ngắt ngang lời thuyết giảng của giáo sư Keil, thuộc viện nhân chủng học và khảo cổ học của Konigsberg, ông thuyết giảng trong phòng của lớp học, trước một nhóm năm sáu người, trong đó có thôn trưởng của Walkenau, người nhỏ thó mang kính chắc hẳn là vị giáo viên – người đã báo động cho viện Konigsberg, có ông mục sư và vài hương chức địa phương. Trước mặt họ, nằm trên bàn là một thi hài gần như trần truồng, màu than bùn, lớp da xếp lại vài đôi nơi, làm cho xác chết trong giống như một cái tượng mẫu bằng da, tất cả hoàn toàn như một khung cảnh giảng tập nhân thể học. Khuôn mặt thanh mảnh và thoát tục bị chắn ngang bằng một băng vải mỏng lấp hết mắt và thắt chặt đến độ như mắc cứng vào mũi và gáy. Một ngôi sao sáu cánh bằng kim loại sắc vàng đính trên băng vải, giữa hai mắt.

Từ diễn đàn của giáo sư, Tiffauges hiểu rằng đây là một trong những người đầm than bùn lâu lâu được khai quật ở Đan Mạch và miền Bắc nước Đức, và tình trạng thi thể, nhờ đất chua, được giữ gìn nguyên vẹn đến nỗi dân làng nghĩ ngay đến trường hợp tai nạn hoặc bị giết vừa mới xảy ra. Kỳ thật là dòng dõi người Đức xa xưa có tục lệ chôn người xuống đáy đầm than bùn ở thế kỷ thứ nhất kỷ nguyên chúng ta, hoặc ở thế kỷ trước nữa. Điều đáng tiếc là ta chẳng biết gì nhiều về các bộ tộc này, và hễ gặp trường hợp như vậy bao giờ cũng phải giở lại pho phong tục Nhật Nhĩ Man của Tacite, một tác phẩm ngoại bản, rất đáng ngờ, đó là lời căn dặn của giáo sư Keil. Kế đó giáo sư chỉ rõ rằng lớp da vẫn còn rất tốt, dù đã qua hai nghìn năm, đến nỗi cảnh binh ở trong thôn không quên lấy dấu tay của thi hài để toan tính xác lập lý lịch. Hơn thế nữa, chính ông đã phẫu nghiệm tử thi. Khám nghiệm phổi, ông có thể chứng minh kẻ xấu số đã chết nước – và ngoài ra không có vết thương nào, không bị đánh đập gì cả, còn những điều khác, nhìn con người đã chết từ trước kỷ nguyên của chúng ta với vẻ mặt đồng lõa, như thể chia sẻ với người chết một điều vô cùng thú vị và không thể nào đoán nổi. Tiếp theo, sau một hồi im lặng có cân nhắc, giáo sư trịnh trọng vừa nói tiếp vừa gửi gắm vào từng tiếng nói một số phận riêng cho nó.

- Thưa quý bà, quý ông (trong đám người nghe không có ai là bà cả), tôi đã đích thân khám nghiệm dạ dày, ruột non và ruột già của vị tiền bối của chúng ta đây. Các tạng phủ dù dẹp lép vẫn còn nguyên trạng, và còn chứa đầy đủ các thứ bên trong, nhờ thế tôi có thể xác lập lại một cách khoa học – ông trầm giọng với từng âm tiết một – cái bữa ăn cuối cùng của vị tiền nhân ở Walkenau và bữa ăn này – tôi có khả năng chứng minh được – đã diễn ra trước khi chết từ mười hai tiếng đến hăm bốn tiếng đồng hồ. Bữa ăn này gồm có một món cháo bao gồm chủ yếu một loại cây nghề, tức là loại rau còn có tên là hồ tiêu nước, trộn lẫn với các loại hoa tán, hoa chút chít, là bim bim, và hoa cúc. Thật tình tôi không nghĩ rằng món cháo rau này là món ăn thường nhật của dân Nhật Nhĩ man vốn làm nghề đi săn và đánh cá. Tôi muốn nghĩ đến bữa ăn theo nghi lễ, một hình thức cầu nguyện trước khi bị tế sinh, và ăn chung với một vài tín đồ.

“Còn về thời kỳ của người chết, lẽ tất nhiên khó xác định rạch ròi. Nhưng đồng tiền vàng tìm thấy bên cạnh thi thể cho phép ta định ra đồng tiền ấy là ở vào thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên vì nó mang tiếu tượng của Tière. Và chính đây là điểm làm nổi lên cái khía cạnh đáng xúc động hơn cả trong cuộc khám phá này. Ta không loại bỏ giả thuyết rằng đây là bữa ăn cuối cùng của một người tất nhiên đáng trọng vọng, của một vị vua không biết chừng, ăn trước khi chết một cách khủng khiếp, nhưng tự nguyện, và cái chết này xảy ra cùng một lúc, một năm, và biết đâu một ngày, một giờ! – với lễ thánh “Xen”, tức là bữa ăn cuối cùng trước khi xảy ra khổ nạn giữa Giêsu với các tông đồ. Như thế nghĩa là ngay khi Do Thái giáo của Địa Trung Hải nổi bật dậy ở vùng Cận Đông, thì có lẽ chính ngay ở đây, một nghi lễ tương tự tạo lập ra một tôn giáo song hành riêng biệt của miền Cực Bắc và có luôn màu sắc “Nhật Nhĩ Man”.

Giáo sư im lặng như thể bị dồn nén vì xúc động và lời lẽ trang trọng của chính mình. Rồi ông nói tiếp bằng một giọng bình thường hơn.

- Tôi xin phép nói thêm rằng vị tiền bối của chúng ta được khai quật gần đây, trong một khóm rừng đầy cây trăn, loại trăn đen thường mọc ở đầm lầy. Đến đây tôi không thể nào quên nghĩ tới Goethe, thi sĩ vĩ đại nhất của Đức ngữ, và nghĩ tới tác phẩm của ông nổi tiếng hơn cả, vừa là huyền bí hơn cả, đó là thi phẩm Chúa tể Đầm lầy. Tác phẩm này ngân vang bên tai người Đức chúng ta, ru ngủ trái tim người Đức chúng ta, thật sự đó là quốc hồn quốc túy của người Đức. Thành thử tôi đề nghị với các vị - và tôi sẽ đề nghị với viện Hàn lâm khoa học của Berlin – rằng con người này nên được đưa vào kỷ yếu của công cuộc nghiên cứu khảo cổ dưới cái tên là Chúa tể Đầm lầy.

Rồi ông đọc lên:

Vó ngựa ai trong đêm khuya trong gió?

Người đàn ông đi với con mình…

Đến đây, giáo sư bị ngắt ngang vì một công nhân ngành nông ập vào, bước vội lại phía ông rồi nói nhỏ. Bấy giờ giáo sư Keil lên tiếng:

- Thưa các vị, người ta báo cho tôi biết một thi thể thứ hai vừa được khai quật trong cùng một đầm than bùn với thi thể này. Đề nghị chúng ta đến đó ngay để đón tiếp một vị sứ giả khác của thời gian xa xăm.

Người ta đã thận trọng lóc ra toàn bộ mảng than bùn dính cứng vào thi thể - có lẽ thi thể bị co quắp. Riêng chiếc đầu – hay nói cho đúng hơn là phần trắc diện bên phải – hiện ra như thể dính cứng vào khối bùn và không dày dặn gì hơn một hình tiếu tượng. Màu sắc chẳng khác gì màu than bùn bao nhiêu cho nên cái phần đầu này có vẻ như hình phù điêu nổi lên khối bùn vậy. Đây là một khuôn mặt nhỏ thó mảnh dẻ, trẻ con và buồn bã có đội mũ làm bằng ba mẩu vải kết lại thô sơ làm cho khuôn mặt có dáng dấp là tù nhân, có thể là kẻ đi đày cũng nên. Mấy người thợ làm đất đợi giáo sư đến mới đập vỡ khối bùn ra. Trước tiên họ dọn sạch cái đầu, tiếp theo là hai vai dường như khoác một tấm áo bằng da cừu. Toàn bộ lớp áo hiện ra nhanh chóng, nhưng bên trong hình như không có gì. Khi người ta đặt di hài của “vị sứ giả khác của thời gian xa xăm” lên cỏ và có thể trải rộng tấm áo khoác của kẻ chăn cừu, quả nhiên người ta nhận thấy rằng thân xác đã bị teo rút hoàn toàn: chỉ có chiếc đầu còn sót lại qua mấy nghìn năm một cách huyền bí. Giáo sư Keil đã kết luận:

- Như thế này, chúng ta sẽ không bao giờ biết được đây là đàn ông, đàn bà hay là đứa trẻ. Cứ xem xét kết quả khai quật tương tự, tôi thiên về giả thuyết là đàn bà. Không phải hiếm khi một nhân vật trọng yếu chết đi có vợ chết theo, vì lẽ tổ tiên người Đức tuyệt đối một vợ một chồng như các vị đều biết. Đây là một bí ẩn tính thêm vào danh bạ của Chúa tể Đầm lầy. Cũng giống như mẩu băng vải người mang trên mắt kèm theo chiếc ngôi sao vàng: không thể nào lý giải được ý nghĩa của những thứ ấy trong tình trạng hiểu biết của chúng ta hiện nay. Nhưng chúng ta càng tiến triển trong thời gian, quá khứ càng xáp lại gần ta hơn. Điều nghịch lý là ngày nay chúng ta biết rất nhiều về cổ đại hơn hẳn trước đây trăm năm. Có thể nay mai nhiều tia sáng khác sẽ cho ta rõ về các nghi lễ của người Đức thượng cổ. Tuy nhiên một phần bí ẩn sẽ bao trùm mãi mãi lên những gì là thiêng liêng nhất trong chốn than bùn của vị Chúa tể Đầm lầy.

Trước khi quay trở về làng Moorhof, Tiffauges nhìn hồi lâu chiếc đầu nhỏ của kẻ đi đày mảnh mai vàng vọt mà ánh nắng mơn trớn lần đầu tiên sau bao nhiêu thế kỷ âm u bùn lầy. Tưởng chừng anh cố gắng ghi khắc bao nhiêu đường nét ấy vào trong tâm khảm để có thể nhận diện lần nữa giá như có gặp lại.

—★—

Ngay từ mùa thu năm 1940, dân chúng của thành phố nhỏ Rastenburg ngạc nhiên thấy từ nay bị cấm không được đến khu rừng Gorlits, nơi đây theo truyền thống từng tổ chức những cuộc khiêu vũ nhân dân, thi bắn súng, hội chợ và đơn giản hơn là những cuộc đi dạo của các người trong gia đình chiều chủ nhật. Tiệm cà phê Karlshof mà người ta thường lui tới ăn chiếc bánh buổi chiều bị trưng dụng không còn người phục vụ, và dùng làm nơi cư trú của một toán lính đặc nhiệm SS. Kế đó ta thấy kéo đến nhiều đoàn của tổ chức Todt, các xí nghiệp xây dựng Wayss FreitagDykerhof Widmann, và luôn cả những chiếc xe cam-nhông của chuyên gia ươm cây và phong cảnh Seidenspinner của Stuttgart. Người ta mở rộng đường, xây phi trường gần đó, và đường sắt Rastenburg – Angerburg không phục vụ cho dân sự. Báo chí công bố sẽ xây dựng một chi nhánh lớn của công trình hóa học Askania trong địa hạt cũ của Corlitz, nhưng lời công bố ấy không tương xứng với những công tác sửa sang vừa nhiều vừa sang trọng dù có nhiều bí mật chung quanh “thành phố mới”, như người ta gọi tên, có người đề cập đến việc xây một hàng rào kẽm gai dày ba thước và cao một thước rưỡi, và một khu vực sâu năm chục thước đầy mìn, dọc theo khu vực ấy có lính tuần canh ngày đêm. Súng phòng không và đại liên sẽ dựng tua tủa chung quanh hai khu vực bố phòng khác, khách vào bên trong sẽ bị kiểm soát gắt gao. “Thành phố”, ngoài khoảng trên một chục ngôi biệt thự, gồm có một trung tâm truyền tin cực kỳ hiện đại, một bãi đậu xe, một nhà tắm hơi, một nhà máy sưởi, một rạp chiếu bóng, nhiều phòng họp và thuyết trình, một “sòng bạc” dành cho sĩ quan, và nhất là, về phía Bắc, có một nhà hầm dưới đất thiết bị sang trọng dưới tám thước bê-tông và có thang máy.

Ngày 22 tháng 6 năm 1941, cùng ngày với chiến dịch Baberousse gieo rắc địa ngục trên đất Xô-viết, Hitler trú đóng trong “hang sói” mới xây dựng cùng với Bormall, bộ chỉ huy cùng với các cộng sự viên hàng đầu. Lập tức bộ phận đầu não của chế độ được đặt xúm xít quanh đó, Himmler ở trong khu rừng Grossgarten, Ribbentrop thì ở Steinort Lammers, đặc trách phủ thủ tướng ở Rosengarten, và Goring quá may mắn với cơ hội hi hữu này đang ở trong ngôi nhà săn bắn của y tại Rominten.

Ngày ấy, hai trăm hai mươi sư đoàn Đức được yểm trợ bằng ba ngàn hai trăm máy bay và mười ngàn xe bọc sắt ào đến biên giới Nga, được giúp sức ở phía Bắc bằng quân đội Phần Lan, ở phía Nam bằng quân đội Hung và Rumani. Lúc ấy dải đất của Đông Phổ không ngừng rung chuyển dưới bánh xe bọc sắt, và bầu trời Đông Phổ không ngừng ầm vang dưới từng đoàn máy bay oanh tạc cơ. Như thể đây là một định hướng ở rất xa về phía đông đang thu hút mạnh mẽ một luồng cuồng phong gồm binh lính và khí giới, gồm ngựa và xe. Một làn gió hy vọng rùng lên trong các trại giam. Đây là dấu hiệu sắp sửa xảy ra một cái gì đó, và biết đâu số phận tù binh sẽ thay đổi.

Đối với Tiffauges thì trái lại, sự việc xảy ra hoàn toàn ngoài lề này rơi đúng vào giai đoạn anh chờ đợi và sống chín muồi sau bao nhiêu khám phá và phát hiện qua mùa đông và mùa xuân. Những chuyến đi về của anh trong chiếc Opel chạy bằng khí đốt vốn giúp anh ngày lại ngày khám phá nước Đức và con người – và học tiếng Đức – xen kẽ với những ngày sống ở trại được sáng lên nhờ những chuyến dạo thăm vùng Canada. Ngay từ những đợt gió đầu tiên của mùa xuân, con Unhold bặt tăm, có lẽ tiếp tục thiên di bí mật về phương Nam theo lời của ông trưởng kiểm lâm ở Rominten, chẳng khác nào thời gian nó phải sống ở Canada đã qua mất, và nó xong xuôi nhiệm vụ với Tiffauges. Tựu trung, cái thông điệp mơ hồ đáng khích động hơn của vị Chúa tể Đầm lầy, và luôn của kẻ đi đày nhỏ thóm, theo cách gọi của Tiffauges.

Ngày 3 tháng 10, tại Cung Thể thao của Berlin, trong một bài diễn văn, Hitler tuyên bố với thế giới mở màn chiến dịch Typhon sẽ hạ thành Moscou và triệt tiêu hẳn Hồng quân. Và thêm một lần nữa, đất nước cuồn cuộn chuyển tải binh lính và vật liệu, binh lính càng ngày càng trẻ hơn, vật liệu càng ngày càng hoàn thiện, tất cả được đổ vào hỗn loạn trong lò chiến tranh vĩ đại. Thế cho nên khi những con chim di bắt đầu quang quác bay rất cao sát tầng mây xám, Tiffauges nghèn nghẹn nghĩ tới bao nhiêu tuổi trẻ bị đốn gục giữa thuở thanh xuân, và anh có cảm tưởng rằng bao nhiêu linh hồn người chết đang bay cao, cô quạnh, sợ hãi cái thế giới bên kia đầy bí ẩn và đang khóc than mảnh đất thân thuộc, chôn nhau cắt rốn mà mình yêu thương một thời quá ngắn ngủi.

Những trận giá băng đầu tiên đã làm trắng xóa các mặt đầm lầy, đúng lúc anh được gọi lên phòng lao động của trại. Một người đàn ông cao lớn, tóc bạc, binh phục màu lục thẫm mang huy hiện sừng nai đang chờ anh. Tiffauges nhận ra vị trưởng kiểm lâm đã hiện ra bất ngờ sáu tháng trước đây ở vùng Canada. Ông lên tiếng:

- Tôi cần một người phụ việc biết giữ gìn xe cộ và có khả năng giúp đỡ mọi việc cho tôi ở Rominten. Tôi nghĩ tới anh. Ban giám đốc trại của anh đã lo liệu sự vụ lệnh cho anh. Nhưng dĩ nhiên tôi không muốn anh là kẻ nô lệ. Tôi chỉ đem anh đi nếu anh ưng thuận mà thôi.

Một giờ đồng hồ sau, Tiffauges từ biệt bạn bè và trung úy Teschemacher, và lọt vào một chiếc xe Mercedes nặng nề, chạy xăng, ngồi cạnh vị trưởng kiểm lâm.

Xe đi chừng chục cây số về hướng Đông Nam băng qua một ngôi làng lặng lẽ vì chiến tranh và vì mùa đông đến sớm. Trời hãy còn sáng khi hai người đến bờ rào đóng cọc bảo vệ Rừng Cấm của Rominten có trổ một cái cổng làm bằng những khoanh gỗ tròn và có tấm biển viết bằng nét chữ gô-tích: Vùng bảo vệ thiên nhiên của Rominten.

Ể ĐẦM LẦY Nguyên tác: Les Rois des Aulnes ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 1997
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Michel Tournier

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.