Chúa Tể Đầm Lầy

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4

❊ ❊ ❊

13.5.1938. Sự nghịch đảo nhẹ nhàng. Nghĩa là phục hồi ý nghĩa các giá trị mà sự nghịch đảo nặng nề trước đó đã đảo lộn. Xa-tăng, chủ nhân của cuộc đời, được trợ giúp bằng lũ cai trị, lũ người làm luật, các cấp trên trong tôn giáo, các tướng lãnh và cảnh binh, nó chìa tấm gương soi ra trước mặt Chúa. Vì do nó thao tác, phía phải trở thành phía trái, phía trái trở thành phía phải, cái thiện gọi là ác, và cái ác gọi là thiện. Xa-tăng thống lĩnh các thành phố, điều này thể hiện ở nhiều dấu hiệu, chẳng bạn vô số đại lộ, đường phố và quảng trường lưu danh các vị võ biền chuyên nghiệp, tức là nhưng kẻ giết người chuyên nghiệp, tất cả toàn là chết trên giường, vì đúng chất của Xa tăng thì không khỏi có một phần kệch cỡm, đó là vết tích của Xa tăng vậy. Ngay cái tên xấu xí là Bugeaud, một trong những tên lái thịt gớm ghiếc nhất của thế kỷ trước, nó làm ô danh những đường phố trong nhiều thành phố ở Pháp. Chiến tranh là cái tệ nạn tuyệt đối, là một thứ được tôn thờ một cách quỷ quyệt và khó lòng tránh khỏi. Đó là một kinh lễ ám muội mà Ông Lớn cử hành giữa thanh thiên bạch nhật, và những thần tượng máu me đầy mình được các đám đông mê muội quỳ gối tôn thờ là những thần tượng mang những tên như: Tổ Quốc, Hy Sinh, Chủ Nghĩa Anh Hùng, Danh Dự. Địa điểm linh thiêng để cúng bái là điện Cựu Chiến Bính sừng sững giữa Paris với một khối cầu vàng to tướng và phinh phính nhờ những hơi hám của cái Thây Ma đế chế và của một số kẻ giết người phụ họa chết rữa tại nơi đây. Ngay cả công việc tàn sát ngốc xuẩn của thời kì 1918 cũng có những nghi thức của nó, đó là cái bàn thờ nghi ngút đặt dưới Khải Hoàn Môn, đó là những kẻ cúc cung tận tụy, cũng như nó có những thi sĩ riêng cho nó, là Maurice Barrès và Charles Péguy đem hết tài năng ảnh hưởng của mình phục vụ cho căn bệnh kinh phong tập thể 1914, và đang được nâng lên hàng phẩm trật Những Kẻ hết Lòng Lột Da Tuổi Trẻ - còn có nhiều kẻ khác nữa, tất nhiên.

Việc tôn thờ cái ác, khổ đau và chết chóc dĩ nhiên đi liền với sự căm ghét đời sống tột độ. Tình yêu – trừu tượng hóa - bị hành hạ triệt để một khi trở thành cụ thể, có hình thù và bị đặt tên là tình dục, dâm dục. Cái nguồn suối hoan lạc và sáng tạo ấy, cái của cải tối cao ấy, cái lí do tồn tại của tất cả những gì toát ra sự sống đều bị truy đuổi bằng một nỗi căm ghét kỳ quái của cả một lũ trí thức, vừa lương vừa giáo.

TB. Một trong những đảo lộn nặng nề, cổ điển hơn cả và giết người hơn cả đã khai sinh ý niệm trong trắng.

Trong trắng là bệnh đảo lộn nặng nề do tính hồn nhiên mà ra. Hồn nhiên là sự yêu người, vui tươi chấp nhận những dưỡng chất trên trời và dưới đất, không biết đến cặp phạm trù yêu nghiệt là trong trắng và không trong trắng. Từ tính cách thánh thiện tự nhiên và như thể bẩm sinh ấy, Xa-tăng đã chế biến thành một thứ mô phỏng gần giống như vậy mà thật ra là nghịch đảo: sự trong trăng. Trong trắng là kinh tởm đời sống, ghét bỎ con người, là sự say mê hư vô một cách bệnh hOạn. Một cơ thể trong trắng về mặt hóa học là một cơ thể đã chịu đựng một sự điều trị man rợ để đạt tới cái tình trạng phi tự nhiên cùng cực ấy. Con người nào bị loài quỷ trong trắng dẫn dắt đều gieo rắc hoang tàn và chết chóc chung quanh nó. Sự tinh tấn trong tôn giáo, sự thanh lọc về chính trị, chủ trương bảo tồn sự tinh ròng của dòng giống, đó là vô số những biến dạng của chuyên đề ác độc ấy, nhưng tất cả đều đơn điệu hướng đến vô vàn tội ác mà công cụ được ưa chuộng là ngọn lửa, biểu tượng của trong trắng và biểu tượng của địa ngục.

20.5.1938. Tại nhà của Karl F., anh chàng này có một chiếc máy nhãn hiệu Mỹ có thể ghi âm – rồi mở ra nghe lại – tất cả những tiếng động thu vào một chiếc micro di động nhờ một sợi dây rất dài. Anh cho tôi nghe đủ loại tiếng nai kêu trong cơn động cỡn có sức gợi cảm kỳ lạ, đó là tôi không nói rằng mình tìm thấy trong đó một sự ám chỉ một vài tật kín của tôi. Anh có kể lại cho một vị giáo sư điểu học ở viện bảo tàng nghe những tiếng chim thu băng, ông này chỉ có khả năng xác định chắc chắn những giọng chim được nhại tiếng do một diễn viên nhà hát huýt sáo miệng mà thôi. Còn các tiếng hát chính hiệu, thu âm khó khăn trong thiên nhiên, ông cho là khó nghe, không đáng chú ý, tóm lại đều hỏng tuốt.

Karl F. tuyệt nhiên không dè gì đến cái ấn tượng gây cho tôi do một cuộn băng cuối cùng mà anh dành để sau rốt. Cuộn băng này chỉ là tiếng huyên náo dập dềnh lên mãi của một đám đông nóng nảy, bất bình, nổi giận, rồi điên tiết. Có thể dưới cửa sổ của F. không hề có cái thứ quái vật ngàn đầu này, quái vật la lối giận dữ, tru tréo cầu cứu bắt kẻ giết người, hô to lên bầu trời lời căm ghét vang dội xen lẫn vào tiếng loảng xoảng của ô kính vỡ do đá ném lên? Mà nhất là có thể nào cái đợt sóng cuồng nộ này lại không xối xả vào riêng tôi? Tôi toát mồ hôi bồi hồi lạnh giá và mặt mày chắc là xanh lét. F. cuối cùng nhận ra. Anh hỏi tôi có sao không, từ lúc ấy đến cuối buổi, tôi đã rút ngắn lại tối đa, anh quan sát tôi lo lắng.

Làm thế nào giải thích được với anh rằng tôi sống sót đây là nhờ người ta hiểu nhầm cho tôi chỉ là một tên sửa xe mờ nhạt ở cửa thành Ternes, nhưng làm thế nào để giải thích với anh rằng nếu như người ta ngờ ngợ rằng tôi chất chứa một sức lực tăm tối nào đó thì tôi lập tức sẽ bị đám đông bức hại? Bản thân tôi cũng khó lòng quan niệm điều bí ẩn này của số phận mình: Một hôm nào đó thời tôi còn nhỏ, một chiếc đũa thần đã chạm vào tôi mà hiệu quả là hóa thân một phần con người bằng da, bằng thịt thành ra tượng cẩm thạch. Và kể từ đó, tôi đi đó đây, người tôi nửa thịt nửa đá, nghĩa là có một trái tim, một bàn tay phải và một nụ cười hòa nhã, những cũng có luôn trong tôi một cái gì đó rắn rỏi, không thương xót và lạnh giá làm vỡ vụn một cách nghiệt ngã những gì con người đâm sầm vào đó. Đó là một cách tuyên dương mà tôi là kẻ thụ lãnh ưng thuận nửa vời, có nghĩa là đắm đuối phục tùng và lặp đi lặp lại thái độ ưng thuận của mình mỗi khi có một dấu hiệu vẫy gọi tôi.

3.10.1938. Tôi đã ngưng viết từ hơn bốn tháng nay và tôi nghĩ sẽ không mở cuốn tập này ra lại nữa, ngoại trừ có một biến cố phi thường. Sự việc xảy ra sáng hôm nay có một tầm mức quá lớn nên phải trần thuật lại đây và càng xác thực càng tốt.

Tôi thức dậy khoảng sáu giờ trong một tình trạng vô cùng bải hoải. Tôi định rú lên một tiếng như nai kêu, kế đó sẽ gội đầu bằng C, nhưng một nỗi chán sống rút hết tất cả sức lực để cầu cứu tới những phương chước vô vọng ấy. Cái đáng sợ trong những tình trạng sa sút tinh thần, chính là sự sáng suốt - ít ra là cái vẻ bên ngoài sáng suốt - thường đi kèm và củng cố thêm sự sa sút ấy. Nỗi tuyệt vọng sẵn sàng hiện đến, khó lòng ngăn cản, như thể lời đáp lại duy nhất và chính thống cho cái vô nghĩa của đời sống. Bất luận thái độ nào khác - đã qua hoặc sắp đến - dường như do tình trạng say khướt mà có. Ðời sống chỉ kham nổi trong tình trạng say khướt mà thôi. Say rượu, say tình, say đạo. Con người là sinh vật của hư vô, nó chỉ có thể đương đầu với sự chìm nổi khó lòng quan niệm xảy đến với nó - một số năm tháng hiện hữu – bằng cách say rượu mềm môi.

Tôi không chịu cạo râu. Tôi xỏ chiếc quần quai và bước xuống tiệm xe chẳng buồn vào bếp làm cà phê. Hễ gặp những điều gì đi nghịch lại với tôi, tôi phải chống đỡ bằng lớp áo giáp của người máy rô-bô vốn không có những khiếm khuyết của con người. Sáng hôm nay, tôi sẽ là ông chủ cửa hàng sửa xe Balion vậy, không hơn không kém. Thằng Ben Ahmad là đứa đầu tiên nhận thấy điều này. Gã mù chữ này có một thiên tài đích thật đối với tất cả những gì là cơ khí, nhưng nó “đánh hơi”, nó không có phương pháp, không có sự chính xác. Nếu cần điều chỉnh ống xả hơi của một chiếc Georges Irat - mà máy nổ chỉ là máy của chiếc 11 mã lực Citroen nhẹ - hắn cho ống xả hơi vào máy dập đặc biệt và cuối cùng là dập luôn các ghế ngồi. Nhưng hắn không thể nào giải quyết bằng cách thử lại bộ dĩa và vẽ lên mặt dĩa các đường đo bằng bút chì rà theo bán kính của đầu ống và gạch nét cách nhau khoảng 2 hay 3mm. Có thể hắn lúng túng khi dùng bút chì. Tôi gầm gừ đẩy nó ra khỏi hông xe và đích thân nhúng tay. Sau đó thằng Jeannot bị mắng mỏ vì đến trễ. Lập tức tôi sai nó vào bàn thợ với mười hai chiếc lốp cần sửa lại các van. Kế đó tôi vào đóng cửa phòng kính dùng làm bàn giấy của tôi với một chồng hóa đơn cần viết. Ðến bảy giờ rưỡi, anh chàng Gaillac gửi chiếc 402B để kiểm tra đèn, rồi gã bưu tá đưa thư. Ngày mở màn cà rịch cà tàng.

Lúc này là chín giờ kém mười lăm và tôi chuyện trò với cô Toupie về chiếc Rosengart của cô, lúc ấy Ben Ahmad sửa xong chiếc Georges Irat và rồ máy. Một tai nghe cô Toupie, một tai lắng nghe tiếng máy chiếc Georges Irat đang có vẻ chạy tốt tuyệt trần. Cái vẻ Ben Ahmad đạp máy nổ tái đi tái lại bắt đầu làm tôi ngấy. Máy rù rù như tiếng rù rù của con mèo khỏe, việc gì rú khan tàn bạo vậy? Tưởng chừng Ben Ahmad khoái nghe nổ và khoái nghe mùi ga xả ra tỏa đầy cả hãng. Cuối cũng mới im lặng. Cô Toupie nói với tôi về trường đạo Saint - Dominique, nơi đây cô giảng dạy môn Triết. Tôi hỏi han cô bằng một vẻ hiếu kỳ không phải là vờ vĩnh, vì tôi bao giờ cũng chú ý đến vấn đề nội trú là tôi tự hỏi nội trú nữ sinh nó ra làm sao nhỉ? Ðúng lúc này chiếc Goerges Irat lại rú lên đến nỗi lấp hết tiếng chúng tôi. Rồi giữa tiếng ồn gia tăng dữ dội, tôi nghe rõ một tiếng kim khí rất khô khan. Tiếng này cũng không lọt khỏi tai của Ben Ahmad, nó ngưng xả ga tức thì. Từ chỗ tôi ngồi, lúc ấy tôi thấy thằng Jeannot đưa bàn tay lên màng tai, ngã người về phía trước gục xuống bàn, quỵ gối xuống, ngã người ra đất. Tôi hiểu ngay rằng một cách quạt như thế là gẫy xuống đập vào hắn cực mạnh. Tôi nhảy ra lao tới hắn ngay, và đưa tay nhấc thân hình gầy gò mê man của hắn lên.

Lúc bảy giờ một cái gì đó phủ lên người tôi, dịu nhẹ một cách không chịu nổi và đau xé lòng. Tôi đứng như trời trồng vì một nỗi ơn phước từ trời giáng xuống như sét đánh. Đôi mắt tôi chằm chặp nhìn vào cái thân thể oằn trong tay tôi mà đầu này là một bộ xương xẩu máu me dưới mấy chùm tóc màu trái dẻ còn đầu kia là hai cái gối ốm o, sát rạt, và hai chiếc giầy thô kệch, nặng nề, lủng lẳng vu vơ trong khoảng không.

Ben Ahmad thẩn thờ nhìn tôi. Tôi không động đậy. Dễ thường đứng thế này suốt đã cũng nên. Hãng Ballon sửa xe biến dạng hẳn, với mấy cây xà ngang vất vưởng mạng nhện cùng những ô cửa kính cáu bẩn. Chín đoàn đồng ca của thiên thần bao bọc lấy tôi bằng một không khí vinh danh vô hình Sáng láng. Không gian tràn đầy mùi nhang và âm thanh nhạc ống. Một dòng sông êm ái uy nghi chảy chuyền trong huyết quản của tôi. Cuối cùng Ben Ahmad phải xen vào.

- Nhìn kìa. Hắn vừa nói vừa trỏ một vệt thẫm lan ra trên đất nện. Nó chảy máu!

Liền sau câu ấy, một khoảng im lặng kéo dài lung linh một nỗi hoan lạc phủ xuống chúng tôi. Cuối cùng tôi nói được nên lời:

- Tôi chưa hề tưởng và bồng một thằng bé trên tay lại thích thú đến thế này!

Và câu nói đơn giản này làm sống dậy trong ký ức tôi một âm vang rền sâu.

Cô Toupie là người phá tan bầu không khí ấy. Cô quyết liệt lôi tôi lên chiếc xe Rosengart, tôi xoay xở ngồi ra phía sau cùng với vật nặng. Rồi thẳng đường tới bệnh viện Neuilly.

Jeannot không bị thương trầm trọng. Rách da đầu dài và chấn xương sọ. Không có vết rạn ở sọ. Tôi đưa hắn về nửa mê nửa tỉnh tại nhà mẹ hắn, bà này suýt ngất khi thấy băng bó cồm lên như vấn khăn. Kẻ bị thương nặng nhất trong hai đứa, vẫn là tôi, và tôi không ngớt nhẩm đi nhẩm lại điều tôi phát hiện rõ nét nhân vụ tai nạn ấy.

6.10.1938. Tiếng đầu tiên xuất hiện dưới ngòi bút của tôi, bề ngoài là một tiếng xoàng xĩnh, yếu kém, nhưng nó tỏ ra thật là hùng hậu: sự sung mãn. Phải, một thứ sung mãn nào đó đã bao trùm lấy tôi từ chân lên tới đầu khi tôi bồng lên tay cái thân hình bất động của Jeannot. Tôi nói rõ là từ chân lên tới đầu, khác với sự cụp lạc bình thường được khoanh vùng một cách bó hẹp và thô tục, cái luồng cực lạc đề cập ở đâu đã phủ chụp toàn châu thân tôi, chan rưới những tầng sâu thẳm nhất trong tôi, những cực đoan xa xôi nhất. Đây không phải là sự lích chích khoái cảm và giới hạn, mà là một tràng cười vỡ tràn khắp con người. Đến đây, tôi buộc lòng ngoái lại những chiêm nghiệm của mình về Thánh kinh, ngoái lại hình ảnh ông A-dong thượng cổ trước giờ Sa Đọa, kẻ cõng đàn bà và cõng trẻ con, triền miên lên cơn giậm giật – kẻ chiếm đoạt và kẻ bị chiếm đoạt – mà bao nhiêu tình yêu tầm thường của chúng ta chỉ là cái bóng mờ nhạt. Có thể nào cái thiên chức ngoại hạng của tôi sẽ giúp tôi trong hoàn cảnh nào đó đạt tới sự xuất thần của vị tổ loại người lưỡng tính ấy chăng?

Nhưng tôi cũng nên thoát ra ngoài vòng tư biện và tiếp cận cái cụ thể. Cái dữ kiện rành rành khách quan là kinh nghiệm hôm qua của tôi, ấy là trọng lượng của Jeannot, một trọng lượng có thể định nghĩa bằng kilô kèm theo đầy đủ sự chính xác nếu muốn. Cái trọng lượng ấy, chính tôi là kẻ đã chuyên chở, và như thế là: Sung mãn!

Đó là cảm giác thoải mái, theo nghĩa nhạt nhẽo của từ điển. Nhưng từ nguyên của nó có ý nghĩa nhiều hơn. Có ý nghĩa là điều tốt, là hạnh phúc, là niềm vui bình lặng và quân bình. Và cũng có nghĩa là thủ thân, giữ mình. Kẻ sung mãn là kẻ giữ mình được hạnh phúc, là kẻ thủ thân hoàn hảo. Nhưng có thể nói nôm na rằng kẻ ấy mang, đèo một cách hạnh phúc. Và đến đây, một tia ánh sáng bỗng rọi vào quá khứ của tôi, hiện tại của tôi và, biết đâu, luôn cả tương lai của tôi nữa bởi các ý tưởng nền tảng là mang đèo ấy cùng ẩn chứa trong cái tên Christophe, là gã khổng lồ Công-Chúa, cái ý tưởng ấu cũng được minh họa qua truyền thuyết của Albuquerque, cúng như nó lại hiện thân lần nữa trong những chiếc xe hơi được tôi chăm lo nhưng không tâm đắc, ấy vậy mà trong tất cả tính chất phàm tục của chiếc xe nó vẫn là phương tiện mang đèo con người là chủ yếu.

Tôi cần phải dừng lại đây. Bấy nhiêu sự phát hiện liên tục làm cho tôi cay mắt. Nhưng tôi cũng muốn ghi thêm một điều suy nghĩ. Sự sung mãn của ngày 3 tháng 10 được châm ngòi do trọng lượng của một đứa trẻ thêm thắt vào trọng lượng của tôi. Jeannot hiển nhiên không mập mạp nhưng cũng nặng khoảng bốn mươi kilô cộng thêm vào khoảng một trăm mười kilô cân nặng của tôi. Nay cơn “xuất thần mang đèo” của tôi được định nghĩa chính xác hơn bằng cái cảm giác nhẹ nhàng, khinh khoái, vui sướng, bay bổng. Một tình trạng đồng bóng phát sinh do một sức nặng tăng lên gấp bội! Nghịch lý kỳ lạ! Cái từ nghịch đảo lập tức xuất hiện dưới ngòi bút của tôi. Có thể nói có một sự thay đổi về dấu hiệu, cái hơn trở thành kém, và ngược lại. Nghịch đảo nhẹ nhàng, ích lợi, thần thánh…

20.10.1938. Đêm nay, mất ngủ. Vì bầu trời sáng dịu, tôi lái chiếc xe Hotchkiss cũ kỹ đi loanh quanh các đường phố. Đại lộ Champs – Élysées, quảng trường Concorde, các bờ sông. Không mấy chốc tôi bị dừng lại vì các đoàn xe bò và xe cam nhông đã làm nghẽn vùng chung quanh Halles. Bỏ xe, tôi cuốc bộ tiếp tục, và ngay đó tôi lọt vào một rừng rau trái ở giữa lòng Paris, một vườn rau và một vườn trái siêu hạng với bao nhiêu mùi nồng và ớn cùng với những màu sắc sống sượng càng lộ rõ thêm vì ánh sáng kim khí của các ngọn đèn khí đốt. Thoạt đầu ta tưởng tới bữa ăn của anh chàng khổng lồ Gargantua nhưng rồi, dần dần, ngay sự phong phú khiến cho ý nghĩ ăn uống đâm ra buồn cười và có tham ăn cũng phải nản. Tôi đi vòng quanh mấy ngọn tháp bắp su, mấy đống núi su hào, suýt bị một thác hành tây đổ xuống người chỉ vì một chiếc xe đẩy bị mắc kẹt vào một dòng nước mà phải đổ xuống, lên lề đường.

Không nên nghĩ rằng các món này vì ê hề thửa thãi mà hóa ra tồi tàn. Trái lại, vì nhiều không dùng xuể, mà vật hạng được thăng hoa, mọi ý tưởng sử dụng bị thủ tiêu ngay từ đầu. Lúc bấy giờ, toàn là những tinh chất đang phô bày ra dưới chân tôi, tinh chất táo, tinh chất đậu, tinh chất cà rốt...

Ngoại trừ một cô bán cá sông duyên dáng, láng lẩy tươi trẻ và thân hình óng ánh vi vẩy như nàng thủy tiên, các bà đều dềnh dàng inh ỏi. Nhưng các gã khuân vác, lớp người “khỏe” của thành phố, khiến tôi vô cùng chú ý vì tôi cảm thấy mình gần gũi với họ. Lưng rộng, tay to, bước nhanh và ngắn khi di chuyển, vác trên đầu một nửa con bò hoặc cả thùng cá trích, tất cả những hình ảnh này, rõ ràng là chính tôi, về một phương diện nào đó. Nhưng đây là một sự mang đèo dung tục, hạ thấp xuống mức những ích dụng hàng hóa thứ yếu. Và có lẽ vì vậy người ta viết ra một cách thô thiển cái chữ bọn khỏe của vùng Halles, chứ không viết bọn mang đèo của vùng Halles. Khỏe cũng là một dạng của mang đèo. Và lập tức tôi hình dung một kẻ mang đèo thật sự của vùng Halles, đẹp đẽ hào phóng, đắc thắng vác trên vai chắc của mình một chiếc hồ lô của cải đang trào ra xuống tận chân của một kho tràn trề những hoa quả và đá quý.

28.10.1938. Lật xem một cuốn từ điển, tôi để ý thấy Atlas đưa vai ra đỡ - không phải là đỡ quả địa cầu hay thế giới như người đời thường hình tượng - mà là bầu trời. Tựu trung Atlas, đứng về mặt địa lý, là một ngọn núi, và nếu quả sự đồng hóa một ngọn núi với cây cột chống trời có ý nghĩa, thì hình ảnh ấy ứng dụng vào địa cầu lại là phi lý. Một thí dụ đáng ghi nhận về nghịch đảo nặng nề giáng xuống một trong những anh hùng rạng rỡ hơn cả trong hành vi mang đèo của mình. Trước đây y đưa vai ra đỡ lấy các tinh tú và mặt trăng, các chùm sao và dải ngân hà, các tinh vân, tuệ tinh, những mặt trời sáp nhập vào nhau. Và đầu của y đâm sâu vào những không gian thiên thể và lẫn lộn vào các hành tinh. Người ta sẽ thay đổi hết cả.

Thay vì cõi vô biên màu xanh và vàng trước đây vừa nạm hào quang vừa ban phúc lành cho y, thì nay người ta đội lên đầu y quả địa cầu, cái mớ bùn đục làm đầu y oằn xuống và che khuất con mắt của y. Và như thế người anh hùng bị sa sút, sa đọa, kẻ mang đèo trở thành kẻ khỏe, những tình yêu chừng mực được trở thành những tình yêu tốn kém.

Nhưng càng nghĩ đến hình ảnh này, tôi càng thấy rằng Atlas kẻ mang đèo thiên vương tinh, Atlas kẻ đội trên đầu các vì tinh tú là vị anh hùng thần thoại mà đời tôi ắt hướng đến để cuối cùng tìm ra ở vị anh hùng ấy giai đoạn kết cục vinh hiển của y. Tôi có mang trong tương lai cái gì đi nữa, dù đôi vai tôi có oằn xuống và được đoái hoài do một gánh nặng quý báu thiêng liêng nào đi nữa, thì giai đoạn cuối cùng và đắc thắng của tôi, nhờ trời, sẽ là bước đi trên mặt đất và mang theo trên gáy tôi một ngôi sao rạng rỡ hơn và vàng rực hơn ngôi sao của ba vị giáo sĩ tìm Chúa bài đồng...

30.10.1938. Hervé sáng hôm nay đến nhận hàng mua là chiếc xe Viva, xe thể thao thượng hạng hiệu Renault. Tôi ghét loại xe phim ảnh này nhưng nhờ bán được huê hồng khá hậu nên sự ghét bỏ kia dĩ nhiên được bớt giảm. Hervé cao hứng vì được xe mới, chưa bao giờ tươi vui đến thế, nó tự tin, nó tin ở sự thành công trong xã hội của mình cũng như tin ở những ưu điểm của mình, ngần ấy thứ trong đầu óc nó tất nhiên chỉ là một. Nó vừa tròn ba mươi sáu tuổi và giải thích với tôi rằng đó là tuổi đầy đặn nhất, quân bình hơn cả, và như thể đỉnh cao của một đường cong đi lên từ khi sinh ra và sau đó đổ xuống đến khi chết.

Thật ra, băm sáu tuổi đời của nó, hình như bất di dịch, kể từ mười năm nay quen biết nó, có thể nó đã băm sáu tuổi trước khi tôi quen nó, và cũng có thể từ khi sinh ra. Có điều, từ trước tới nay, nó quá trẻ đối với tuổi băm sáu, cũng như kể từ nay và năm này qua năm khác về sau nó sẽ quá già đối với tuổi băm sáu..

Cũng giống như thể mỗi người trọn đời có một “tuổi cốt thiết” mà hắn vươn tới mãi chừng nào chưa đạt, và bám cứng vào đó khi đã qua khỏi. Bertrand mãi mãi sáu mươi tuổi một cách cốt thiết, còn Claude suốt đời sẽ là một cậu mười bảy tuổi. Còn đối với tôi, vĩnh cửu ban cho tôi một khoảng cách không lấp được đối diện với bi kịch của sự lão hóa, và bằng một thái độ dửng dưng; pha lẫn buồn vẩn buồn vơ, tôi quan sát ngọn triều lên xuống của các thế hệ, như một tảng đá giữa rừng quan sát bốn mùa thay đổi.

Nhưng tôi nảy sinh một ý nghĩ khác khi nom thấy Hervé tươi trẻ lạc quan thế kia: đó là một kẻ siêu thích nghi. Nền y học nghĩ cũng nên đào sâu cái khái niệm siêu thích nghi mới mẻ này, và trường học cũng nên chú ý rằng, vì mải lo trẻ con không thích nghi như thế nào đó mà đột nhiên hiến chúng thành những trẻ siêu thích nghi.

Kẻ siêu thích nghi cảm thấy hạnh phúc trong môi trường mình, “như cá gặp nước”. Mà con cá đúng là tiêu biểu cho sự siêu thích nghi trong nước. Ðiều này có nghĩa là hạnh phúc của nó mong manh chính vì hạnh phúc quá đầy đủ. Bởi lẽ, nếu như nước trở nên quá nóng, hay quá mặn, hoặc nếu mực nước hạ... Nên chỉ, thà thích nghi với nước một cách vỏn vẹn hay thậm chí dưới mức, như thể các con vật lưỡng tính, không hoàn toàn hạnh phúc trong ẩm cũng như trong khô, nhưng sống được bình bình ở hai môi trường. Tôi không cần điều gở cho Hervé, nhưng tôi nghĩ nếu có một cái gì gãy đổ trong hệ thống tổ chức giỏi giang của nó, nếu số phận bày ra cho nó một màn trớ trêu nào đó, thì hắn sẽ gay go tìm lại được cái quân bình mỹ miêu của nó. Trong khi đó chúng ta là kẻ lưỡng tính, luôn luôn chông chênh trong mọi việc, pha phách với điều tạm bợ, với cái chừng chừng, chúng ta bẩm sinh biết cách đối đầu với mọi phản trắc của môi trường.

4.11.1938. Mỗi khi đi đó đi đây đến gần viện bảo tàng Louvre, tôi cứ tự trách mình đã không vào nơi này nhiều hơn. Ở Paris mà không hề đến Louvre là điều dại dột khó tha thứ hơn cả. Sau hơn hai năm không bén mảng, thế là chiều hôm nay tôi có mặt ở đây. Điều ích lợi rõ ràng nhất của chuyến viếng thăm này là làm cho tôi cảm thấy sự tiến hóa quan trọng trong lòng mình do những chủ đề mà tôi quan tâm đã chuyển đổi.

Tôi khó lòng quan niệm rằng đứng trước hào quang của vô số tuyệt tác này không khỏi cảm thấy rưng rưng nước mắt ngay. Ma thuật của pho Apollon xưa cổ của đảo Paros! Cái tương phản huyền hoặc giữa tính chất trang nghiêm của cơ thể, tròn như cột, với hai bắp đùi dính nhau và hai cánh tay tách ra từ khối bán thân – và các nụ cười bí hiểm làm rạng rỡ khuôn mặt ngời ánh từ tâm, trở nên bi thiết vì những vết sẹo rạch thành đường trên đá.

Tôi tưởng tượng không rõ đời mình sẽ ra sao giả như vị thần nhân ấy có mặt tại nhà tôi để tôi ngày đêm bị ám ảnh. Và nói thật ra, tôi không thể nào tưởng tượng làm thế nào chịu đựng nổi sự hiện diện cháy sáng của vì sao băng rụng xuống cạnh tôi sau khi mất hai mươi thế kỷ mới đến nơi tôi. Không có cái gì minh họa được cái chức năng thiết yếu của nghệ thuật cho bằng pho tượng này: đối với trái tim ta đã ngã bệnh vì thời gian xói mòn, vì chết chóc thi triển mọi nơi, vì sự hứa hẹn tiêu ma không thể nào tránh thoát của mọi thứ ta yêu thích – tác phẩm nghệ thuật mang lại một phần nhỏ của vĩnh cửu. Đó là phương thức thượng đẳng, là miền an nghỉ mà ta khát vọng, là giọt nước mát trên đôi môi lên cơn sốt của ta.

Cái cầm chân tôi lâu hơn cả trong các gian phòng dành cho tác phẩm Hy Lạp và La Tinh là những tượng bán thân. Ta dò la không biết chán các khuôn mặt ấy, trên đó toát ra một cách mãnh liệt sự thông minh, tham vọng, độc ác, tự mãn, nét can đảm, còn các nét tính từ tâm, cao thượng thì ít gặp hơn. Người ta không ngớt đặt ra cùng một câu hỏi mãi mãi không được trả lời: Các vị là mật mã của cảnh trí nào đây, của đời sống vũ trụ nào đây?

Còn lại là một cuộc dạo chơi khá nhanh chóng và hờ hững đưa bước chân tôi dạo quanh và gian phòng không phải dừng lại, trừ phi đứng trước một vài tấm tranh – vẫn là những tác phẩm ấy từ mười lăm năm nay là những tấm mà tôi như thể viếng thăm, hỏi han sức khỏe và soi bóng mình vào trong đó, là những tấm gương có một không hai. Tại nơi đây tôi tìm thấy lại một kinh nghiệm vốn là ưu tư hàng đầu của Nestor và được hắn ra sức theo dõi các biến dạng trong nhiều gian phòng của trường Saint – Christophe, đó là kinh nghiệm về sự bão hòa trong không khí. Trong cái không khí bị bảo hòa với bao nét đẹp, tôi có cảm tưởng ngây ngất là cảm tưởng ít nhiều gần gũi với tình trạng xuất thân mang nặng. Xin thêm vào đây một mẩu nhỏ vào cái bàn cỡ lớn mà tôi đang kiên nhẫn sắp đặt.

Khi trở ra đi qua lại bức rào chắn kiểm soát, tôi thấy có một cậu bé đang đấu khẩu sôi nổi với gã giữ cổng vào. Tôi hiểu ngay nguyên do tranh cãi đang có vẻ không lối thoát. Nó mang trên người chiếc máy ảnh và người ta đòi 0,50 quan mới cho phép nó đem máy ảnh vào viện bảo tàng. Vì nó không có tiền, người ta ép nó ký gởi tại quầy gửi đồ đạc, lời khuyên này chẳng đi đến đâu, bởi vì tuân theo nó cũng phải tốn 0,50 quan.

Nó nản, bỏ đi, thất vọng, và cố nhiên tôi can thiệp để giúp nó – không phải giúp bằng giải pháp phi lý của người lớn, tức là 50 xu cứu lấy chiếc máy ảnh – nhưng tôi giúp nó bằng giải pháp có tính tiểu thuyết, mạo hiểm, lậu thuế, và tôi trở vào lại chiếc cổng gác cùng với nó, bên hông tôi cồm cộm tang vật giấu dưới lớp áo vét của tôi. Étienne mười một tuổi, thân hình nó nhỏ xác so với tuổi, và ăn mặc bẩn một cách đáng yêu. Khuôn mặt nó không đều đặn, nét thanh, xương xẩu, vẻ lo âu, tương phản một cách thú vị với thân hình của nó nặng nề, đầu gối tròn lẳn và vụng xoay trở. Túi quần của nó căng đầy những sách, cũng giống như đôi bàn tay ngắn với những chiếc móng bị cắn gặm dữ dội, những chi tiết này liệt nó vào loại những đứa trẻ khôn sớm khác lạ - có dáng dấp đã đọc đủ thứ và hiểu đủ thứ từ bẩm sinh - đối chọi với thân hình lớn chậm tạo một vẻ ngây ngô trong mọi lời nói ra.

Ngay từ những gian phòng đầu tiên nó tỏ ra vô cùng quen thuộc với những tác phẩm trưng bày và đưa tôi thẳng đến tấm David của Guido Reni mà nó có ý định chụp hình. Đứa bé mập mạp trong tranh, đầy cả sự lớn lối và ngây ngô, má phính, con mắt đẹp mà không ma mãnh, đầu đội một chiếc mũ lông kỳ quái, bó rọ trong một tấm áo lông thú, làm thế nào nó lại chiếm được cảm tình của thằng Étienne này nhỉ, hình ảnh thiếu niên David là hiện thân của hạng người vô cùng hấp dẫn là hạng không bao giờ nghi ngờ gì cả. Étienne đã khám phá ra điều này! Có những con người bị giới hạn, vô cùng đẹp đẽ nhưng không có gì khác và, ta sẽ sẵn sàng khinh bỉ họ, nếu họ không bày ra cho ta thấy khả năng thích nghi toàn vẹn của họ với cuộc sống, những điều thích muốn của họ xứng hợp lạ lùng với những gì ở ngay tầm tay, lời lẽ của họ hợp với những câu hỏi được đặt ra cho họ, khả năng họ hợp với nghề họ đang làm. Họ sinh, sống và chết, giống như thể cuộc đời được tạo ra cho họ, và chính họ tạo ra cho cuộc đời, còn những kẻ khác – kẻ nghi ngờ, hoang mang, bất bình, tò mò, Étienne, tôi thì nhìn họ đi qua mà trầm trồ vì vẻ tự nhiên của họ.

Tôi đã quên hầu hết những mối quan tâm gần đây của tôi thì một cái khuôn đúc một chiếc tượng của viện bảo tàng Vatican đưa tôi hăm hở trở về lại những ý tưởng ấy. Lẽ ra cái tên ghi khác trên đế đã đủ báo động cho tôi: Héraklès Pédéphore. Thật vậy, đây là một hình tượng về Hercule ngồi ôm vào cánh tay trái đứa con trai nhỏ Télèphe của mình. Pédéphore, nghĩa là, bằng tiếng Pháp đúng nghĩa, Bế Trẻ Con. Hercule Bế Trẻ Con…

Étienne nhìn tôi và dĩ nhiên không hiểu vì sao tôi thờ thẫn người ra. Thế là tôi vừa cười vừa ngồi chồm hổm cạnh nó đưa cánh tay trái ra đằng sau hai gối của nó. Và nó cũng tiếp tay với tôi ngồi xuống cánh tay tròn của tôi và tôi đứng lên lại làm ra vẻ đưa bàn tay phải chống xuống một cái chùy, giống như người mẫu Hercule vậy. Xa hơn một chút, chúng tôi có thể lặp lại tư thế ấy với tượng Hermès của Praxitèle cũng bế Bacchus nhi đồng ngồi trên cánh tay trái.

Nhưng chúng tôi chú ý đặc biệt đến hai bức tượng phiên bản của những bản gốc đang nằm tại Viện bảo tàng quốc gia thành phố Nanles. Một cái là hình tượng một bán thần hoang dã chơi xập xõa, đầu nhìn nghiêng ngước nhìn lên vị Tửu thần hài đồng được cõng trên vai. Hài đồng giữ quân binh bằng bàn tay trái túm lấy tóc bán thần, còn bàn tay phải thì đưa mời chùm nho. May chỉ có hai chúng tôi trong gian phòng. Étienne với tôi, là vì, cồng kềnh chú bạn tình cờ trên vai, tôi quay vòng vòng nhi theo điệu múa của vị bán thần nhịp theo điệu xập xõa ầm vang tưởng tượng, còn Tửu thần thì kẹp hai bên má tôi giữa đôi đùi trần cáu bẩn. Nhưng chính cái tượng kia, phát tích từ Naples, mới cho chúng tôi hả hê hết mình. Hector cõng em trai Troilus bị thương. Nhưng cả đôi thật khác thường! Gã nắm bắp chân phải của đứa bé, quẳng nó lên vai như chiếc bị, và, đứa bé tòng teng, đầu chúc ngược, chân trái đong đưa.

Tôi nhìn Étienne ra vẻ mời mọc dò hỏi, và nó trả lời gọn bằng cách đưa bàn chân trái ra cho tôi. Tôi nhấc vụt nó lên bằng mắt cá chân, khá lẹ làng để nó khỏi cốc đầu xuống đất, và, làm ra vẻ đùa chơi nhưng bên trong vẫn không đùa chơi vì cái thiên chức mang đèo của tôi nó vốn to tát và tình cảm, tôi quay vòng vòng khiến nó cười sặc sụa sau lưng tôi. Thú quá! Cả một dòng mật ngọt chảy chuyền đủng đỉnh trong tôi!

Ra tới cổng chúng tôi chia tay nhau, Étienne với tôi, và chắc tôi sẽ không bao giờ gặp lại nó. Tôi nghĩ như thế, không khỏi nghẹn thầm trong họng, nhưng bằng một nguồn tin chắc chắn, không sai chạy và thúc bách, tôi biết rằng tôi không nên liên hệ cá nhân với một đứa bé bất kỳ nào đó. Mà những liên hệ ấy cuối cùng sẽ ra sao nào? Tôi nghĩ rằng, sẽ đưa dẫn đến, khó lòng tránh khỏi, những con đường dễ dàng và vạch sẵn, đó hoặc là liên hệ cha con, hoặc là liên hệ dục tính. Thiên chức của tôi nó cao hơn và nhiều mặt hơn. Chỉ có một đứa, cầm bằng, chẳng có đứa nào. Hụt một đứa, cầm bằng, hụt cả bọn.

Ể ĐẦM LẦY Nguyên tác: Les Rois des Aulnes ebook©MotSAch —★— TVE-4u©BookaholicClub Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn 1997
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Michel Tournier

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.