6/ 1471-1627: Thời kỳ của những làn sóng di dân. Người Chàm ở lại hay ra đi?

Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 503 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
6/ 1471-1627: Thời kỳ của những làn sóng di dân. Người Chàm ở lại hay ra đi?

❊ ❊ ❊

Trên bình diện toàn quốc thì đây là một giai đoạn phân kỳ thống nhất, giai đoạn của những làn sóng di dân không ngừng nghỉ suốt 200 năm chẵn. Thế nhưng trên bình diện vùng đất ta đang xét là Bắc Quảng Nam thì giai đoạn này cần chia ra làm hai là 1471-1603 và 1603-1671, đơn giản là vì đến 1603 thì Bắc Quảng Nam mới hết thuộc vào Châu Hóa để trở thành một huyện của thừa tuyên Quảng Nam. Tuy nhiên sự chuyển đổi hành chính này, sau khi khảo sát kỹ, chúng tôi thấy nó không tác động mấy tới đời sống người dân cũng như bản chất của giai đoạn phân kỳ này, cũng không góp phần tạo nên những dấu ấn bản sắc mới; nên vẫn chọn đây là một giai đoạn phân kỳ kéo dài tròn 200 năm với nhiều sự kiện quan trọng thuộc loại bậc nhất trong toàn bộ lịch sử Nam Tiến.

Đến năm 1471, cái mốc quan trọng và dứt khoát để chấm dứt những cuộc giằng co, lấn qua lấn lại giữa Việt và Chiêm trên vùng đất Quảng Nam thì những cuộc di dân là không thể kiểm soát được nữa. Ngoài số di dân từ sắc chỉ năm 1476 quy định “tội nhân bị tội lưu đày ở châu gần thì sung làm quân vệ Thăng Hoa, ở châu ngoài thì sung làm quân vệ Tư Nghĩa, những kẻ được tha tội chết thì sung quân vệ Hoài Nhân” chúng ta còn hiểu rằng những năm mất mùa đói kém nhân dân từ Thanh Hóa trở vào cũng sẵn sàng lên đường vào Nam.

SKTT ghi các năm 1561, 1570, 1571, 1572, 1586, 1588, 1589, 1592, 1594 1595, 1596, 1597, và 1608 đều là những năm mất mùa đói kém và nhấn mạnh đến số người tị nạn. Chẳng hạn 1572 chúng ta thấy ghi: “Năm ấy, các huyện ở Nghệ An, đồng ruộng bỏ hoang, không thu được hạt thóc nào, lại bị bệnh dịch chết đến quá nửa, nhiều người xiêu giạt, kẻ thì lần vào Nam, người thì giạt ra Bắc, trong hạt rất tiêu điều”(43).

Hơn nữa, miền Thuận Quảng lúc này thì SKTT chép như một “thiên đường”: “Hoàng (Nguyễn Hoàng) vỗ trị mấy chục năm, chính mệnh khoan hòa, thường ban ân huệ, dùng phép công bằng, chấn chỉnh khuyên răn tướng sĩ bản bộ. Cấm chỉ, trừ bọn hung ác, dân hai trấn đều cảm mến nhân đức, thay đổi phong tục, chợ búa không nói thách, dân chúng không làm giặc, cổng ngoài không phải đóng, thuyền buôn nước ngoài đều tới buôn bán trao đổi phải giá, quân lệnh nghiêm cẩn, người người gắng sức. Do vậy, họ Mạc không dám dòm ngó, trong cõi được an cư lạc nghiệp”(44), nên không khỏi dân các tỉnh phía Bắc tìm đến.

Li Tana đã bỏ nhiều công phu để nghiên cứu về sự di dân, nhất là giai đoạn sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Quảng Nam 1558 cho đến khi lũy Trường Dục được dựng lên năm 1631. Số lượng người Việt di dân vào phủ Điện Bàn giai đoạn này trong hơn 200 năm (1555 đến 1777) theo hai tài liệu Ô Châu Cận LụcPhủ Biên Tạp Lục, Li Tana ước tính:

Năm Số xã Số hộ (ước tính) Dân số (ước tính) Tỉ lệ gia tăng hằng năm
1555 66 5.808 29.040
1777 197 17.336 86.680 0,78%

“Sự ước tính này cho thấy một tỉ lệ gia tăng dân số đáng ngạc nhiên, rõ ràng ảnh hưởng của việc di dân trong sự phát triển của dân số ở đây”(45).

Sách “Phủ tập Quảng Nam ký sự” viết vào thế kỷ XVI có nói quân của Bùi Tá Hán nhận lệnh diệt quân Mạc ở Cổ Lũy, ông dẫn quân vào cho nghỉ ở Cù Lao Ré rồi giả làm đoàn người di cư, lén đổ bộ lên bờ và tấn công(46). Như thế ta hiểu có nghĩa là những đoàn người di cư vào năm 1545 ấy là đông đúc đến dường nào, nó đủ sức để một đạo quân cải trang lẩn trong ấy!

Người Việt di dân vào định cư sống bên cạnh các làng Chàm hay tất cả người Chàm lúc này đã bỏ ra đi? Đó là một câu hỏi vô cùng lớn quyết định toàn bộ bản sắc văn hóa và cả nhân chủng của người Quảng Nam nói riêng và các tỉnh Nam Trung Bộ nói chung. Đây là giai đoạn phân kỳ quan trọng nhất cần phải bỏ công nghiên cứu nhiều nhất, nhưng cũng là giai đoạn có nhiều ghi chép nhất, nhất là từ các ghi chép của các giáo sĩ phương Tây. Tuy nhiên, như đã nói, một sự kiện, một chi tiết nào đó có thể phản ảnh được cái toàn cục nhưng thường thì nó chỉ phản ảnh được giai đoạn đó, thời điểm đó. 200 năm của một cuộc di dân là quãng thời gian quá dài đủ để người vào trước có thể đã quên gốc gác để đón người vào sau như kẻ ngụ cư mới. Thậm chí, người vào trước đã đủ thời gian để hình thành nên một giọng nói mới để người vào sau không còn nhận ra đó chính là người cùng quê hương bản quán.

100 năm sau khi Lê Thánh Tông bình Chiêm, sách “Ô Châu Cận Lục” mô tả vùng Quảng Nam - Thừa Thiên ngày nay: “Nói tiếng Chiêm có thổ dân làng La Giang, mặc áo Chiêm có con gái làng Thủy Bạn, nhiều xã còn giữ thói dâm phong mây mưa, thói quen cổ truyền cũng đã lâu lắm”. Sách “Phủ tập Quảng Nam ký sự” đã nói kể chuyện ông Bùi Tá Hán trong những năm 1545-1568 có những chính sách với người Chiêm như: “Lập ở vùng biên giới, Tuy Hòa nay, 3 đồn lớn ở đó lập 3 nơi giao dịch cho phép người Kinh - Chàm mang các thứ tới đây buôn bán. Người Chàm nếu có ai ra vào cửa khẩu vùng biên để thăm bà con thân thuộc thì đều phải trình báo rõ ngày giờ với các quan đồn”. Điều này cùng với mô tả trong “Ô Châu Cận Lục” cho thấy khu vực người Chiêm còn ở lại là khá rộng, trải từ Quảng Bình cho tới Phú Yên, Tuy Hòa (Phú Yên nhập vào Đại Việt năm 1611). Dĩ nhiên tình hình bây giờ không còn giống như hồi 1402-1471, họ buộc phải nói tiếng Việt khi giao tiếp ngoài xã hội. Và dĩ nhiên họ nói tiếng Việt theo kiểu của người nước ngoài nói tiếng Việt, số lượng họ là bao nhiêu? Nhiều hay ít? Họ chuyển dần thành Việt như thế nào?

Giai đoạn 200 năm này có những dấu mốc phân kỳ đặc biệt quan trọng cần chú ý:

6.1/ 1471-1558: Ngay sau khi chiếm được Đồ Bàn, Lê Thánh Tông cử người Chàm cai quản những vùng đất mới. SKTT chép: “Ngày mồng 7 (tháng 3 năm Tân Mão - 1471), lấy người Chiêm đầu hàng là Ba Thái làm Đồng tri châu Thái Chiêm; Đa Thủy làm Thiêm Tri châu. Vua dụ họ rằng: “Hai châu Thái Chiêm và Cổ Lũy trước là đất của ta, đời gần đây bị mất về nước Chiêm, nay lấy lại được hết, đặc cách sai bọn các ngươi trấn giữ. Có kẻ nào không theo, cho giết trước rồi tâu sau”. Ngày 11, lấy Đỗ Tử Quy làm Đồng tri châu Thái Chiêm quân dân sự, Lê Ỷ Đà làm Cổ Lũy châu tri quân dân. Người Chiêm nào dám chống hay làm loạn thì cho giết rồi tâu sau(47). Có nghĩa là người Chàm vẫn ở lại rất đông.

Trước khi Nguyễn Hoàng vào Nam. Giai đoạn của những tộc họ đến nay có số đời trên 18.

- Người Chiêm Thành không có họ. Ai có họ là người Việt đến sau. (Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang, trang 89. Chưa rõ Phan Khoang dẫn ở đâu(48).

Sau này, sau 1471, vua Lê Thánh Tông cũng lại có một sắc chỉ về việc xét họ tên với bọn người Chiêm. Và đến một lúc những người Chiêm không có họ ấy bắt buộc phải mang một họ nào đó bất kể là Đinh, Lê, Lý, Trần, Phan, Nguyễn v.v… để vào sổ hộ tịch lại là một chuyện quan trọng nữa mà chúng ta cần phải bàn đến trong các chương sau.

6.2/ 1558 - 1602: 1602 dinh trấn Thanh Chiêm được thành lập và Bắc Quảng Nam chính thức tách khỏi Châu Hóa để trở thành huyện Điện Bàn của tỉnh Quảng Nam kéo dài đến Bình Định. Đây là lần đầu tiên một dinh trấn thể hiện một trung tâm chính trị của người Việt thực sự đủ mạnh để cai quản vùng đất từ phía nam Hải Vân đến bắc đèo Cù Mông. Thực ra trước đó đã có các lỵ sở đạo Thừa tuyên Quảng Nam đóng ở Bình Định, Quảng Ngãi nhưng đều chưa đủ mạnh để có thể thực sự có quyền lực trên thực trạng xã hội đa chủng tộc, đa văn hóa như Đàng Trong giai đoạn này. Hay nói cách khác, trước 1602 thể chế chính trị, quyền lực nhà nước vùng đất này là lỏng lẻo, “Dân địa phương ở đấy (Đàng Trong) sống lẫn lộn với người Man”(49).

6-3/ 1602 - 1627: Giai đoạn này Chúa Nguyễn đánh Phú Yên và xây lũy Trường Dục. Đây cũng là giai đoạn người Việt còn có thể ra Bắc, về quê đem bài vị, hài cốt cha mẹ vào để thờ phượng(50). Đồng thời đây cũng là giai đoạn di dân mạnh nhất, tạo nên những dòng họ có số đời trung bình trên dưới 16. Và đây cũng là giai đoạn của văn hóa Việt thực sự lên ngôi, thực sự làm chủ. Nhưng kể từ tháng 3 năm 1627, Trịnh Tráng khởi 20 vạn đại quân thủy bộ vào Nam, chiến tranh Trịnh - Nguyễn chính thức nổ ra thì con đường Nam tiến coi như cũng chấm dứt.

6-4/1627-1671:

Cuộc chiến Trịnh - Nguyễn thực sự diễn ra từ năm 1627. Có nghĩa là trước đó con đường ra Bắc vào Nam là không gián đoạn(51). Trong 46 năm ròng rã, hai bên Trịnh - Nguyễn đánh nhau lớn bảy lần và một số lần đánh nhau quy mô nhỏ hơn. Chiến trường chủ yếu ở hai bờ sông Gianh, vùng Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình ngày nay. Sau nhiều năm giao chiến, cả hai bên đều kiệt quệ về sức người sức của nên phải chấp nhận đình chiến vào năm 1673, chia cắt lâu dài đất nước. Sông Gianh, sử sách hay gọi là Linh Giang, trở thành ranh giới chia nước Đại Việt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài. Mặc dù đến 1673 sông Linh Giang mới thực sự ngăn cách đất nước nhưng về mặt lịch sử Nam tiến, theo chúng tôi, ngay từ khi Đào Duy Từ cho xây lũy Trường Dục năm 1630, con đường Nam tiến, di dân đã thực sự bị cắt đứt. Và như đã phân tích(52) đây là cái biên giới một con chuột đi cũng không lọt. Có một số tù binh bị bắt trong 7 cuộc giao tranh nhưng số lượng là không đáng kể. Duy nhất trận đánh ra Nghệ An năm 1648 bắt được ba vạn tù binh, có tài liệu nói chỉ 3.000, theo chúng tôi con số 3.000 hợp lý hơn: Thủy tổ họ Nguyễn Tây Sơn cũng bị bắt và an tháp vào Bình Định giai đoạn này(53).

Chưa ghi nhận được gia phả nào ở Quảng Nam có thủy tổ cũng là tù binh bị bắt năm 1648 như thủy tổ nhà Tây Sơn. Có thể lúc này Quảng Nam đã đất chật, người đông; hơn nữa Quảng Nam đã là vùng đất ổn định, dinh trấn Thanh Chiêm được chúa Nguyễn cho xây dựng như một trung tâm đầu não chính trị, quân sự ngay bên bờ bắc sông Thu Bồn; vùng đất cần người Kinh đến “coi ngó” là các tỉnh phía nam gồm Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận; vì vậy sự “an tháp” là ở các tỉnh phía Nam chứ sẽ không có ở vùng đất như đã là kinh kỳ của Quảng Nam.

Có nghĩa là, theo chúng tôi ở đất Quảng Nam sẽ không có tộc họ nào mới kể từ 1627. Lát cắt 1627 này góp phần không nhỏ trong việc tạo nên bản sắc, mặc dù đã định hình và khó có thể thay đổi được nữa, nhưng năm 1627 vẫn là dấu mốc quan trọng vì nó cho biết những tộc họ nào xuất hiện ở Quảng Nam sau 1627, tức đến nay ít hơn 16 đời, đều cần phải “đặc biệt chú ý”, nhất là không thể tùy tiện bảo vào Nam theo Lê Thánh Tông bình Chiêm được.

Nhưng số lượng thế nào chăng nữa thì chắc chắn ở đó cũng có đủ tất cả các họ của người Việt, và đây là những “thủy tổ” cuối cùng của các dòng họ ở Quảng Nam và có số đời đến nay ít nhất phải là 14. Từ đó đến 1671 Trịnh - Nguyễn nhiều lần đem quân đánh ra hoặc đánh vào, có thể giai đoạn này có thêm một ít tù binh nữa nhưng không thấy sử chép thành vấn đề. Và đến 1671 thì hai họ thôi chiến tranh, lấy sông Gianh làm ranh giới Nam Bắc.

200 năm với nhiều biến động nhưng xuyên suốt trong đó ta thấy hình ảnh người Việt sống lẫn với người Man. Và điều không tránh khỏi là những cuộc hôn nhân. Thậm chí những cuộc hôn nhân chồng Việt vợ Chàm giai đoạn này là rất phổ biến, phổ biến đến mức 1499 Lê Hiến Tông ra sắc chỉ: “Kể từ nay, trên từ thân vương, dưới đến dân chúng, đều không được lấy đàn bà con gái Chiêm Thành làm vợ, để cho phong tục được thuần hậu”(54).

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.