Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 480 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
A - PHẦN XÂY DỰNG CÔNG CỤ - I. ĐỊA GIỚI

❊ ❊ ❊

Ban đầu, giới hạn không gian mà chúng tôi dự định khảo sát là nguyên vẹn tỉnh Quảng Nam bao gồm thành phố Đà Nẵng hiện nay, kéo dài từ Nam đèo Hải Vân đến hết huyện Núi Thành; thế nhưng trong quá trình nghiên cứu chúng tôi nhận ra sông Thu Bồn, tức sông Chợ Củi trong các thư tịch cổ, thực sự đóng vai trò quan trọng, phân chia tỉnh Quảng Nam ra làm hai phần Bắc Quảng Nam và Nam Quảng Nam với những đặc điểm lịch sử không thể nhập làm một.

Đó chính là vì Bắc sông Thu Bồn(9) đến Nam Hải Vân đã thuộc Việt ngay từ 1306, còn Nam sông Thu Bồn chỉ thuộc vào Việt kể từ 1402, nhưng chỉ trong vòng 5 năm rồi sau đó trở lại với Chămpa, mãi đến 1471 mới thực sự thuộc vào Việt vĩnh viễn. Gần 170 năm là quãng thời gian quá dài để đến nay ta thấy giọng nói của người Quảng Nam ở Nam sông Thu Bồn (bao gồm các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước, Hiệp Đức, Tam Kỳ, Núi Thành) khác khá rõ với giọng nói người ở Bắc sông Thu Bồn (bao gồm các huyện Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Hội An và TP Đà Nẵng). Sự khác nhau này rõ ràng là biểu hiện của 170 năm chia cắt, chúng ta sẽ khảo sát kỹ hơn trong chương nói về giọng nói người Quảng Nam.

Image

Đèo Hải Vân, sông Thu Bồn và những địa danh được đề cập đến.

Sự khác biệt này mạnh mẽ đến mức sau 1471, khi đất nước đã kéo dài đến hết tỉnh Bình Định. Lê Thánh Tông phân chia lại các đơn vị hành chính thì Bắc Quảng Nam vẫn thuộc Thuận Hóa bất kể sự trở ngại do đèo Hải Vân gây ra. Thậm chí điều này còn tiếp tục mãi cho đến 1604 Bắc Quảng Nam mới tách khỏi Châu Hóa thuộc vào Quảng Nam đến ngày nay.

Dưới góc nhìn này, chúng ta thấy quả thật, sông Thu Bồn đã đóng một vai trò không hề nhỏ trong suốt chiều dài lịch sử, góp phần tạo nên những vùng bản sắc khác nhau, không thể bỏ qua trong bất cứ nghiên cứu nào về tỉnh Quảng Nam.

Trong lịch sử, trước khi thuộc Việt, đây là vùng đất thuộc Chiêm Thành(10), một quốc gia gồm nhiều vương triều hình thành từ thế kỷ II sau công nguyên kéo dài đến thế kỷ XV-XVI. Trước thế kỷ X kinh đô Chiêm Thành đóng ở vùng Trà Kiệu nay thuộc xã Duy Sơn huyện Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam. Các nhà nghiên cứu đất nước Chămpa người Pháp và cả các nhà nghiên cứu sau này, đều hầu như thống nhất rằng các giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của đất nước Chiêm Thành chính là thời kỳ mà kinh đô còn đóng trên vùng đất Quảng Nam hiện nay. Điều này chắc chắn sẽ có một số ý nghĩa nhất định nào đó tác động đến bản sắc lịch sử để hình thành nên bản sắc văn hóa của vùng đất này.

Năm 1306, thời Trần, vùng đất này sáp nhập vào Đại Việt, thuộc châu Hóa (lỵ sở thành Hóa Châu đóng ở ngoại ô thành phố Huế hiện nay); trở thành huyện Điện Bàn thuộc thừa tuyên Thuận Hóa thời Lê, phủ Điện Bàn thừa tuyên Quảng Nam thời chúa Nguyễn; ngày nay là địa bàn các huyện và thành phố như đã nói.

Khoanh sự khảo sát lại ở vùng Bắc Quảng Nam chúng tôi cũng đã chọn lấy vùng đất mà sự tranh chấp giữa Đại Việt và Chămpa diễn ra quyết liệt và dai dẳng nhất. Các tỉnh như Quảng Ngãi, Bình Định sự tranh chấp cũng có xảy ra nhưng đã không quyết liệt và dai dẳng bằng. Trong 100 năm đầu tiên, 1306 - 1402, người Việt là số ít, hoàn toàn chịu ảnh hưởng của người Chàm. Nhưng trong 7 năm dưới thời nhà Hồ thì người Việt tràn vào với số đông và hoàn toàn cai trị vùng đất này. Thế nhưng khi thuộc Minh thì người Chàm lại hoàn toàn làm chủ đất này cho đến 1471 Lê Thánh Tông bình Chiêm thì người Việt mới quay lại thực sự quyền thống trị. Sau 1471 thì người Việt lại nắm lấy quyền lực nhưng chính quyền chưa đủ mạnh để có thể hoàn toàn điều khiển xã hội, các tổng trấn đều được gọi là “thổ quan” như trường hợp Bùi Tá Hán trong Sử Ký Toàn thư đã gọi. Đây là giai đoạn hai cộng đồng Việt - Chàm sống tương đối bình đẳng với nhau cho đến khi Nguyễn Hoàng vào Nam. Ở các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định sự việc có thể cũng đã diễn ra một cách tương tự nhưng chắc chắn là ở cấp độ ít gay gắt hơn vì người Chàm luôn là số đông; người Việt vào trước 1402 xem như rất ít, không đáng kể. Sau 1402, 7 năm dưới thời nhà Hồ người Việt có vào nhưng có lẽ rút đi nhanh chóng khi nhà Hồ sập. Ở các tỉnh này hoàn toàn không tìm thấy dòng họ nào có số đời 25-27 như một số tộc họ ở Quảng Nam. Người Việt thực sự đến các tỉnh này kể từ sau 1471 và từ ít đã nhiều lên dần bên cạnh số lượng người Chàm đông đúc. Những nhận định này rõ ràng cần được chứng minh. Xin xem các chương nội dung.

Ở bề ngang chúng ta cũng cần phải xác định biên giới khảo sát. Các sử liệu và ghi chép đã biết đều chủ yếu tập trung vào mô tả đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của các vùng dân cư thị tứ ven biển và hầu như bỏ qua các vùng nông thôn xa về phía tây, nhất là các xã, huyện thuộc vùng trung du như Tiên Phước, các xã miền tây huyện Quế Sơn, các xã vùng B huyện Đại Lộc.

Chạy suốt chiều dài ven biển tỉnh Quảng Nam hiện nay là sông Trường Giang. Đây là con đường giao thông huyết mạch quan trọng và chủ yếu của Đại Việt và Đàng Trong trong tất cả các thời kỳ. Các tàu bè giao thông đường thủy nội địa thường chọn con đường trên các sông hoặc đầm phá ven biển. Phủ Biên Tạp Lục cho thấy con đường thiên lý lúc ấy là những chặng đi bộ nối tiếp những chặng đi ghe, thuyền. Dọc sông Cổ Cò từ Đà Nẵng vào Hội An, cũng như sông Trường Giang từ Hội An vào đến Bến Ván, Núi Thành hiện nay chúng ta còn nhìn thấy rất nhiều ngôi mộ cổ của người Việt giai đoạn thế kỷ XV đến XVII. Chùa Vạn Đức, một trong những chùa cổ nhất ở Hội An xây dựng đầu thế kỷ XVII đã có hướng chính là hướng ra sông Cổ Cò. Khi sông Cổ Cò bị bồi lấp chùa mới sửa hướng theo đường bộ như chúng ta thấy hiện nay. Trên cái trục giao thông đường thủy quốc gia này các làng xóm, thị tứ đã hình thành và được ghi chép, mô tả trong tất cả các sử liệu trong nước cũng như các ghi chép của các thương nhân, tu sĩ phương Tây mà chúng ta đã biết, về vùng đất này.

Trong khi đó, cách sông Trường Giang, sông Cổ Cò chừng trên dưới 20 cây số về phía tây, các làng xóm dân cư đều vắng bóng trong tất cả các sử liệu hoặc các ghi chép đã biết. Chúng ta không có cứ liệu để có thể nói rằng khi người Việt đến các vùng đất này, cho dù là thời kỳ nào đi nữa, thì đó là vùng rừng núi hoang vu, và họ là người đầu tiên đến để khai phá hay nơi đó đã có những làng xóm của người Chàm đã sinh sống hàng trăm năm trước đó. Chúng ta gặp rất nhiều những câu như: Thủy tổ dòng họ, đã đến nơi này khai canh lập ấp, khẩn hoang lập điền, v.v… trong hầu hết các gia phả ở Quảng Nam, nhưng không phải vì thế mà chúng ta tin rằng họ đã thực sự đặt chân đến một nơi hoang địa, rừng rú rậm rạp, không bóng người. Người Chàm đã sinh sống trên vùng đất này từ nhiều trăm năm trước và dấu vết của họ để lại có thể nói là khắp nơi. Làng Thanh Quýt dày đặc các di tích Chàm, vùng B Đại Lộc cũng nhiều lắm những “mỏ” gạch Chàm chìm trong đất. Không thể nói những vùng đất đai trù phú, màu mỡ ấy người Chàm đã bỏ đi hết khi người Việt đến. Họ có ở lại hay không và họ ở lại những đâu, đến năm nào thì mới thực sự biến mất? là những câu hỏi sớm hay muộn cũng cần phải được trả lời. Dấu ấn những người ở lại khi va chạm với cộng đồng người Việt không khỏi đã để lại những dấu vết (nếu ta hình dung đó là hai cộng đồng tộc người không thể hòa nhập) là như thế nào?

Và đó là mục đích mà chúng ta sẽ cố công tìm hiểu, hay chí ít, đặt những viên đá đầu tiên trên con đường tìm hiểu những gì đã xảy ra trên vùng đất này suốt từ 1306 đến 1802.

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.