7/ 1627 – 1775 150 năm chia cắt tuyệt đối: Đứt mạch nguồn với bản quán lần thứ III, hay vai trò của lũy Trường Dục trong việc hình thành bản sắc Đàng Trong

Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 503 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
7/ 1627 – 1775(55) 150 năm chia cắt tuyệt đối: Đứt mạch nguồn với bản quán lần thứ III, hay vai trò của lũy Trường Dục trong việc hình thành bản sắc Đàng Trong

❊ ❊ ❊

NHỮNG DÒNG HỌ ÍT HƠN 16 ĐỜI LÀ Ở ĐÂU RA?

Biên giới Trịnh-Nguyễn là biên giới quân sự, không được qua lại. Năm 1716 chúa Nguyễn Phúc Chu mật sai hai người khách (Tàu) buôn Phước Kiến là Bình, và Quý (không rõ họ) sang Quảng Tây rồi qua ải Lạng Sơn mà vào Thăng Long để xem xét tình hình Đàng Ngoài. Vào đến Nghệ An thì không thể đến Bố Chính được vì Trấn thủ là Lê Thời Liêu cấm ngặt, ai không có giấy hộ chiếu của các trấn, ty cấp thì không được vào châu Bố Chính(56). Có nghĩa là, như ta thường nói, một con chuột cũng không lọt! Thậm chí đến 1738 Lê Duy Mật là con vua Dụ Tông ly khai chống Trịnh, xin chúa Nguyễn mở cửa biên giới đón nhận rồi hợp lực chống Trịnh. Lời thư rất tha thiết nhưng Chúa Nguyễn chỉ hậu đãi sứ giả rồi từ khước việc mở cửa biên giới. Rõ ràng suốt giai đoạn 1671 về sau (đến năm 1775 quân Trịnh tiến vào Phú Xuân. Chúa Nguyễn không chống nổi phải bỏ chạy vào Quảng Nam. Quân Trịnh chiếm toàn bộ Thuận Hóa, lũy Trường Dục bị phá) những cuộc di dân là hoàn toàn chấm dứt, tù binh cũng không còn. Có thể có một số dân vượt biên bằng đường biển, đường núi nhưng chắc chắn là số lượng không đáng kể và không đủ để tạo nên vấn đề.

Những cuộc di dân sau Tây Sơn không còn dừng lại ở vùng Quảng Nam nữa(57).

Tác giả Huỳnh Công Bá trong luận án Phó Tiến sĩ: “Công cuộc khai khẩn và phát triển làng xã ở Bắc Quảng Nam từ giữa thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVIII” khảo sát gia phả của 63 dòng họ ở phía bắc Quảng Nam ghi là tổ tiên của họ đã tới đây trong chiến tranh Trịnh Nguyễn: “Dưới sự cai trị của chính quyền Lê Trịnh, xã hội Đàng Ngoài ngày càng thối nát, tiêu điều. Để trút gánh nặng thuế khóa, dao dịch, thiên tai, cơ cận, người Đàng Ngoài không còn con đường nào khác là phải bỏ đất bỏ làng tiếp tục xuôi nam” và tác giả thống kê được nguyên quán của các tộc họ đến Bắc Quảng Nam giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh có trên 64 tộc họ chủ yếu thuộc các địa phương Nghệ An, Thanh Hóa, Hải Dương và Thăng Long; trong đó Nghệ An là địa phương chiếm tỉ lệ lớn nhất (50%)(58). Chưa có dịp để khảo sát gia phả các tộc họ này thế nhưng chúng tôi tin rằng nếu khảo sát kỹ chúng ta sẽ thấy cơ sở để khắng định các tộc họ này vào Nam giai đoạn sau 1627 sẽ là thiếu chắc chắn; nếu không có số đời không tương thích với số năm thì cũng sẽ là một chi, nhánh nào đó ở Thuận Hóa hoặc nơi khác di chuyển đến lập họ mới; bởi đơn giản, lũy Trường Dục sau 1627 là bất khả xâm phạm!

Cũng giống như sự chấm dứt di cư năm 1407, sự chấm dứt di cư năm 1627 chính là điều kiện cần có để sự giao thoa đã hình thành đi vào ổn định, không bị pha trộn thêm, để cố định một bản sắc vững bền đến mức nhiều biến động sau này cũng không thay đổi.

Có một câu hỏi cực lớn được đặt ra là: Những người miền Bắc cuối cùng vào tạo nên các dòng họ là những năm 1627 đến nay tròn 380 năm. Cứ tối thiểu 24 năm là một đời thì đến nay ít nhất cũng đã được 16 đời. Vậy những dòng họ có số đời ít hơn 16 là ở đâu ra? Phải chăng phần lớn trong số đó là những người Chàm mang họ Việt và đã thực sự quên gốc gác?

Số dòng họ có số đời như thế, dưới 16, ở Quảng Nam lại khá nhiều, thậm chí rất nhiều. Lý do đưa ra có thể là số ông bà thủy tổ vào trước 1627 ấy ít học, không ghi chép gì. Đến nhiều đời sau khi con cháu có người có điều kiện học hành thì mới tiến hành ghi chép làm gia phả. Dĩ nhiên là vậy nhưng điều này không thể giải thích được là tại sao lại có những làng, những xã không tìm đâu ra một dòng họ có số đời trên 16? Chưa có công trình điều tra về chuyện này nhưng một số nơi chúng tôi biết được tuy là đất có dấu vết Chămpa (tức đã có người ở lâu đời) nhưng khó tìm thấy một nhà thờ tộc họ, ý niệm về dòng họ khá mờ nhạt, nếu có thì không có một họ nào quá con số 12 đời, đa phần là tộc Nguyễn Văn. Tại sao vậy?

Vâng, thật khó, nếu không nói là hoàn toàn không có, một dòng họ nào tự xác nhận rằng ông bà tổ tiên của mình không phải là người Việt, không phải từ miền Bắc di cư vào. Ngay trong trường hợp duy nhất là tộc Phan ở hai làng Đà Sơn - Đà Ly ở Hòa Minh, Liên Chiểu, Đà Nẵng gia phả vốn viết bằng chữ Chiêm: “cùng kê các đời từ thượng cổ, trung cổ cho đến cận cổ đều viết bằng chữ khoa đẩu”, tuy trong gia phả có chỗ ghi rõ: “Dòng giống họ Lê gốc người động Thanh Lam, cùng một nòi giống Chiêm của ta…”(59), hoặc “Thời cận cổ lại dời vào Đà Bàn, đổi hiệu nước là Chiêm Thành… tiếp nối các đời làm chủ đất nước, gồm 68 thế kỷ. Các thế hệ đều dùng chữ khoa đẩu để biên chép”(60).

Thế nhưng rồi cũng dựa vào câu “Thủy tổ chúng ta là vua Lạc sinh ra tộc chúng ta. Thời thượng cổ lưu dấu cũ ở động Thạnh Lam hiệu là bộ Việt Thường, thời trung cổ dời vào Lâm Châu, cận cổ lại dời vào Đà Bàn, đổi hiệu nước là Chiêm Thành…” để hiện nay con cháu tộc này khẳng định gốc gác Việt không thể cãi của mình, thì chúng ta sẽ không bao giờ hy vọng có thể tìm ra một tộc họ thuần Chàm nào. Ngay cả các tộc họ Ông, Ma, Trà, Chế cũng vậy, tộc nào cũng có một lý do nào đó để khẳng định dòng máu Việt từ những di dân phương Bắc vào(61).

Sau khi chiến thắng Chiêm Thành trở về, tháng 9/1471 vua Lê Thánh Tông ra sắc chỉ: “Những người nguyên là quan lại ngụy, những người là cha Ngô mẹ Việt, bọn phản nghịch và người Ai Lao, Chiêm Thành hết thảy là nô tỳ của nhà nước. Con cái còn bé cho thay đổi họ tên làm dân thường”. Đến tháng 9 năm 1472 lại ra sắc chỉ: “cho Thái bộc tự khanh xét họ tên của bọn người Chiêm, người Man. Họ của người Chiêm thì mới cũ theo đúng quy chế, họ của người Man thì dồn lại” (Trong kho Hán Nôm có còn lưu giữ lại cái quy chế này?). Ta không hiểu được quy chế đặt ra cho việc đặt họ của người Chiêm là như thế nào nhưng biết chắc một điều rằng từ nay người Chiêm phải ghi họ tên mình bằng chữ Hán. Những con cái có cha mẹ “cứng đầu” thì phải mang họ Việt và trở thành người Việt. Ngoài một số họ như Ông, Ma, Trà, Chế rất đặc trưng họ Chàm ra ta còn biết một số họ được viết và đọc bằng âm Hán là Phạm, Phan, Đặng, Đinh…

Đến thời các chúa Nguyễn thì nhà nước luôn cần tăng cường sức mạnh quân sự và một trong những điều phải làm là nắm chắc dân số, tiến hành làm hộ tịch, hộ khẩu của tất cả các địa phương, kể cả các thôn xóm xa xôi hẻo lánh nhất. Một điều tất nhiên phải xảy ra đối với những “cán bộ” đi làm hộ tịch, hộ khẩu khi đến các gia đình, thậm chí các làng người Chàm 100%, như trong Ô Châu Cận Lục đã nói, chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi ghi tên họ của những người Chàm bằng chữ Hán, nhất là đối với đa số dân Chàm trong các làng nông nghiệp hoặc chài lưới (như vùng Nại Hiên Đông chẳng hạn) đều ít học và không biết chữ.

Người Chàm không có họ, vua Lê Thánh Tông đã có một sắc chỉ về chuyện này nhưng chúng ta không biết các chúa Nguyễn xử lý chuyện này như thế nào. Ở phường Nại Hiên Đông-Đà Nẵng chúng tôi gặp rất nhiều người có tên ghi giấy khai sinh là Chén, Đóc, Nư, Tồi, Hứ, Gà, Cốc, Rô, Mãi… Giả sử, xin nhắc lại là giả sử, những người đó là người Chàm thì ông “cán bộ” hộ tịch, hộ khẩu làm sao phân biệt thằng Rô này với thằng Rô kia, làm sao phân biệt được thằng Hứ với con Hứ? Mà chuyện đó thì rất quan trọng trong việc gọi quân. Hình như các “cán bộ” hộ tịch hộ khẩu thời các chúa Nguyễn giải quyết bằng cách: Thôi thì mầy lấy đại họ gì đó cũng được, miễn là cha con giống nhau, con trai thì đệm chữ Văn, con gái thì đệm chữ Thị. Tình hình có thể cũng đã diễn ra giống như cuối thế kỷ XX ở các huyện miền núi Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và cả Tây Nguyên nhiều người lấy họ theo họ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Họ Nguyễn Văn ở Quảng Nam nhiều, nhiều một cách bất thường, có phải cũng là vì như thế?

Chỉ cần qua 3 đời là những người con người cháu sẽ nghĩ rằng mình có họ đó thật rồi, mình là người Việt thật rồi! Thêm nữa, qua câu khấn của bài văn tế cúng đất của người Quảng Nam: “Ma Chàm, ma Chợ, ma Mọi, ma Rợ, thương vong đói khát, ma Lồi, ma Lạc, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh, đẳng chúng cô hồn đồng lai thụ hưởng” giúp ta hiểu những người Chàm ở lại họ mong muốn càng mau chóng quên gốc gác càng tốt, họ không kể gốc gác lại cho con cháu, nếu có thì cũng chỉ 2, 3 đời là hết. Trong kho lưu trữ Hán Nôm thời Nguyễn có ở đâu đó chép lại sự kiện này? Nếu không thì trong thực tế, ít ra cái giả định như thế nó cũng góp phần giải thích được là tại sao ở Quảng Nam lại có những làng, những xóm toàn là họ Nguyễn, gia phả hình thành nhiều lắm chỉ 10, 12 đời. Vùng Quảng Ngãi, Bình Định nay cũng rất ít có họ nào trên 14 đời nhưng đó có thể là những di dân đi từ Quảng Nam sau 1648. Nếu ở đó có những dòng họ không phải có gốc Quảng Nam thì sao? Và đó mới là con số đông tuyệt đối ở vùng này!

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.