Liệu có thể biết được dân số người Chàm lúc này? Đây là chuyện gần như bất khả bởi người Chàm không để lại bất cứ văn bản nào đề cập xa gần đến chuyện này. Số lượng đơn vị hành chính địa phương của họ, điều khả dĩ có thể suy ra số dân, không hề có tài liệu nào đề cập đến. Tuy vậy, trong một số trường hợp, số quân lính tham gia các trận chiến thì thường được ghi lại và từ đó ta có thể suy ra số dân theo nguyên tắc trung bình mà các nhà nghiên cứu vẫn thường dùng là cứ 4-5 dân thì có một người là đinh (người tuổi trai tráng mà nhà nước quản lý và sẵn sàng sung quân khi nhà nước kêu gọi), và thường 2 đinh thì có một người tại ngũ. Có nghĩa là, các con số về hộ tịch hộ khẩu là số đinh. Và từ số đinh này nhân với trên dưới 10 ta sẽ có được số dân gần với thực tế.
Tống Sử nói Chămpa có 38 huyện và dưới 30.000 gia đình vào thời Harivarman III (1074-1080). Li Tana cho rằng dân số Chiêm Thành như vậy là rất thưa thớt tuy nhiên nếu xét đến tỷ lệ phát triển dân số hằng năm ở mức tối thiểu ta sẽ thấy rằng Tống Sử nói về số dân Chiêm Thành như vậy cũng khá là chính xác. Tạm cho rằng mỗi gia đình có 5 người thì với mức tăng dân số trung bình của thời trung cổ tối thiểu là 1,5% mỗi năm, sau 400 năm, vào giữa thế kỷ XV ta đang xét, thì dân số Chiêm Thành cũng đã xấp xỉ trên dưới một triệu người(78).
Minh Thực Lục có chép vào năm 1450, người Việt đã mang quân tiến đánh Chiêm Thành và đưa về Việt Nam 33.500 người Chàm(79). Sử Ký Toàn Thư năm 1450 không thấy chép sự kiện này. Chỉ tháng 12 năm 1445 lệnh cho Lê Khả đem 60 vạn quân đi đánh Chiêm Thành. Nếu lần tiến đánh này bắt 33.500 người như Minh Thực lục chép thì có thể hình dung chí ít lực lượng binh lính của Chiêm Thành phải gấp 3 lần con số ấy, tức 100.000 binh lính. Từ đó suy ra dân số Chiêm Thành lúc ấy cũng trên dưới một triệu người.
Phép ước tính trên đây không phải do chúng tôi nghĩ ra mà được các nhà khoa học Liên Xô trước đây sử dụng rất nhiều trong các phương pháp dự đoán tương lai(80). Trong những trường hợp thiếu các số liệu trực tiếp chúng ta vẫn có thể dùng những con số gián tiếp, trên cơ sở logic cuộc sống đã biết, để suy ra con số gần đúng với thực tế. Ví dụ như trường hợp tính toán số dân Chiêm Thành ở trên, chúng tôi cho rằng 33.500 người là con số tù binh tối đa có thể có được trong thời kỳ đó giữa hai nước Đại Việt và Chiêm Thành. Và thứ hai nữa, tỉ lệ 1/3 tù binh bị bắt là một tỉ lệ tương đối, không chắc chắn, thế nhưng khi ta có thêm một tỉ lệ nữa là 4-6 người dân có một người đinh, và 2 đinh có một người tại ngũ thì sai số sẽ giảm đi khá nhiều. Ví dụ như thay 1/10 bằng 1/5 hoặc 1/15 rồi nhân với 2 rồi nhân với 4 hoặc 5 thì trong các trường hợp không quá cực đoan ta vẫn có được con số xấp xỉ 1.000.000 người dân Chiêm Thành vào lúc ấy.
Như vậy là cả hai phép tính, dựa vào tỷ lệ phát triển dân số tối thiểu hằng năm và sử liệu của Minh Thực lục, chúng ta đều có số dân Chiêm Thành vào giữa thế kỷ XV là trên dưới 1 triệu người.
Đó là con số không phải ít nếu so với Đại Việt lúc ấy, 1450, theo tính toán của Li Tana là gần 3 triệu người(81). Tỉ lệ dân số giữa hai nước như trên là có thể chấp nhận được xét trên mối tương quan quân sự giữa hai nước cũng như các trận chiến đã diễn ra trong thế giằng co dưới thời Chế Bồng Nga trong những năm cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV(82).
Và tư liệu cuối cùng giúp ta có thể hình dung dân số Chiêm Thành ngay năm 1470 là con số trong SKTT: “Tháng 8, quốc vương Chiêm Thành Bà La Trà Toàn thân hành đem hơn 10 vạn quân thủy bộ cùng voi ngựa đánh úp thành Hóa Châu” và đến tháng 11 thì Lê Thánh Tông “gọi 26 vạn tinh binh, xuống chiếu (bình Chiêm) thân chinh” đi đánh Chiêm Thành(83). Con số 10 vạn quân Chiêm Thành là con số của Đại Việt nên có thể là con số cường điệu để nhấn mạnh việc cấp bách phải tiêu diệt quân giặc đang xâm lấn bờ cõi. Hơn nữa việc chỉ đánh thành Hóa Châu cũng không cần đến con số quân đông đến vậy. Thế nhưng chi tiết quân số Chiêm Thành bị tiêu diệt khi Đại Việt kéo vào Đồ Bàn “bắt sống hơn 3 vạn, chém hơn 4 vạn thủ cấp”(84) (Cương Mục chép là chém 6 vạn quân lính) cùng với vài vạn quân bị diệt ở Tân Yểm, Cựu Tòa (thuộc cửa biển Kỳ Hà huyện Núi Thành nay). Quân số Chiêm Thành cũng xấp xỉ với 10 vạn binh đúng như SKTT ghi.
Và từ đó suy ra số dân Chiêm Thành là trên dưới 1 triệu người là có thể chấp nhận được. Hơn nữa, quân số Đại Việt đi đánh Chiêm Thành năm 1471 là 26 vạn, đặt trong các mối tương quan lực lượng ta thấy cũng vẫn giữ được tỉ lệ dân số Đại Việt gấp 3 lần dân số Chiêm Thành là tỉ lệ khá gần với sự thật.
Như vậy một triệu người dân Chiêm Thành là con số không phải quá xa hoặc khó chấp nhận. Một triệu người cho vùng đất từ đèo Hải Vân đến Bình Thuận dài 700 cây số của miền Trung đất hẹp là mật độ không phải quá thưa. Ở miền Trung, vùng đồng bằng Quảng Nam là một trong số ít vùng đất có thể canh tác lúa nước. Hơn nữa, ở đây còn có sông Thu Bồn là con sông lớn, nhiều nguồn tài nguyên; lại có một thành lũy là Câu Chiêm bên cạnh kinh đô cũ là Trà Kiệu và thánh địa Mỹ Sơn nên việc từ bỏ vùng đất này để ra đi là điều vô cùng khó với người Chàm về cả ý nghĩa kinh tế cũng như đời sống tâm linh. Hơn nữa ta có rất nhiều ghi chép chứng tỏ người Chàm vẫn ở lại trên đất Quảng Nam - Đà Nẵng ngày nay giai đoạn trước 1471. Sự kiện quan trọng nhất để chứng minh là năm 1471, khi Lê Thánh Tông đến Châu Hóa, đã bắt sống Bồng Nga Sa là viên lại giữ cửa sông Cu Đê (sông chảy sát chân núi Nam Hải Vân) của nước Chiêm(85).
Khi vùng đất đã có người ở từ lâu đời, cho dù qua binh biến đã mất chủ quyền nhưng vẫn còn hai đồn lũy là Cu Đê và Câu Chiêm như vậy thì chẳng hà cớ gì mà “bỏ đi cả”. Hơn nữa, quan hệ Đại Việt và Chiêm Thành giai đoạn hai thế kỷ XIV-XV này ta thấy khá kỳ lạ. Việc các quan, tướng giữa hai nước chạy sang hàng rồi được bao dung xảy ra khá thường xuyên và phổ biến. Đến như hai con của Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan và em là Chế Sơn Nô, với ý thức tự hào dân tộc và người cha anh hùng là khá lớn, thế nhưng khi ngôi vua rơi về tay người khác sau khi Chế Bồng Nga chết, họ đã chạy sang Đại Việt chứ không chạy vào Nam, sang Xiêm cầu viện hoặc lên Tây Nguyên để xin cư trú; thì được Đại Việt phong Ma Nô Đà Nan làm Hiệu Chính Hầu, Sơn Nô làm Á Hầu(86). Sau đó, vào năm 1407, Nguyễn Rỗ là tướng của nhà Hồ cai trị Chiêm Thành, nhưng khi nhà Hồ mất đã quay lại hàng Chiêm Thành và vẫn được Chiêm Thành cho làm quan to(87). Rồi sự kiện tộc Phan làng Đà Sơn. Có thể rút ra được điều gì qua những sự kiện như vậy? Theo chúng tôi, quan hệ Đại Việt-Chiêm Thành là mối quan hệ không quá gay gắt như chúng ta vẫn hình dung hôm nay. Có thể chăng vào lúc này mối quan hệ của cộng đồng dân cư giữa hai dân tộc đã quá gắn bó, do hôn nhân, do đều là miền biên viễn. Sự chiến tranh thực ra chỉ tồn tại trong ý thức của những nhà cầm quyền, trong tầng lớp chính trị, còn dân cư của cả hai tộc người ở đây đều xem nhau như anh em một nhà nên việc thuộc về ai là điều không quan trọng? Hơn nữa, trước đó, giai đoạn nhà Trần, hai nước đã có một thời gian dài có mối giao hảo quá thân thiết nên việc “bỏ đi cả” là chuyện càng khó xảy ra. Ngay cả trong trận đánh kinh thành Trà Bàn năm 1445 của tướng quân Lê Khả bắt về 33.500 tù binh mà Minh thực lục chép ấy lại được SKTT chép khá nhẹ nhàng rằng: Tháng 6 (1446) đem chúa Chiêm Thành Bí Cai làm lễ dâng tù cáo thắng trận ở Thái Miếu. Sau đó chỉ giữ chúa Bí Cai và ba người phi tần ở kinh sư, còn những người Chiêm khác đều cho đưa về nước; Ma Ha Quỷ Lai dâng biểu xưng thần, xin làm vua Chiêm Thành(88)”. Thái độ khoan dung ấy đã khiến người Chàm sau đó liên tục quấy nhiễu miền Thuận Hóa để Đại Việt phải động binh một trận quyết định vào năm 1471. Sự kiện này cho phép chúng ta hiểu rằng tuy bị đánh và vua bị bắt thế nhưng họ chưa phải vì thế mà bỏ đi cả.
Vấn đề người Chàm ở lại cũng đã được Phan Khoang cảm nhận và đề cập đến 2 lần nhân hai sự kiện quan trọng là 1306 và 1471, trong “Việt sử Xứ Đàng Trong”:
(1306) “Với tình thân thiện giữa hai dân tộc, người Chiêm chắc đã ở lại đông, sự phối hợp hôn nhân chắc đã thường thấy, và ấy là cơ hội độc nhất trong lịch sử bang giao Chiêm Việt mà những ảnh hưởng lẫn nhau trong các phương diện sinh hoạt giữa hai dân tộc được thăng tiến”. Và (1471): “Trái với trước kia, người Chiêm đã bỏ Chiêm Động, Cổ Lũy Động mà đi khi di dân ta đến, lần này người Chiêm không đi, vì biết rằng đất đai phía nam không màu mỡ bằng Vijaya, và cũng không còn hy vọng báo phục, nên chấp nhận lệ thuộc ta”(89).
Không thấy Phan Khoang nói về số phận cũng như những dấu ấn mà số người Chàm ở lại ấy trong cộng đồng dân cư xứ Đàng Trong sau này. Ngay các cảm nhận ấy của Phan Khoang, nếu xét thật kỹ trong cái nhìn phân kỳ ta sẽ thấy mọi chuyện đã không hẳn như vậy. Năm 1306, nếu có nói đến chuyện người Chàm ở lại thì chỉ có thể nói trên vùng Bắc sông Thu Bồn, sự phối hợp hôn nhân giai đoạn này là khá quan trọng, có tính tiền đề cho những bước phát triển về sau, nó hoàn toàn khác với chuyện người Chàm ở lại và các cuộc hôn nhân Chàm-Việt trong các giai đoạn sau! Hơn nữa, nếu chỉ có vậy mà bảo rằng đó là “cơ hội độc nhất trong lịch sử bang giao Chiêm Việt” thì e rằng sẽ xem nhẹ các sự kiện sau đó cũng quan trọng không kém.
Chính vì thiếu một cái nhìn phân kỳ với những đặc điểm của từng giai đoạn mà Phan Khoang cũng cho rằng trước 1471 “người Chiêm đã bỏ Chiêm Động, Cổ Lũy (Quảng Nam - Quảng Ngãi nay) mà đi khi di dân ta đến”. Nhà Hồ lấy Chiêm Động và Cổ Lũy thì người Chiêm có bỏ đi không? Xin thưa là không! Ngoài hai người con trai của Chế Bồng Nga là Chế Ma Nô Đà Nan và Chế Sơn Nô nhà Hồ còn có Chế Đa Biệt và Mộ Hoa Từ Ca Diệp(90), những người Chiêm này liệu có giữ chân người Chiêm ở lại chứ không phải bỏ Chiêm Động và Cổ Lũy ra đi cả? Hơn nữa, sau khi chiếm lấy Chiêm Động và Cổ Lũy, “Hán Thương lấy Hiệu Chính hầu Chế Ma Nô Đà Nan (con trai Chế Bồng Nga) làm Cổ Lũy huyện Thượng Hầu, trấn giữ châu Tư, Nghĩa chiêu dụ vỗ về dân chúng người Chiêm để mưu lâu dài”(91). Hoàn toàn không có bằng chứng nào cho thấy “người Chiêm đã bỏ Chiêm Động, Cổ Lũy mà đi khi di dân ta đến” như Phan Khoang nói; đó là chưa nói, ngay 1471, vua Lê Thánh Tông cũng vẫn phải lấy những người Chiêm đầu hàng Ba Thái, Đa Thủy, Đỗ Tử Quy, Lê Ỷ Đà… để cai trị dân ở các châu, động từ Thu Bồn đến Trà Khúc(92). Người Chiêm không có ở đó thì Lê Thánh Tông lấy người Chiêm làm quan để làm gì? Điều này có nghĩa rằng các làng Chàm ở vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi vẫn còn nguyên vẹn sau sự kiện 1471.
Cùng với tộc Phan làng Đà Sơn, người Chàm ở lại trên đất Đà Nẵng, Quảng Nam ngày nay như vậy là có thể hình dung được. Với dân số 1 triệu người, một số dân không hề nhỏ. Họ chạy đi đâu mà “bỏ đi cả”? Một tỉnh Côngpông Chàm e không đủ chỗ để dung chứa 100.000 người di tản. Chạy vào Phan Rang hay lên Tây Nguyên vài trăm ngàn nữa. Mọi phép tính hoặc phỏng đoán cũng sẽ đồng ý ở mức tối thiểu 1/2 số dân người Chàm đã ở lại với người Việt sau 1471!