2/ Vấn đề bản sắc của mỗi phương ngữ

Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 424 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
2/ Vấn đề bản sắc của mỗi phương ngữ

❊ ❊ ❊

Nhấn mạnh ý của GS. Cao Xuân Hạo về đặc điểm ngữ âm của phương ngữ Quảng Nam chính là sự chuyển đổi rất xa của các nguyên âm là chúng tôi muốn đặt vấn đề tiếp cận đến cơ sở của cách phân chia các vùng phương ngữ tiếng Việt trên toàn quốc và qua đó sẽ nêu lên nghi vấn về nguyên nhân của sự đột biến trong giọng nói của người Quảng Nam so với tiến trình lịch sử của tiếng Việt từ đồng bằng Bắc Bộ đi vào. Đó không phải là một thổ ngữ như Trần Trí Dõi đã gọi(149), mà thực sự là một phương ngữ có ảnh hưởng đến cả vùng Nam Trung Bộ đến Nam Bộ rộng lớn. Hay nói cách khác, mục tiêu chúng tôi nhắm đến là thuyết phục được vùng phương ngữ Nam Hải Vân là một đột biến có dấu ấn ngoại lai rất mạnh và những biến đổi ngữ âm từ Hải Vân đến đèo Cả là mang đậm dấu ấn của những bước đi lịch sử Nam tiến từ 1306 đến 1611.

Vấn đề phân vùng phương ngữ vốn đã được nêu ra từ đầu thế kỷ từ các nhà nghiên cứu người Pháp và cho đến nay vẫn được nhiều người tiếp tục. Có ý kiến thì chia tiếng Việt ra làm ba vùng phương ngữ như Hoàng Thị Châu, Võ Xuân Trang và nhiều người khác; có ý kiến thì lại chia thành hai vùng phương ngữ như M. Gordina, Hoàng Phê; có ý kiến lại chia tiếng Việt ra thành bốn vùng phương ngữ như Nguyễn Kim Thản; lại cũng có ý kiến chia tiếng Việt làm 5 vùng phương ngữ như Nguyễn Bạt Tụy, Huỳnh Công Tín; và thậm chí có người bảo rằng không nên chia tiếng Việt ra thành các vùng phương ngữ vì những khác biệt giữa chúng là không rõ ràng như S.C Thomson(150).

Sự đa dạng trong các ý kiến về phân vùng phương ngữ tiếng Việt xuất phát từ mỗi tiêu chí khác nhau. Cơ sở để xác định đó là một phương ngữ là cái gì? Ngữ âm hay từ vựng? Mà trong ngữ âm thì lấy cái gì làm chuẩn: Thanh điệu, phụ âm hay nguyên âm? Sau đó, ngay dù có chấp nhận một phương ngữ nào đó thì ngay cái vùng được khảo sát ta cũng bắt gặp vô số điểm khác nhau, ở đây chúng tôi hoàn toàn đồng nhất với sự phân vùng phương ngữ của tác giả Hoàng Thị Châu qua “Tiếng Việt trên các miền đất nước” (Phương ngữ học), NXB. Khoa học và Xã hội năm 1989 là tiếng Việt có ba vùng phương ngữ chính: Phương Ngữ Bắc bao gồm toàn bộ Bắc bộ; phương ngữ Trung bao gồm các tỉnh Bắc Trung Bộ từ Thanh Hóa đến đèo Hải Vân; phương ngữ Nam trải dài từ đèo Hải Vân đến miền cực Nam của đất nước(151). Để phân biệt ba vùng phương ngữ ấy các tác giả nói chung đều dùng một bảng kê những đặc điểm về thanh điệu, hệ thống phụ âm đầu, hệ thống phụ âm cuối… của từng phương ngữ. Phương pháp này khó làm nổi bật các đặc điếm của từng phương ngữ, nhất là đối với người đọc phổ thông, chúng tôi xin đề xuất:

Trước hết xin được dùng số I, II, III để đặt tên cho vùng phương ngữ để thay cho tên gọi phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam. Ngoài mục đích cho gọn, đề xuất này cũng còn là vì tên gọi phương ngữ Trung khiến những người Nam Trung Bộ từ Hải Vân vào đến Bình Thuận cảm thấy lúng túng vì trong mọi trường hợp họ đều ý thức rất rõ mình là người Trung, chỉ riêng trong ngôn ngữ học thì lại được gọi là Nam, e bất tiện và lúng túng trong nhận thức.

Nếu lấy phương ngữ I với 6 thanh (tức 6 dấu) và các nguyên âm cũng như hệ thống phụ âm đầu và cuối làm chuẩn (theo nghĩa phương ngữ này có hệ thống thanh điệu, âm đệm và âm cuối tương ứng với hệ thống chữ viết một cách tương đối so với các phương ngữ khác, ngoại trừ một số phụ âm đầu), thì ta có:

Phương ngữ II cũng giống hoàn toàn với phương ngữ I xét về các nguyên âm, sai khác của các phụ âm là không đáng kể vì không có tính quyết định, chỉ một điểm khác biệt nổi bật đó là hệ thống thanh điệu của Phương ngữ II chỉ có 4 thanh. Hai thanh sắcnặng hoàn toàn đồng nhất. Phần lớn cũng không phân biệt hỏi, ngã; thậm chí hỏi, ngã còn được nói như nặng. Tức trong một số trường hợp sắc, hỏi, ngã, nặng, được phát âm giống với nặng; tức sáu thanh chỉ còn ba thanh huyền, không, nặng. Tuy vậy, hiện tượng này tuy nhiều nhưng không phổ biến. Các nhà ngôn ngữ học đều thống nhất phương ngữ II này là 5 thanh (sắc=nặng) và đây là điểm nổi bật khiến bất cứ ai, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể nhận ra đó là giọng của người ở vùng phương ngữ II chứ không nhầm với bất cứ vùng nào khác.

Ở phương ngữ III, xét về mặt điệu tính thì đây là một hệ thống thanh điệu khác(152) so với hai phương ngữ kia. Trong đó riêng vùng từ Đà Nẵng đến Phú Yên, tức đèo Hải Vân đến đèo Cả, thì hầu hết các nguyên âm đều được phát âm “sai” so với tất cả các vùng khác, nếu không nói là cả thế giới! Điểm chú ý là tuy cùng một vùng phương ngữ nhưng kể từ đèo Cả trở vào thì các nguyên âm lại được phát âm “đúng” trở lại. Tuy những sai khác về các nguyên âm là trầm trọng thế nhưng ai cũng thấy là nếu chia vùng phương ngữ này thành các vùng phương ngữ khác nhau thì sẽ là sai lầm nghiêm trọng, bởi chúng có một ngữ điệu với điệu thức, điệu tính của âm vị và thanh điệu thống nhất trên toàn vùng.

Có thể rút ra được điều gì qua cách phân chia vùng phương ngữ dựa trên những đặc điểm nổi bật trên? Theo chúng tôi đó là:

2-1/ Không thể dùng một công thức chung, một mô hình có sẵn, một tiêu chí xác định trước để có thể phân chia các vùng phương ngữ tiếng Việt mà chỉ có thể phân chia dựa trên đặc điểm nổi bật, hay nói cách khác là bản sắc của từng vùng phương ngữ.

2-2/ Bản sắc của mỗi phương ngữ xác định dựa trên đặc điểm phát âm của người nói phương ngữ đó mà khi cố nói theo giọng của vùng phương ngữ khác họ vẫn không thể nói được. Trong mỗi vùng phương ngữ có các vùng phương ngữ nhỏ hơn, mặc dầu thoáng nghe qua khá khác nhau nhưng người trong các vùng phương ngữ nhỏ có thể dễ dàng “sửa” giọng mình để nói theo giọng của phương ngữ lớn của vùng mình. Thế nhưng khi “sửa” giọng để nói vùng phương ngữ khác thì cố gắng rất nhiều vẫn không thể được ngoại trừ trường hợp sống lâu năm ở vùng phương ngữ đó, thậm chí có rất nhiều người sống ba đến bốn chục năm vẫn không chuyển đổi giọng nói mình được. Người Quảng Nam dễ dàng nói giọng người Sài Gòn thế nhưng nói giọng Huế, một địa phương láng giềng có nhiều mối quan hệ gần gũi là điều vô cùng khó, gần như là bất khả. Người Nghệ Tĩnh ra Bắc hoặc vào Nam cũng xảy ra tình hình tương tự.

2-3/ Các khác biệt về hệ thống phụ âm đầu và cuối không quan trọng bằng sự khác biệt về nguyên âm và thanh điệu. Các phụ âm đầu và cuối ở đâu, bất cứ nơi nào cũng có thể xảy ra thế này hoặc thế khác, tuy nhiên người trong bất cứ vùng phương ngữ nào cũng đều có thể sửa, hoặc bắt chước các khác biệt của vùng phương ngữ khác dễ dàng. Thế nhưng sự khác biệt về nguyên âm và thanh điệu thì rất khó sửa cũng như rất khó bắt chước.

2-4/ Ngữ điệu hay điệu tính, hay âm vực của các thanh điệu trong câu là một yếu tố nổi bật, vô cùng quan trọng quyết định bản sắc vùng phương ngữ III. Hiện nay qua giao tiếp, người thuộc phương ngữ III đã nói đúng chính tả nhiều, cả về ngữ âm, ngữ pháp, thanh điệu thế nhưng bảo họ nói như giọng Bắc, giọng Nghệ thì là điều rất khó, đến mức không thể, bởi ngữ điệu, điệu tính là cái thứ rất khó thay đổi. Ví dụ dễ nhận ra nhất khi cùng hát một bài hát thì cả 3 người ở 3 vùng phương ngữ đều có cách hát giống nhau và thật khó mà nhận ra người hát là thuộc phương ngữ nào, đó là vì về cao độ, ngữ điệu của từng từ, từng âm trong bài hát đã được quy định trong mỗi nốt nhạc.

2-5/ Nếu chỉ xét về số lượng số dấu thanh thì phương ngữ II và phương ngữ III cũng đều có 5 dấu thanh. Thế nhưng phương ngữ II dấu sắc được nói như dấu nặng là một yếu tố quan trọng có tính quyết định đến bản sắc của phương ngữ II hơn rất nhiều so với việc đồng nhất hỏi, ngã của phương ngữ III.

2-6/ Sự đồng nhất các vần, như ở Nam Bộ: in với inh, it với ich, un với ung, ut với uc là không đáng kể bởi họ có thể dễ dàng chuyển sửa để nói đúng hơn. Trường hợp này tương tự như ăn cơm với ăn côm, con tơm với con tôm, rồi với gồi… bởi nếu cần thì chuyện sửa lại cho đúng không phải là chuyện khó, nó gần như là thói quen hay tập quán hơn là bản sắc của một phương ngữ.

Người nước ngoài học nói tiếng không phải tiếng mẹ đẻ thì điều khó nhất không phải là phát âm mà là ngữ điệu. Như người Việt ta học tiếng Anh, cái khó nhất không phải là phát âm mà là nhấn đúng trọng âm và xác định được ngữ điệu của câu nói. Có ngữ điệu quen thuộc, không cần phải nghe rõ đầy đủ câu ta cũng vẫn có thể hiểu người nói muốn nói gì. Tiếng Việt khi qua khỏi đèo Hải Vân, tức giọng nói người Quảng Nam, đã đánh mất cả hai điều quan trọng nhất, đó là âm [a] và ngữ điệu của tiếng Việt. Cho đến bây giờ cũng vẫn vậy, cái khổ sở nhất của người Quảng Nam trong giao tiếp chính là âm [a] (chủ yếu) và ngữ điệu không giống ai của mình.

Tại sao lại có sự đột biến kỳ lạ như vậy?

Điều đó, tức âm sắc, bản sắc giọng nói Quảng Nam đã có từ khi nào, và vì sao nó lại xảy ra như vậy? Liệu có thể tìm ra câu trả lời hay đó là điều mãi mãi không thể hiểu, giống như cho rằng giọng nói con người ta là do nước uống, khí hậu thổ nhưỡng tạo ra chứ không phải do điều gì cả?

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.