Nhiều người Quảng Nam có cái thắc mắc là không hiểu tại sao làng Thanh Quýt xã Điện Thắng lại có cái giọng nói không giống với các làng lân cận, thậm chí không giống với giọng nói của đa số làng ở Quảng Nam. Họ không nói mi, tau mà là mầy, tao, họ không nói mô, tê, răng, rứa mà nói đâu, kia, sao, vậy. Đó là khác về từ vựng, ngữ điệu, ngữ âm họ cũng không giống, tuy không nhiều, với người Quảng Nam. Tại sao vậy? Do nước uống chăng? Ở Quảng Nam không phải chỉ có làng Thanh Quýt, các vùng Quế Sơn, Tiên Phước cũng có giọng nói của riêng từng vùng. Nhiều người bảo giọng nói khác nhau là bởi nước uống!
Có công cụ về giọng nói người Quảng Nam chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra đây chính là một ốc đảo người Chàm chỉ chịu chuyển sang nói tiếng Việt muộn hơn các nơi khác chung quanh. Để bài này có thể đứng được như một bài viết độc lập, người không đọc các phần khác cũng có thể đủ lập luận để được thuyết phục, chúng tôi xin phép được lặp lại những lập luận đã dùng trong các chương trước.
Ở đây, để ý một chút ta sẽ thấy giọng nói của người làng Thanh Quýt rất giống với giọng nói của người Quảng Ngãi. Tại sao vậy? Nếu chỉ do nước uống tại sao nó không giống với một giọng nào khác như giọng nói vùng Thanh Nghệ vốn là nơi xuất phát và là nguồn gốc của các tộc họ ở làng Thanh Quýt? Hoặc tại sao nó không giống với giọng Huế, hay Bình Định, Tuy Hòa, Sài Gòn vốn là các vùng đất có nhiều quan hệ với người Quảng Nam trong lịch sử gần đây, mà là lại giống giọng Quảng Ngãi? Trong khi hỏi tất cả các vị cao tuổi cũng như đọc kỹ các gia phả các tộc họ trong làng đều không tìm thấy một mối quan hệ hoặc một sự dính líu nào đó đối với Quảng Ngãi. Tại sao vậy?
Người Thanh Quýt vẫn truyền nhau câu nói: Nhất Nguyễn, nhì Lê, tam Trương, tứ Bá (Nguyên Bá), cùng Văn, Công, Sĩ (Nguyễn Văn, Lê Công, Phan Sĩ). Đây là 7 họ lớn và lâu đời nhất ở Thanh Quýt. Tuy vậy, xét kỹ các gia phả ta thấy không có họ nào quá 17 đời. Nhân số đời hiện nay với 25 năm ta sẽ ước chừng được các họ đến Thanh Quýt vào lúc cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, tức trong những năm đầu khi Nguyễn Hoàng vào Nam. Các tộc họ ở Thanh Quýt nói riêng và Quảng Nam nói chung đều bắt đầu gia phả rằng: thỉ tổ của dòng họ đã theo Lê Thánh Tông bình Chiêm năm 1471 và đã ở lại khai canh lập nên làng… 1471 đến nay là 525 năm. Cứ 25 năm một thế hệ thì số thế hệ, số đời chí ít phải là 21. Đó là chưa nói truyền thống kết hôn sớm số đời lẽ ra phải nhiều hơn nữa. Nhiều họ đã lấy số bình quân của một đời là 23,5 năm nên số đời còn phải nhiều hơn con số 21. Các họ ở Thanh Quýt chỉ 16, 17 đời. Truyền thống chép gia phả đều không cho phép thêm bớt số đời. Có thể một hoặc nhiều đời liên tiếp khuyết danh nhưng gia phả không bỏ qua cũng như không vì bất cứ lý do nào như tranh tộc to, họ sớm mà thêm vào một vị nào. Họ đến Thanh Quýt giai đoạn trước sau năm 1600 là điều có thể khẳng định.
Tại sao các Ngài tiền hiền của 7 họ đến vùng đất này muộn thế? Một số tộc họ đã đến Quảng Nam định cư ở lại và ghi chép gia phả đã có từ thời 1402 dưới triều nhà Hồ, con cháu đến nay cũng đã được 25-26 đời. Nhiều tộc họ cũng thực sự vào từ thời 1471, con cháu được 20-21 đời như tộc Phạm của ông Phạm Nhữ Tăng ở Quế Sơn. Gia phả họ Nguyễn Hữu ở Thanh Quýt kể chuyện hai anh em về quê cũ là thôn Đa Tốn, xã Kiệt Đặc, tổng Kiệt Đặc, huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương mang hài cốt của cha mẹ vào. Người em mang hài cốt của cha vào Thanh Quýt, người anh đi sau nên đành mang hài cốt của mẹ vào Bồ Mưng. Câu chuyện này chứng tỏ tộc Nguyễn Hữu không phải là sự tách nhánh từ các họ đến Quảng Nam sớm và thất lạc gốc gác mà thực sự xuất phát từ Hải Dương và đến Thanh Quýt truyền đến nay được 16-17 đời. Vậy có nghĩa là họ vào Nam muộn.
Câu hỏi đặt ra là suốt 200 năm trước đó (1.400-1.600) tại sao không có dòng họ nào đến ở Thanh Quýt mặc dù đó không phải là vùng đất xấu (đất Thanh Quýt thuộc loại thượng đẳng điền, bờ xôi ruộng mật) hay xa xôi hẻo lánh mà lại rất thuận lợi trong đường thủy, đường bộ? Thanh Quýt xuống Cẩm Sa chỉ băng qua một cánh đồng chừng 2-3 cây số chim bay. Trong khi Cẩm Sa, theo Lê Quý Đôn trong Phủ biên tạp lục là một trạm quốc gia, mọi cuộc di dân suốt 200 năm, từ 1402 đến 1602, người ta đều đã đi qua đó, nhiều người đã dừng lại ở Cẩm Sa và tạo nên những tộc họ rất lâu đời, thế nhưng suốt 200 năm vẫn không ai rời vùng cát trắng khô cằn của Cẩm Sa, Điện Nam để tiến về phía tây chỉ 2-3 cây số hầu chiếm lấy vùng đất khá màu mỡ Thanh Quýt, tại sao vậy?
Câu trả lời đơn giản nhất nhưng lại gần với logic cuộc sống nhất là đất ấy người Chàm đang ở.
Các di tích của nền văn hóa và cư dân Chămpa ở Thanh Quýt là dày đặc. Các địa danh như Gò Sành, Vườn Chàm, lùm Bà Giàng không phải vô cớ mà có những cái tên ấy. Không những thế, gạch Chàm có mặt ở khắp nơi, trong mọi mảnh vườn ở làng Thanh Quýt. Khách đi đường có thể nhìn thấy những viên gạch Chàm to khổ hiện diện ngay bên vệ đường, tam cấp lên nhà, trước quán hớt tóc v.v… Cái suy luận tất nhiên rút ra ở đây là ở Thanh Quýt người Chàm đã ở trước khi 7 họ tiền hiền đến ở Thanh Quýt. Chưa có cuộc khảo cổ chính thức nào ở Thanh Quýt nhưng xét thấy số gạch Chàm vương vãi trên một diện khá rộng, hầu như khắp cả làng nơi nào cũng có gạch Chàm ta có thể tạm rút ra kết luận đây là khu dân cư, không phải là nơi kinh thành như Trà Kiệu, thờ phượng như Mỹ Sơn, Đồng Dương. Đây là một làng Chàm.
Như vậy là ta đã có thể tạm hình dung rằng khi các tộc họ vào Cẩm Sa và các vùng khác trong các năm từ 1402 đến 1471 thì đất Thanh Quýt người Chàm đang ở. Và suốt 200 năm sau đó người Việt tôn trọng lãnh thổ tự trị của người Chàm ở Thanh Quýt cho đến khi Nguyễn Hoàng vào Nam. Suốt 200 năm người Việt không xâm chiếm đất người Chàm đang ở mặc dầu người Việt phải ở nơi cát trắng, khô cằn. Họ sống bên cạnh người Chàm và không hề có ý định lấn đất mặc dù họ nắm quyền lực. Ít ra thì ở Thanh Quýt điều đó đã xảy ra.
Vấn đề đặt ra là khi người Việt đến người Chàm có bỏ đi hay không? Các cụ tiền hiền của 7 họ khi đến đây là đến nơi rừng rậm không bóng người hay đến một làng đã đông người ở, làm lý trưởng, xã trưởng hoặc một hương chức nào đó và cai trị dân làng vốn đa số là người Chàm?
Bảy tộc tiền hiền Thanh Quýt đến Thanh Quýt khi mà chính quyền và người Việt đã khá ổn định và đông đúc ở các khu thị tứ dinh trấn như Hội An, Cẩm Sa, Thanh Khê… và tiếng Việt đã khá phổ biến. Theo Ô Châu Cận Lục và tự điển của A. de Rhodes thì giọng Quảng Nam lúc này đã khá rõ nét. Tuy vậy có một số làng Chàm vẫn không chịu nói tiếng Việt như các sử liệu đã nói.
Và lúc này, Nguyễn Hoàng vào cùng với những thiết chế chính quyền mạnh mẽ, họ mới chịu chuyển sang nói tiếng Việt (Chúng tôi tin rằng rồi sẽ tìm được sử liệu về những thiết chế này). Điều gì xảy ra khi những làng Chàm này chuyển sang nói tiếng Việt? Nên nhớ rằng cái tiếng Việt lúc này không còn giống như cha ông họ tập nói cách đó 200 năm, đó là người Chàm tập nói giọng Quảng chứ không phải người Chàm tập nói giọng phương ngữ I, phương ngữ II như trước đó. Hơn nữa, lúc này 7 vị tiền hiền làng Thanh Quýt đều nói giọng Bắc. Bảy vị đến cai trị làng Chàm này và đến lúc này cộng đồng người Chàm ở đây mới chịu chuyển sang nói tiếng Việt. Cũng là người Chàm nói tiếng Việt thế nhưng lúc này họ có đủ điều kiện để nói “chuẩn” hơn một chút do các quan người Việt nói giọng Bắc đang cai trị họ.
Và thời điểm làng Thanh Quýt chuyển sang nói tiếng Việt gần như đồng thời với Quảng Ngãi. Phải chăng chính vì thế mà nó giống nhau? Các yếu tố và điều kiện để tạo nên sự giống nhau là chưa được khảo sát kỹ. Chúng tôi tin rằng cùng với thời gian chúng ta sẽ ngày càng tìm thấy rõ hơn những yếu tố và điều kiện ấy.
Các vị tiền hiền làng Thanh Quýt có thể lấy vợ Chàm hoặc không lấy vợ Chàm thế nhưng con cái của bảy vị tiền hiền ấy lớn lên trong cái môi trường mà trẻ người Chàm chiếm đa số. Dầu muốn hay không muốn bọn trẻ cũng phải nói theo giọng nói của chúng bạn, của cộng đồng dân cư đang chiếm đa số. Và giọng Bắc của những vị tiền hiền vì thế cũng mất đi. Thêm một điều nữa cho ta thấy rõ người Việt đến vùng đất này, ngay cả thời rất muộn như cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, vẫn luôn là số ít, rất ít là đằng khác, trong cộng đồng rất đông của người Chàm!
Mà ở Quảng Nam không riêng chỉ làng Thanh Quýt nói giọng giống với vùng Quảng Ngãi, chúng tôi đã tận tai nghe thấy làng Phong Lệ, Phong Bắc, Phong Nam của huyện Hòa Vang, quê hương của ông Ông Ích Khiêm (một họ Chàm); làng Phú Nham Đông, Phú Nham Tây thuộc xã Duy Sơn, làng An Thành thuộc thôn 1 xã Duy Trung; làng Mã Châu (Duy An - Duy Xuyên), làng Cổ An (tên cổ là An Lưu và Cổ Lưu nay là thôn 6 Điện Nam, Điện Bàn), làng Đà Sơn, Phong Nam, Phong Lệ huyện Hòa Vang, nơi có các chi phái tộc Phan làng Đà Sơn; làng Tây Gia xã Đại Minh; Phú Bình xã Đại Thắng huyện Đại Lộc cùng với nhiều làng ở Túy Loan, Hòa Nhơn, Hòa Phong…, đặc biệt giọng nói giống tỉnh Bình Định có thôn Bình Hòa xã Bình Giang, huyện Thăng Bình (ví dụ: mười=>mừ, rưỡi=>rữ, ba má=>be mé…). Hỏi kỹ những bậc cao niên trong làng thì các làng này không hề có mối quan hệ nào với nhau, về địa lý lại ở cách xa nhau, cũng chẳng ai đã từng sống ở Quảng Ngãi hoặc là người từ Quảng Ngãi, Bình Định ra. Tất cả đều không nói mi, tau mà gọi mầy, tao, không nói mô, tê, răng, rứa mà nói đâu, kia, sao, vậy cùng một ngữ điệu đặc trưng vùng Quảng Ngãi, Bình Định.