Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 503 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3.2 Giọng Quảng Nam ở Nam Thu Bồn (sau 1402)

❊ ❊ ❊

Với một tính toán chính trị là chuẩn bị cho một hậu cứ từ xa phòng cho khi bất trắc. Nhà Hồ luôn cảm thấy bất an trên đất Bắc Hà, ngay từ khi còn là Phụ chính Thái sư Nhiếp chính cho vua trẻ Trần Thiếu Đế, năm 1397, Hồ Quý Ly đã bức vua dời kinh đô về Thanh Hóa. Vẫn cảm thấy sự bất an trước lòng người còn hướng nhiều về nhà Trần, hai cha con Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đã đưa nhiều người thân tín giàu có, cùng quê là Thanh Hóa di dân vào Thăng Hoa, thích tên châu vào hai tay để không cho trở về (Gia phả tộc Hồ Cẩm Sa, Điện Nam, Điện Bàn, Quảng Nam là một ví dụ khá thuyết phục). Hành động ấy không ngoài một âm mưu chính trị là xây dựng từ xa một hậu cứ có thể tin cậy được để khi cần thiết có thể về đó để cầm cự, ẩn náu, xây dựng lại cơ nghiệp. Tính toán này của nhà Hồ không phải là dở bởi các thế hệ sau cũng đã lặp lại các nước đi ấy như Đặng Dung rút về Thuận Hóa, nhà Mạc rút về Bình Định, và thành công rực rỡ nhất là Nguyễn Hoàng với xứ Đàng Trong góp phần không nhỏ cho một nước Việt Nam hoàn chỉnh hôm nay. Chỉ tiếc là khi rút chạy đến núi Thiên Cầm, bắc đèo Ngang, thuộc địa phận tỉnh Hà Tĩnh ngày nay, thì cha con Quý Ly bị giặc Minh bắt và phải làm thân lưu đày cho đến chết trên đất Trung Hoa.

(Xem thêm “Ước tính số lượng người Việt di dân dưới triều nhà Hồ” trang 45)

Những người Thanh Hóa vào Nam theo lệnh của Hồ Quý Ly ấy phải chăng chính là những người gieo những hạt giống đầu tiên để hình thành nên giọng nói người Nam Quảng Nam, để hôm nay các nhà ngôn ngữ học đều thừa nhận rằng giọng nói người Nam Quảng Nam chứa nhiều yếu tố đặc trưng của giọng nói người Thanh Hóa?

Trong “Phương Ngữ Học”, tác giả Hoàng Thị Châu chỉ có vài dòng vắn tắt về sự cảm nhận mối quan hệ giọng nói người Thanh Hóa với người Nam Trung Bộ: “Vùng Nam Trung Bộ chủ yếu là dân Thanh Hóa đi vào trong thời Chúa Nguyễn, cùng với một số người ở đồng bằng Bắc Bộ. Thanh Hóa là quê hương của Chúa Nguyễn, về sau lại có những đợt Chúa Nguyễn lấn chiếm và lùa dân từ một số huyện Bắc Nghệ Tĩnh. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà thổ ngữ Thanh Hóa và Bắc Nghệ An được sao lại ở vùng này… Không phải ngẫu nhiên mà trong cách cư xử của dân xứ Quảng có những nét của dân Thanh Hóa và Nghệ An”(164).

Rõ ràng, qua đoạn cảm nhận trên, ta biết Hoàng Thị Châu chưa có một cái nhìn lịch sử về giọng nói người Quảng Nam. Thời các Chúa Nguyễn, tức sau 1558 thì giọng nói Quảng Nam đã hình thành qua tên gọi là giọng Châu Hóa (Ô Châu Cận Lục), hơn nữa, tự điển của A. de Rhodes được soạn vào đầu thế kỷ XVII, trong đó yếu tố giọng Quảng Nam được thể hiện khá rõ. Có nghĩa là giọng Quảng Nam đã được hình thành từ trước thế kỷ XVI khá lâu chứ không phải chỉ hình thành từ thế kỷ XVII trở đi như Hoàng Thị Châu cảm nhận.

Tuy vậy, chất giọng Quảng Nam gần với giọng nói người Thanh Hóa của nhà ngôn ngữ học Hoàng Thị Châu là một nhận xét chính xác và chúng ta sẽ cố để bước qua cái hố mà bà đã quên lấp trong công trình Phương Ngữ Học rất giá trị của mình.

Không cần phải có chuyên môn, một người bình thường cũng có thể cảm nhận rất nhanh rằng giọng Thanh Hóa không có yếu tố nào của giọng Khu 4, đơn giản vì dấu thanh họ có đủ (bản sắc phương ngữ II là thiếu dấu thanh, sắc = nặng). Mặc dù cũng dùng các từ mang nhiều dấu ấn bản sắc giống người Khu 4 như: mi, tau, mô, tê, răng, rứa nhưng giọng nói người Thanh Hóa là hoàn toàn không thuộc về phương ngữ II!

Phương ngữ I thì cũng không phải, đơn giản là vì như đã phân tích ở trên, phương ngữ I có phát âm chuẩn về nguyên âm trên một diện rộng, các khác biệt chỉ là các khác biệt phụ âm đầu, phụ âm cuối không tạo nên khác biệt căn bản. Các giọng nói của người Hải Phòng, Hưng Yên, Bắc Ninh… đều khác nhau khá rõ, thế nhưng xét về dấu thanh và nguyên âm thì cả vùng đồng bằng Bắc Bộ ấy đều thống nhất. Chỉ riêng Thanh Hóa, một số nguyên âm của họ không giống với giọng người thuộc phương ngữ I nói chung. Tuy không trầm trọng như người Quảng Nam ở trường hợp biến đổi quá xa nguyên âm [a], nhưng một số vần như [anh], [inh] của Thanh Hóa thì khá “xa lạ” trong tổng thể phương ngữ I.

Điểm giống nhau một cách đặc biệt giữa giọng Thanh Hóa và giọng Quảng Nam là âm [ă] được đọc như [e]: ăn sắn = en sén; con thằn lằn - con thèn lèn.

Thế nhưng giọng nói người Thanh Hóa có những âm chúng ta không gặp ở Bắc Quảng Nam mà lại thấy nhiều ở phía nam Quảng Nam, tức phía nam sông Thu Bồn (ngoại trừ Duy Xuyên), ở các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước, đó là các âm: anh/ênh (Thanh Hóa /Thên Húa); inh/ênh (mình/mềnh, làm thinh/làm thênh); o/ua (có/cúa). Trong tiểu thuyết Tình cát của Nguyễn Quang Lập có đoạn: Người Thanh Hóa nhiều cô nói nghe rất hay nhưng không biết Lý ở huyện nào mà phát âm tiếng nào cũng méo xệch- “iém ợ Thên Huớ!”. Ở đây, chính cái âm “Thên” giúp ta nhận ra nét tương đồng có tính quyết định của giọng Thanh Hóa ở vùng Nam Thu Bồn.

Dưới đây là một đối thoại chúng tôi copy được trên mạng giữa hai bạn Thanh Hóa chat bằng âm điệu giọng nói quê hương mình và cố diễn tả nó qua chữ viết âm đọc phổ thông:

Mi đi mô rứa? Tau cúa (có) đi mô mô. Chứ mi không đi mô thì mi ra ni (đây) mằn (mần) chi?? Tau đi mô kệ tau, việc chi mi phải hủa (hỏi). Nói tên tau cấy (cái) Nga ơi. Cấy ni để đúa rồi tính, thôi en cơm đi. Rứa chớ hùi mô mi viền Thên Huớ? Mi hủa mần cấy chi..

Qua câu nhại hay dùng cho người Thanh Hóa: Của cau nhua nhủa, cái giủa xing xing (Quả cau nho nhỏ, cái giỏ xinh xinh) chúng ta biết người Thanh Hóa cũng bị những lỗi ngữ âm trầm trọng về nguyên âm như người Quảng Nam, điều hầu như hiếm gặp với toàn bộ vùng đồng bằng Bắc Bộ rộng lớn.

Những âm này người Bắc Quảng Nam không mắc phải, thậm chí họ có phát âm khá chuẩn so với tiếng phổ thông (dĩ nhiên là khác về độ cao, điệu thức). Tại sao lại như vậy? Liệu có thể tìm kiếm trong lịch sử một hạt nhân hợp lý nào khả dĩ có thể giúp chúng ta hiểu được vấn đề một cách sáng sủa hơn? Hay mãi mãi đồng ý rằng điều đó chẳng qua là do thổ nhưỡng, do nước uống nên có một số âm người Nam Quảng Nam phát âm giống giọng nói người Thanh Hóa?

Qua những ví dụ trên chúng ta dễ dàng nhận ra cái gốc âm /ăn/ - /en/ của người Quảng Nam, cái dấu ấn ấn tượng nhất của âm sắc người Quảng, điều mà ta ngỡ sẽ không bao giờ còn có thể truy tìm ra nguồn gốc. Và còn nhiều hơn thế, những âm như “cấy chi”, “thên”, “đúa”, “hủa”… là những âm người Quảng Nam Bắc Thu Bồn không mắc phải nhưng vùng Nam Thu Bồn, và cả các làng vùng biển, nơi chắc chắn chuyển sang nói tiếng Việt muộn hơn nhiều so với vùng Bắc Thu Bồn, đều mắc phải.

Liệu chăng sự kiện nhà Hồ đưa nhiều người cùng quê Thanh Hóa vào Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa năm 1402-1407 là đưa vào vùng này và với số lượng đủ lớn để tạo nên một “phong cách” rồi lưu dấu lại mãi đến hôm nay? Phải chăng người Chàm vùng này chỉ biết đến tiếng Việt, chỉ chịu học nói tiếng Việt khi thuộc về Việt, trở thành Châu Thăng, từ 1402, khi tiếp xúc với những người Thanh Hóa do nhà Hồ đưa vào và sau đó, khi họ Hồ mất ngôi, một số người Thanh Hóa đã ở lại và để dấu ấn trên giọng nói đến hôm nay?

Không ai có thể biết và có thể đưa ra một minh chứng chắc chắn nào, dầu vậy thì người khó tính mấy cũng thấy rằng khả năng có thể nhất dầu sao cũng là dễ chịu hơn là cứ để mọi thứ mơ hồ rồi giải đáp bằng những cảm nhận, kiến giải phi khoa học như do nước uống, do khí hậu.

Giọng nói người Nam Quảng Nam (Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước, Tam Kỳ, Núi Thành, Hiệp Đức) hiện nay khó mà bảo là giống giọng nói người Thanh Hóa. Có thể có một số âm giống nhau đến bất ngờ thế nhưng sự khác nhau về ngữ điệu câu nói, điệu thức của âm đã khiến cho hai giọng nói đã trở thành khác nhau quá xa. Thế nhưng chính những nét đặc trưng trong phát âm một số nguyên âm và vần đã khiến chúng ta có thể tin rằng hai vùng đất này đã có mối quan hệ xa hoặc gần nào đó. Và tất cả đó chính là việc Hồ Quý Ly sáp nhập Chiêm Động, Cổ Lũy vào Việt và thành lập các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa; trong trường hợp này thì đó là Châu Thăng tức các huyện phía nam sông Bà Rén gồm Quế Sơn, Thăng Bình, Tiên Phước, Tam Kỳ, Hiệp Đức.

Như vậy là “dấu ấn 1402” đã để lại ở phía nam sông Thu Bồn đậm hơn là những gì ta nhận thấy ở phía bắc sông. Và điều này thì hợp lý vì rõ ràng người Chàm vùng Bắc Quảng Nam đã nói tiếng Việt sớm hơn rất nhiều. Những di dân đầu tiên sau 1306 nhiều khả năng thuộc về những người ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng.

Không có bất cứ một sử liệu nào nhận xét về lối sống dân cư vùng Bắc Hải Vân này ngoài câu “Dân vùng này nhiễm tục cũ của người Chiêm” của Lý Tử Tấn chép phần thông luận trong Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi. Các tài liệu mô tả về nhà cửa, ăn mặc thì có nhưng nhận xét một lề thói, một lối sống thì chỉ duy nhất có câu ấy. Tìm một nhận xét về tiếng nói, thì càng khó. Sau này, từ bộ tự điển Việt - Bồ - La Tinh của A. de Rhodes, ta đã thấy giọng Quảng Nam đã xuất hiện trong ấy khá đậm nét. Trước nữa là Ô Châu Cận Lục, Dương Văn An đã phân biệt khá rõ hai giọng Châu Hoan, Châu Hóa: “Lại Thị nói tiếng châu Hóa, mặc áo Chiêm, thói lễ bỉ lậu”(165). Giọng Châu Hoan đã có thể xác định một cách chắc chắn là giọng khu 4, vậy giọng Châu Hóa chỉ có thể là giọng Quảng Nam, không thể khác!

Như vậy là, với những bằng chứng tin cậy ấy, ta có thể khẳng định được giọng Quảng Nam đã có, hình thành và phát triển vững chắc ở Quảng Nam từ trước 1553, trước năm Dương Văn An viết Ô Châu Cận Lục. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này khi xét về giọng nói người Quảng Nam trong các giai đoạn phân kỳ của nó lần nữa.

Và chính vì sự ổn định chính trị ấy đã khiến người Việt vùng Nghệ An, Hà Tĩnh kéo vào và đủ về lượng để áp ngôn ngữ, tiếng nói của mình lên cư dân miền đất mới mặc dù mãi cho đến 1553, theo Ô Châu Cận Lục trên vùng đất quanh thành phố Huế kéo dài đến chân núi Hải Vân vẫn còn rất nhiều làng xã nói tiếng Chàm và giữ được lề thói, phong tục của người Chàm, thế nhưng hiện nay tìm cho ra một thổ ngữ mang âm sắc như Quảng Nam trên đất Thừa Thiên Huế là điều rất hiếm, chỉ duy nhất một trường hợp là làng Mỹ Lợi.

Trong khi đó, ở vùng Quảng Nam, ngay sau 1407 nhà nước Đại Việt gần như mất quyền kiểm soát. Sự tháo chạy của người Việt khỏi đất Nam Hải Vân sau khi nhà Hồ bỏ chạy được mô tả khá kỹ trong SKTT: “Đến khi Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ, dân di cư sợ chạy tan cả, bọn Hối Khanh trở về Hóa Châu, chỉ một mình Ma Nô Đà La (một người Chàm theo Việt) chống với Chiêm Thành, thế cô sức núng, bị người Chiêm giết chết. Khi Hối Khanh trở về Hóa châu thì Nguyễn Rỗ đưa dân di cư đi đường bộ đến chậm. Trấn phủ sứ lộ Thuận Hóa là Nguyễn Phong nghi ngờ ngăn không cho vào. Đánh nhau với Rỗ hơn một tháng. Rỗ không có viện binh liền đem quân và gia quyến về Chiêm Thành. Chiêm Thành cho Rỗ làm quan to”(166). Có hai chi tiết cần chú ý đến trong đoạn ghi chép trên: Một là dân di cư trong các năm 1402-1407 đã phải bỏ những gì đã xây dựng trong 5 năm để chạy theo quân triều đình, một cuộc tháo chạy tán loạn. Hai là, không phải tất cả đã chấm dứt, một số người đã ở lại và tồn tại được dưới sự cai trị của chính quyền Chiêm Thành, thậm chí được cho làm quan to, Hơn nữa, trong gia phả tộc Phan làng Đà Sơn cũng có chép: “Khi nhà Minh đánh bại nhà Hồ đem đất Chiêm Động Cổ Lũy trả lại cho Chiêm Thành, thì người Việt do họ Hồ điều vào nay lại chạy ra Hóa Châu phía Bắc sông Thu Bồn, ông Phan Công Nhâm vẫn khôn khéo xử trí để bảo đảm cho người Việt được an toàn”.

Các sự kiện đều cho phép ta rút ra một kết luận rằng:

Tiếng Việt vừa gieo hạt trong 5 năm đã phải bị cắt đứt khỏi nguyên bản và tự “bươn chải” để nảy nở trong điều kiện thiếu “bản gốc”. Người Chàm nói tiếng Việt càng có điều kiện để “củng cố” giọng nói “không giống ai” của mình. Sự kiện này cũng giống như tiếng Việt phát triển, cắm rễ ở Bắc sông Thu Bồn từ 1306 rồi sau đó mất hẳn mối quan hệ với bản quán.

Tiếng Việt vẫn còn được sử dụng do trước hết những người Việt ở lại, do một số người Chàm có quan hệ với người Việt trước đây như vợ con, người làm trung thành. Chúng ta có hai ví dụ cho các đối tượng người Việt và thân Việt này là tộc Hồ làng Cẩm Sa và tộc Phan ở Đà Sơn cùng với những tộc Việt có con gái gả cho tộc Phan Đà Sơn được ghi vào gia phả tộc này. Các tướng Chàm được người Việt tin dùng cũng là những nhân tố không nhỏ trong việc định hình một cộng đồng người mà Lý Tử Tấn chép năm 1435 trong Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi: “Dân vùng này nhiễm tục cũ người Chiêm”.

Suy luận theo cách gì đi nữa ta cũng sẽ thấy rằng trong vòng 5 năm, trên một vùng đất của hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi ngày nay, nhưng sẽ nhỏ hẹp hơn nhiều vì dân cư thời đó chỉ tập trung ven các sông, đầm phá dọc biển, nơi có phương tiện đi lại thuận lợi nhất; với số lượng trên dưới 10.000 người Việt có lẽ cũng đã đủ để tiếng Việt cắm sâu trong đời sống của cư dân bản địa gốc Chàm, cho dù sau đó người Việt cố rút đi hết hoặc còn lại một ít.

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.