Như vậy, giọng nói người Quảng Nam đã bị biến đổi so với hai vùng phương ngữ cổ hơn ở hai lĩnh vực quan trọng nhất là nguyên âm và điệu tính. Đó là, như Meillet và A.G. Haudricourt đã nói, là hai cái thứ rất bền thế nhưng đã bị biến đổi rất mạnh. Và xin trở lại trích dẫn của Hoàng Thị Châu: Meillet, nhà ngôn ngữ học người Pháp, đã từng nhắc nhở các đồng nghiệp rằng khi một ngôn ngữ biến đổi nhiều, tạo ra một bộ mặt mới khác với trước đó thì rất có thể là có một bộ phận dân cư đã thay đổi ngôn ngữ. Thành phần dân cư đã thay đổi ngôn ngữ của mình để nói tiếng Việt là những người Việt gốc Hoa, gốc Khmer và gốc Chăm(153) với một câu hỏi mới được đặt ra là: Có thể chăng giọng nói người Quảng Nam ngày nay chính là giọng nói của người Chàm các thế kỷ từ XIV đến XVII nói tiếng Việt và đã trở thành phương ngữ III của tiếng Việt suốt từ đèo Hải Vân trở vào đến mũi Cà Mau?
Xét về mặt đồng đại thì hai tỉnh Thừa Thiên - Huế và Quảng Nam có cùng một thời điểm hình thành qua sự kiện đám cưới công chúa Huyền Trân năm 1306, thế nhưng biên giới Đại Việt lúc này, tuy đã vượt qua đèo Hải Vân nhưng chỉ đến bờ sông Chợ Củi, tức Thu Bồn nay. Và ngay sau đó, năm 1307, quân Chiêm Thành đã cố gắng giành lại đất này trong suốt gần 100 năm sau đó, thậm chí có lúc đánh ra đến tận Thăng Long, đóng quân ở Thăng Long suốt 6 tháng dưới thời Chế Bồng Nga, thế nhưng Hải Vân mới chính thực là biên giới phân chia rõ ràng nhất. Chúng ta có vài bằng chứng cho sự kiện này.
Trước hết, đó là ngay sau đám cưới Huyền Trân, nhà Trần đã thiết lập đơn vị hành chính trên vùng đất vừa có được là hai châu Thuận và Hóa và sai Đoàn Nhữ Hài đến vỗ yên dân chúng(154). Châu Thuận ở ngoài và Châu Hóa ở trong với một cơ quan quân sự hành chính là thành Hóa Châu, theo Đại Nam Nhất Thống chí là “Nha môn Đô Ty Thừa ty của phủ Triệu Phòng, cao hàng trăm trượng, đứng sững như đám mây dài. Năm Đại Trị thứ 5 đời Trần Dụ Tông (1362), sai Đỗ Tử Bình sửa sang thành này. Nay không biết ở chỗ nào”(155). Năm 1362 đã sửa sang thành có nghĩa là thành này đã được xây dựng trước đó nữa. Điều này có nghĩa rằng ngay sau 1306 một chính quyền với cơ quan hành chính, quân sự tập trung đã được nhà Trần thiết lập trên vùng đất phía bắc Hải Vân.
Thế nhưng, trong khi đó ở phía nam đèo Hải Vân thì ta có sự kiện: “(1307) Người các thôn La Thủy, Tác Hồng, Đà Bồng không chịu theo. Vua sai Nhữ Hài đến tuyên dụ đức ý (của nhà vua) chọn người trong bọn họ trao cho quan tước, lại cấp ruộng đất, miễn tô thuế 3 năm để vỗ về”(156). Chưa thấy tài liệu nào nói ba thôn này hiện nay thuộc vào địa phương nào, nó có thể ở Bắc Hải Vân mà cũng có thể ở Nam Hải Vân. Ở đây chỉ nhấn mạnh ý rằng đã có một số địa phương người Chàm không chịu theo chính quyền mới và họ vẫn ở lại chứ không bỏ đi.
Từ đó cho đến 1402 để vùng đất Bắc Thu Bồn, Nam Hải Vân (bao gồm các huyện Hội An, Đại Lộc, Điện Bàn, Hòa Vang, Duy Xuyên, TP. Đà Nẵng ngày nay) thực sự thuộc về Đại Việt thì phần lớn thời gian vùng đất này vẫn thuộc về sự cai trị của người Chàm. Năm Hưng Long thứ 20 (1312) vua thân đi đánh Chiêm Thành, vua đến Câu Chiêm dừng lại. Vua Chiêm là Chế Chí sai trại chủ Câu Chiêm đến cống. Vua Trần Anh Tông yêu cầu Quốc chủ ra hàng. Trại chủ báo cáo với Chế Chí. Chế Chí nghe theo, đem gia thuộc đi đường biển tới hàng(157). Chưa thấy tài liệu nào xác định Câu Chiêm nay thuộc vùng đất nào, chỉ Phan Khoang phỏng đoán đó: “Có lẽ ở biên giới núi Hải Vân”(158). Phan Khoang phỏng đoán vậy vì ông đọc chữ Câu thành chữ Cu và liên hệ đến sông Cu Đê dưới chân Nam Hải Vân. SKTT bản dịch của Hoàng Văn Lâu, NXB. KHXH, 1998, đọc là Câu Chiêm. Từ Câu Chiêm cho ta liên hệ đến Câu Lâu và Chiêm Động (sau là Thanh Chiêm và tên gọi một dinh trấn quan trọng của Đàng Trong). Cả hai địa danh này hiện nay đều ở cạnh nhau. Cuộc điền dã của Giáo sư Trần Quốc Vượng năm 1989 phát hiện thấy trên vùng đất gọi là Thanh Chiêm có rất nhiều hiện vật, di tích Chiêm Thành và cuộc hội thảo về 400 năm Dinh trấn Thanh Chiêm do tỉnh Quảng Nam tổ chức năm 2002 đã xác định đây chính là dinh trấn mà Nguyễn Hoàng đã thành lập trên cơ sở một đồn lũy cũ của Chiêm Thành.
Những điều này tạm cho chúng ta giả định rằng cho đến trước khi Hồ Quý Ly chiếm lấy Chiêm Động và Cổ Lũy thì toàn bộ vùng đất Nam Hải Vân, tuy đã thuộc về Đại Việt nhưng vẫn thuộc quyền cai trị của Chiêm Thành. Mãi đến năm 1471, SKTT còn chép đến việc bắt sống Bồng Nga Sa là viên lại giữ cửa sông Cu Đê (sông chảy sát chân núi Nam Hải Vân) của nước Chiêm(159) cho thấy người Chiêm Thành vẫn còn kiểm soát khá kỹ vùng đất Nam Hải Vân. Trong khi đó Bắc Hải Vân đã được Đại Việt kiểm soát ngay sau 1306.
Điều này cho phép ta kết luận: Cho đến ít nhất, trước 1402 vùng đất Bắc Hải Vân, với Nha môn Đô Ty Thừa ty của phủ Triệu Phong là thành Hóa Châu, thì người Việt đã đến định cư và chính quyền của nhà nước cai trị luôn thể hiện được quyền lực một cách liên tục, sự gián đoạn chỉ là thời gian ngắn. Sau 1306, quân Chiêm Thành nhiều lần đánh ra Hóa Châu nhưng đều thất bại ngoại trừ trường hợp Chế Bồng Nga đánh đến Thăng Long nhưng cũng chiếm giữ được thời gian ngắn. Dân cư hai châu mới Thuận và Hóa này phần lớn là người Nghệ An, Hà Tĩnh vào. Một số tộc họ xuất phát từ các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ hoặc Thanh Hóa vào thế nhưng họ là số ít và phải hòa nhập vào phương ngữ này mà không để lại dấu vết nào quan trọng (xem thêm mục “Dân Kinh cựu” ở trang 190).
Và điều lý thú là cho đến nay, sau 600 năm, họ vẫn giữ nguyên được giọng nói của cha ông họ và hình thành một vùng phương ngữ II, giọng nói người khu 4, thống nhất, ít dị biệt mặc dù vùng đất của phương ngữ này trải dài từ Nam Thanh Hóa đến đèo Hải Vân, không phải ít chia cắt bởi sông và núi.