4/ Dấu vết còn lại của cái biên giới thời Huyền Trân - hay dấu ấn thời Hồ Quý Ly

Có 500 Năm Như Thế

Lượt đọc: 491 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4/ Dấu vết còn lại của cái biên giới thời Huyền Trân - hay dấu ấn thời Hồ Quý Ly

❊ ❊ ❊

Ở chương bàn về “Giọng nói người Quảng Nam” chúng ta đã có hai mục: 3.1 (trang 140) và 3.2 (trang 146) bàn về giọng nói của người Quảng Nam ở Bắc sông Thu Bồn và Nam sông Thu Bồn.

Bắc sông Thu Bồn gồm các huyện Hòa Vang, Đại Lộc, Điện Bàn, TP. Đà Nẵng và TP. Hội An. Trong vùng thổ ngữ này phải kể thêm Duy Xuyên mặc dù Duy Xuyên hiện ở Nam Thu Bồn (Trước thời Diệm, một nửa huyện Đại Lộc nay thuộc huyện Duy Xuyên). Nam sông Thu Bồn gồm các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Hiệp Đức, Tam Kỳ, Tiên Phước, Núi Thành, Phú Ninh.

Và đi đến kết luận trước 1402 ở phía bắc sông Thu Bồn giọng Quảng Nam đã hình thành thì ở Nam Thu Bồn tiếng Việt vẫn chưa được sử dụng. Việc nhận diện được những nét khác nhau của giọng nói hai vùng gắn liền với các thời điểm lịch sử cho phép chúng ta qua đó có thể cũng đoán định được những bước đi của tiếng Việt trên con đường Nam tiến.

Chúng ta hãy cùng xét xem yếu tố nào nổi bật đã tạo nên giọng nói Quảng Nam qua đó quan trọng nhất là nhận diện được chân dung cái cộng đồng dân cư tạo nên vùng thổ ngữ đó.

Nhìn lại lịch sử ta thấy vùng đất Bắc sông Thu Bồn thuộc Châu Hóa từ đám cưới Huyền Trân 1306. Dù là vùng đất ky my, vùng đất thường xuyên có tranh chấp, có thể triều đình Thăng Long không kiểm soát tới nhưng chắc chắn người Việt đã đến ở. Đến giờ ta hoàn toàn không có bất cứ tư liệu nào về những người Việt vào đất này trong suốt 100 năm ấy. Tư liệu bia mộ hoặc bia ký hoặc dấu vết công trình kiến trúc nào đó thuộc giai đoạn này (1306-1402) cũng hoàn toàn không tìm thấy. Một giai đoạn lịch sử suốt 100 năm của nhiều người tiên phong hầu như đã hoàn toàn mất dấu vết?(205)

Cái mà chúng tôi đồ chừng rằng chính nó là dấu vết còn lại mà chúng ta có thể thấy được hình như, duy nhất, đó chính là sự khác nhau giữa giọng nói của người phía Bắc sông Thu Bồn và phía Nam sông Thu Bồn. Giọng Bắc Thu Bồn hình thành ngay từ trước và sau 1306; và giọng Nam Thu Bồn chỉ hình thành từ 1402.

Dấu ấn đậm nét nhất dưới thời Hồ Quý Ly là những cuộc di dân có tổ chức của triều đình trung ương vào vùng Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa; tức là vùng đất Nam Thu Bồn. Nhưng lưu dân thời này, nhà Hồ, chủ yếu là người Thanh Hóa. Đây là một tính toán chiến lược của cha con Hồ Quý Ly, ông biết khó sống yên ổn được ở đất Bắc Hà, cho dù đã xây thành Tây Đô nhưng vẫn chưa thực sự an tâm, Hồ Quý Ly nghĩ đến vùng đất Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa này và đã đặt cơ sở tin cẩn trước bằng cách đưa những người thân tín vào trước. Và quả thật khi nhà Minh tiến đánh, cha con Hồ Quý Ly đã chạy vào vùng đất này nhưng tiếc là đã quá trễ, cả hai cha con đều bị bắt ở núi Thiên Cầm, Hà Tĩnh nay.

Và không phải vô cớ mà vùng đất Nam Thu Bồn này lại mang đậm dấu ấn thổ ngữ vùng Thanh Hóa. Không thể có lý giải nào khác, đây chính số lượng người Thanh Hóa vào đông đúc đã để dấu ấn của họ lên vùng thổ ngữ Nam Thu Bồn sâu đậm đến độ còn lưu dấu đến hiện nay.

Nếu giọng Bắc Thu Bồn (Qua khảo tả của GS. Cao Xuân Hạo, đó là giọng nói của người Quảng Nam điển hình mà vùng Hội An là tiêu biểu gồm TP. Đà Nẵng, Điện Bàn, Đại Lộc, Hội An; trên thực địa có thể kể thêm huyện Duy Xuyên vào nhóm thổ ngữ này mặc dù huyện Duy Xuyên ở Nam sông Thu Bồn) là do người Chàm nói tiếng Việt theo giọng của những cư dân châu thổ sông Hồng, bằng chứng yếu ớt mà chúng ta có được là những ví dụ mà Hoàng Thị Châu đã nói đến trong “Phương ngữ học”: ở thôn Đông Tỉnh ở xã Thái Giang, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình: “các nguyên âm tròn môi ô, o được kéo dài và theo sau là những phụ âm -ng, -k không ngậm môi. Trẻ em hát câu đồng dao “cho dê đi học, cho cóc ở nhà, cho gà bới bếp…” thành ra “… cho dê đi hoọc, cho coóc ở nhà, cho gà bới bếp…”(206). (Âm cóc bình thường là một âm khép môi về cuối, các bạn không nắm chắc ngữ âm học nên đọc thử chữ coóc không ngậm môi cuối âm sẽ nhận ra nét đặc trưng này. Và người Quảng Nam đều nói vậy, không khép môi về cuối, với các chữ như tóc, móc, trong, (phát âm gần như tác, mắc, traong…).

Là một người Quảng Nam, chúng tôi cảm nhận sự tương đồng sâu sắc ở ví dụ các nguyên âm bị kéo dài và không khép môi này. Mặc dù không thể từ đó kết luận được là giọng nói người Quảng Nam ảnh hưởng bởi một yếu tố nào đó từ Thái Bình, thế nhưng điều đó vẫn cho phép ta hình dung về giọng nói người Bắc Quảng Nam đã được hình thành do những người Chàm tiếp nhận từ nhóm người Việt nào đó ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.

Trong khi đó giọng nói Nam Thu Bồn (bao gồm các huyện Quế Sơn, Thăng Bình, Hiệp Đức, Tam Kỳ, Núi Thành) lại có một chất giọng ảnh hưởng rõ chất giọng người Thanh Hóa. Nếu Bắc sông Thu Bồn âm [a] được phát âm như [oa], Quảng Ngãi âm [a] phát âm gần như [e] thì vùng Nam Thu Bồn này là sự trung gian của hiện tượng chuyển âm ấy: anh = ênh, đóa banh = đóa bênh (đá banh)(207)… Đây thực sự là một vùng đệm về ngữ âm để rồi khi vào Nam Tam Kỳ thì chuyển hẳn sang chất giọng của một vùng phương ngữ rộng lớn hơn là Quảng Ngãi, họ không nói mi, tau mà là mầy, tao: không nói mô, tê, răng, rứa, mà là đâu, kia, sao, vậy… và nguyên âm [a] thì chuyển hẳn sang [e] khi vào đến Bình Định, Phú Yên.

Có một câu hỏi xứng đáng được đặt ra là tại sao giai đoạn người Việt di dân vào dưới thời nhà Hồ là ngắn, chỉ 5-7 năm, nhưng dấu ấn nó để lại lại sâu sắc đến vậy trong giọng nói người Quảng Nam hiện nay? Câu trả lời theo quan điểm phân kỳ lịch sử của chúng tôi đó là chính vì ngay sau 1407 vùng đất này đã hoàn toàn đứt mối quan hệ với nguồn cội Bắc Bộ do nhà Minh chiếm đóng và người Chàm lại chiếm lại vùng đất cũ Bắc Thu Bồn “Đến khi Chiêm Thành cất quân thu lại đất cũ dân di cư sợ chạy tan cả,(208). Sử ghi vậy nhưng gia phả tộc Phan làng Đà Sơn lại ghi ông Phan Công Thiên tổ chức che giấu, bảo vệ những người Việt ở lại khỏi sự thanh trừng của người Chăm cực đoan. Tộc Hồ Cẩm Sa cũng là một ví dụ người Việt ở lại thời kỳ này (gia phả ghi tiền hiền của tộc là ông bác của Hồ Quý Ly và lưu hạ đến nay đã 26-27 đời). Chiêm Động và Cổ Lũy lúc này tuy đã thuộc về Đại Việt nhưng vẫn thuộc quyền kiểm soát của Chiêm Thành qua câu nói của vua Lê Thái Tông năm 1435(209).

Và theo logic cuộc sống thì dù lý do gì chăng nữa thì số lượng người Việt gốc Thanh Hóa ở lại là không ít. Chính lý do đứt với quan hệ với bản quán đã khiến người Chàm tiếp thu giọng Thanh Hóa ở vùng đất phía Nam sông Thu Bồn mà không bị pha tạp giọng nói nào khác xen vào do các cuộc di dân đã hoàn toàn bị cắt đứt cho đến 1446 mới nối lại sau trận đánh Đồ Bàn dưới thời vua Lê Nhân Tông. Tuy vậy lần này không tạo dấu ấn mạnh về di dân, di dân chỉ thực sự tạo nên những dấu ấn khi Lê Thánh Tông đánh Chiêm Thành vào năm 1471. Có nghĩa là vùng đất Nam Thu Bồn có đến ngót nghét 100 năm để ổn định việc hình thành vùng thổ ngữ do sự giao hòa của hai ngôn ngữ Chàm - Việt vùng Thanh Hóa.

Có lẽ vĩnh viễn chúng ta sẽ không làm được bảng đối chiếu so sánh việc biến đổi ngữ âm giai đoạn này bởi một điều đơn giản người Việt Thanh Hóa thời đó có thực sự nói giọng giống như người Thanh Hóa hiện nay. Và người Chàm vùng này dùng ngôn ngữ gì lúc đó, ngữ âm ra sao là điều có thể nói là hoàn toàn bất khả.

Khi một ngôn ngữ mới trở thành tiếng mẹ đẻ, đến phiên nó lại trở thành một sức mạnh về sự bảo lưu những bản sắc văn hóa mới do sự giao tiếp hai nền văn hóa tạo thành. Người Quảng Nam cứ thế mà tự hào với vùng đất địa linh nhân kiệt của mình, giọng nói đầy bản sắc mạnh mẽ của người đầu sóng ngọn gió của mình.

oOo

Liệu đã có thể rút ra một kết luận rằng: Bên cạnh việc chuyển sang nói tiếng Việt sớm muộn khác nhau của người Chàm mà nay ta có những vùng thổ ngữ thuộc phương ngữ III khác nhau là việc người Chàm tiếp thu tiếng Việt của những người Việt thuộc các vùng thổ ngữ khác nhau cũng tạo nên những giọng nói khác nhau trên đất Quảng Nam nay?

Tất cả sẽ là những võ đoán nếu chúng ta không tìm ra được một bằng chứng, một cơ sở suy luận, hoặc chí ít cũng là một so sánh tương tự. Rất may là chúng ta còn có những ví dụ tương đương, những ốc đảo nói giọng nói của Quảng Ngãi nằm ngay trong lòng của Quảng Nam mà ta sẽ không bao giờ giải thích được tại sao lại như vậy nếu không “tạm” chấp nhận rằng tương tự như trường hợp giọng nói Quảng Ngãi, rằng đó chính là những ốc đảo người Chàm cố gắng bảo lưu nền văn hóa Chămpa của mình và họ chỉ chịu chuyển sang nói tiếng Việt vào giai đoạn muộn hơn, thậm chí theo chúng tôi có nơi mãi đến cuối thế kỷ XVIII mới chịu chuyển sang nói tiếng Việt. Và rõ ràng, ai cũng có thể thấy được chính điều đó đã khiến Quảng Nam và Thừa Thiên - Huế có những ốc đảo thổ ngữ lạ tai nhưng giống nhau một cách kì lạ.

Đó là xét thời gian, còn xét về nguồn gốc tiếng Việt do những người Việt ở những vùng khác nhau vào thì ta lại có ví dụ về giọng nói Bắc Thu Bồn và Nam Thu Bồn.

Thật lý thú khi mà đến nay ta như còn thấy được dấu vết của cái biên giới thời xa xưa của 700 năm trước ấy, thời mà đến tấm bia đá hay cái mộ, đến cái cốc cái lọ, cái chén cái bát vật dụng hằng ngày của những lưu dân đầu tiên cũng hoàn toàn biến mất như chưa hề tồn tại trên đời.

CÓ 500 NĂM NHƯ THẾ - IN SUCH A 500 YEARS Bản sắc Quảng Nam và Đàng Trong từ góc nhìn phân kỳ lịch sử. Hồ Trung Tú
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.