CÂY MÙ U VÀ ĐÀ NẴNG
Nghe kể rằng ngày xưa, khi quân Pháp đánh Đà Nẵng năm 1858, ông Ông Ích Khiêm cùng nghĩa quân, vì thấy rằng người Tây Dương không biết ngồi xổm nên nghĩ họ không có đầu gối, ngã thì không tự đứng dậy được nên đã dùng trái mù u, tròn to như đầu ngón chân cái, rải đầy trên đường rồi dụ quân địch vào. Trận đó quân ta thắng to.
Có điều là, không thể tìm thấy sự kiện ấy trong bất cứ sử liệu thành văn nào, chỉ trong ca dao truyền khẩu dân gian còn lưu lại mấy câu như sau:
“Đà Nẵng, Sơn Trà, Miếu Bông, Cẩm Lệ
Chuyện trăm năm còn kể trận mù u”.
“Hội ni ngó bộ không xong
Rủ nhau đánh trận mù u giữ làng”.
Đối với thế hệ trẻ hôm nay, câu chuyện càng khó tin hơn vì trên khắp Đà Nẵng hầu như chẳng còn thấy cây mù u nào ngoài cây cổ thụ to quá 2 người ôm ở Miếu Bà - Khuê Trung, bên cạnh nghĩa trang Hòa Vang.
Thế nhưng trong ghi chép của H. Cosscrat, in trong “Những người bạn cố đô Huế” tháng 9/1919 và tháng 11/1920, nội dung về con đường cái quan từ Đà Nẵng đi Huế, thì cây mù u thời đó chiếm một vị trí khá quan trọng trong đời sống của người Đà Nẵng.
“Cùng một lúc người ta trồng hai bên đường những cây cối được chọn lọc hơn cả, trong số đó có những cây mù u, có tên chữ Hán là Nam Mai Mộc, gỗ loại này dùng để làm cọc chèo và thanh gỗ ngang của thuyền. Quả mù u có chất dầu được người Annam dùng nhiều để trị ghẻ và vết thương”. Chú thích cho những ghi chép này các tác giả trích thêm một bài báo ở tập san nghiên cứu Đông Dương số 19, A.S ra ngày 1/1/1900 nhan đề “Dầu mù u” của ông Lefeuvre, giám đốc phòng thí nghiệm Nam Kỳ: “Mù u là một cây thuộc họ Clusicées, khá nhiều ở miền Nam. Lột lớp vỏ ngoài, người Annam cắt hạt thành lát mỏng phơi ra nắng và tán thành bột, bột đun sôi và ép lấy dầu dùng để đốt đèn hoặc làm chữa bệnh ghẻ lở. Nếu lấy dầu thêm bồ tạt và xút rất dễ làm xà phòng”.
Một chỗ khác, ở trang 36: “Người ta có nói với chúng tôi nhưng chúng tôi khó lòng kiểm chứng rằng cây mù u được chọn đặc biệt để trồng hai bên bờ đường cái quan là một việc làm không phải không có chủ ý. Chủng tộc Annam như ta biết từ xa xưa bị nhiều bệnh ngoài da, đặc biệt là bệnh chốc lở khó lòng chữa trị. Gia Long và những người kế vị khi hạ lệnh trồng cây này chắc chắn hẳn muốn đặt một phương thuốc ngay trên đường cái quan cho mọi người tùy tiện dùng nó. Dọc theo xứ Trung Kỳ, trên những con đường cái quan ta hãy còn gặp nhiều hàng cây mù u già, thân cây sần sùi, vặn vẹo, tán lá màu lục thẫm rủ bóng mát trên con đường nắng chói”.
Về Hòa Cường, Khuê Trung gặp những người cao tuổi hỏi chuyện về cây mù u chúng tôi đều được nghe kể trước 1945 đường từ Cẩm Lệ về Đà Nẵng hai bên đường là hai hàng mù u rợp mát, sau Pháp mở đường mới chặt hết đi. Trước 1945, khi chưa có dầu hỏa, thắp sáng còn dùng đèn sáp hoặc dầu phụng khá đắt tiền thì nhiều nhà vẫn dùng trái mù u để thắp. Theo lời kể của bà Lê Thị Tại hiện ở tổ 4 phường Hòa Cường Bắc, quận Hải Châu thành phố Đà Nẵng, năm nay (2012) đã gần 90 tuổi, thì hầu hết tuổi con gái của bà là nhặt hạt mù u về lột vỏ, thái hạt ở trong ra thành từng lát mỏng, xiên vào một que tre kiểu như xiên thịt nướng, đem phơi khô. Khi dùng để nguyên vậy đem đốt như đốt đèn cầy. Đèn mù u nhiều khói, có mùi nồng nồng, xua muỗi tốt.

Một hình ảnh sinh hoạt tín ngưỡng của người Đà Nẵng gắn bó với cây cối, vật thiêng.
Tranh du ký của Barrow năm 1893 ở Nam Ô.

Cây mù u ở Miếu Bà, Khuê Trung.
Như vậy thì, nhìn ở góc độ người trong cuộc, chúng ta hiểu các vua triều Nguyễn ra lệnh trồng cây mù u hai bên đường cái quan chính là để người đi đường, chủ yếu là đi bộ, có thứ để thắp sáng mỗi khi lỡ độ đường và cũng là thứ để trừ rận mà ta còn thấy rõ sự khó chịu của nó trong truyện ngắn “Lang rận” của Nam Cao.
Quả thật hiếm có loài cây nào gắn bó và nhiều kỷ niệm như cây mù u, chỉ tiếc là chẳng hiểu vì sao nó lại bước ra khỏi đời sống người Đà Nẵng và cũng biến mất luôn trên mặt đất, chỉ còn một cây duy nhất ở trước Miếu Bà Khuê Trung như chứng nhân cho người Đà Nẵng đánh Pháp hơn 150 năm trước.
Trong ghi chép của H. Cosserat bất chợt đọc thấy câu: “Toàn bộ ngôi làng được lập trên cát, có một lối đi giữa hai hàng mù u rất đẹp…”. Đó là ngôi làng trên đường ra Huế, nhưng làng nào vậy? Thanh Khê? Liên Chiểu? Xuân Thiều? Nam Ô? Các làng này không còn bất cứ một cây mù u nào!
Và bất ngờ, câu thơ của Chu thần Cao Bá Quát như nói hộ chúng ta bao điều về những ký ức đang phai mờ dần: “Ngoái lại Hải Vân không với tới/Ròng ròng lệ nhỏ nhớ mù u”!

Quả mù u.