Đặt vấn đề cho có từng phần rạch ròi là như vậy chứ thật ra vấn đề người Chàm ở lại đã mặc nhiên được công nhận qua các ghi chép của Dương Văn An trong “Ô Châu Cận Lục”: “Người La Giang nói tiếng Chiêm. Gái Thủy Bạn mặc áo Chiêm. Hoài Tài, Tân Lại, Đan Lương nửa phần giữ thói mây mưa; Bao Vinh, Lại An, Thể Lại vẫn còn tục Giang Hán(64). Thói hư để mãi thành quen, kể cũng có nguyên nhân cả”(65). Cái nguyên nhân mà Dương Văn An nói đó hẳn là phong tục của người Chàm cũ. Cũng tra trong Ô Châu Cận Lục, chúng ta thấy 8 xã có thói mây mưa ấy thì phần lớn nằm về phía bắc Hải Vân. Chúng ta hãy thử xem các xã ấy thuộc khu vực địa phương nào hiện nay:
La Giang: Không thấy Ô Châu Cận Lục đề cập đến lần thứ hai tên làng này nên không biết La Giang thuộc huyện nào. Ở Bố Trạch, bắc Quảng Bình, khu vực của làng Cao Lao Hạ, thành Khu Túc cũ, có các làng La Hà (Hà là sông, nên có thể gọi là La Giang), La Kinh đều bên bờ sông Gianh. Theo Đào Duy Anh(66) những đoạn sông qua các làng đó đều có thể gọi là La Giang. Chi tiết này rất lý thú khi ta khảo sát đến giọng của người Cao Lao Hạ nổi tiếng trong giới nghiên cứu ngôn ngữ học.
Thủy Bạn thuộc huyện Kim Trà phủ Triệu Phong. Nay đổi tên là Thủy Tú thuộc xã Hương Vinh huyện Hương Trà (Ô Châu Cận Lục ghi chùa Thiên Mụ thuộc huyện Kim Trà).
Hoài Tài, Lại Ân thuộc huyện Tư Vinh. Hoài Tài đổi tên thành Mậu Tài; Lại Ân vẫn giữ tên làng cũ; cả hai đều thuộc xã Phú Mậu huyện Phú Vang, Thừa Thiên - Huế.
Bao Vinh thuộc huyện Tư Vinh, nay thuộc Hương Vinh, huyện Hương Trà, gần thành phố Huế nay.
2 xã Tân Lại, Đan Lương đều không rõ huyện.
Thế Lại trong chương ba nói về “Bản đồ” thì xếp Thế Lại vào huyện Kim Trà, khu vực thành phố Huế ngày nay, thế nhưng trong chương tổng luận về phong tục thì hai lần Dương Văn An xếp Thế Lại vào huyện Tư Vinh. Theo các tác giả (Trần Đại Vinh và Hoàng Văn Phúc) hiệu đính và dịch chú Ô Châu Cận Lục, bản in của NXB. Thuận Hóa năm 2001 thì, Thế Lại nay đổi tên thành Thế Lại Thượng và Thế Lại Hạ, thuộc xã Hương Long, phường Phú Hiệp, TP Huế.
Huyện Tư Vinh thời Lê Sơ đổi thành Tư Vang, chúa Nguyễn đổi thành Phú Vang, năm Minh Mạng 16 tách thành Hương Thủy và Phú Lộc. Ô Châu Cận Lục chép đèo Hải Vân, cửa biển Tư Khánh, Đà Nẵng đều thuộc huyện Tư Vinh, nên Tư Vinh thời Dương Văn An kéo dài từ Phú Lộc đến tận Nam Ô, và phần lớn TP. Đà Nẵng hiện nay.
“Huyện Tư Vinh… con trai Lại Thị bày trò chồng cối lên cao chín chiếc. Hoặc tường hoa ngõ liêu thái độ lẳng lơ, hoặc nói tiếng Châu Hóa, mặc áo Chiêm thói lễ bỉ lậu; thậm chí kẻ thất phu Chiêm Ân làm mất mặt thế gia, bọn du đãng Lại Ân thông dâm với thím dâu, thế thì vinh hay nhục?(67)” Hiện tượng thông dâm với thím dâu, nếu đó là một chuyện tai tiếng, đơn lẻ thì thôi khỏi bàn, còn nếu như đó là “bản chất” của trai Lại Ân thì chúng ta vẫn có thể “biện minh” bằng phong tục của người Chàm, ảnh hưởng bởi phong tục Ấn Độ. Theo đó người con gái về nhà chồng và trở thành tài sản của gia đình nhà chồng. Chồng chết thì phải lấy anh em trai, không có anh em trai thì phải làm vợ của cháu trai(68).
Và ở huyện Điện Bàn thì Ô Châu Cận Lục chép:
Huyện Điện Bàn đất đai liền với phương Nam, cương giới ở ngoài Châu Ô… Hóa Khuê, Cẩm Lệ(69) đóng cọc gỗ để chắn cá sấu; Lỗi Sơn, Chiêm Sơn rào cổng gỗ mà phòng hổ báo. Đàn bà mặc váy Chiêm, đàn ông dùng quạt Bắc… Phân biệt tôn ti quần áo chẳng tô hồng thì tía. Phong tục huyện Điện Bàn hậu nhiều bạc ít là như thế(70).
Như vậy các “Lề thói cũ” ấy chúng ta thấy phần lớn đều nằm trong huyện Tư Vinh và huyện Điện Bàn, phần lớn thuộc các huyện Bắc và Nam Hải Vân hiện nay. Có nghĩa rằng chuyện người Chàm ở lại đã là hiển nhiên và không phải bàn cãi nhiều, cần nhớ rằng lúc này đã là 1553, có nghĩa rằng trước đó 100 năm, hoặc 200 năm thì người Chàm ở lại còn đông hơn nữa, “Lề thói mây mưa bỉ lậu cũ” hẳn nhiều và phổ biến hơn nữa! Ở phía bắc Hải Vân, thuộc Châu Hóa, vùng đất luôn được kiểm soát bởi người Việt suốt từ 1306 mà đã không ít làng Chàm như vậy thì nam Hải Vân chắc chắn sẽ còn nhiều hơn nữa.
Vấn đề còn lại là những điều mà Dương Văn An ghi chép đó liệu đã… không có gì để nói thêm? Liệu chỉ có 8 xã là người Chàm ở lại vào năm 1553 ấy hay vẫn còn rất nhiều xã khác nữa mà Dương Văn An không nói tới? Những ghi chép ấy của Dương Văn An thật ra đã được nhiều người sử dụng cũng với một mục đích là người Chàm ở lại là có thật và chính vì thế mới có sự tiếp thu hoặc tiếp biến văn hóa xảy ra. Thế nhưng phải chăng vấn đề chỉ có như vậy? Liệu có cách gì để biết nhiều hơn những gì Dương Văn An đã nói? Hoặc có còn ở đâu đó sử liệu nào về vấn đề này?