Như vậy là chí ít chúng ta cũng đã có bằng chứng về “Người Chàm ở lại” và họ vẫn giữ nguyên được bản sắc, phong tục lối sống của mình cho đến 1802. 500 năm đằng đẵng đã trôi qua kể từ sự gặp nhau giữa hai bản sắc Chàm - Việt, cuộc va chạm giữa hai nền văn minh lớn nhất của nhân loại là Ấn Độ và Trung Hoa ấy hình như đã để lại đâu đó trong tâm hồn người Quảng Nam hôm nay một dấu vết nào đó; họ như luôn phải trung thành với một niềm tin nào đó, một lý tưởng nào đó. Không thế họ đã không thể tồn tại!
Những chuẩn mực lối sống theo hệ quy chiếu phong kiến Nho giáo dưới thời Minh Mạng đã khiến họ phải từ bỏ tất cả trong thời gian ngắn để hòa nhập triệt để vào cộng đồng người Việt ngày càng đông, rồi quên dần bản sắc mình, chỉ còn phảng phất đâu đó, hoặc cũng có thể còn rất đậm mà chúng ta không thể tự biết, tính cách, lối sống của người Chàm xưa mà ta hay gọi là bản sắc Quảng Nam?
Để chấm dứt chương về vấn đề Người Chàm ở lại này chúng tôi xin mượn một ghi chép trong Đại Nam Nhất Thống Chí chép về xã hội tỉnh Bình Thuận (bao gồm cả Ninh Thuận ngày nay) vào cuối thế kỷ XIX để hình dung nên phần nào xã hội Quảng Nam vào các thế kỷ từ XIV đến XVIII: “Người Kinh người Thổ ở lẫn, đàn ông mặc quần áo người Kinh, đàn bà mặc quần áo người Thổ, tang hôn tế tự đều đại khái giống tục người Kinh. Tương truyền là người Kinh Thuận Hóa đến đây, lấy vợ người Thổ, lâu ngày sinh nở thành đông, cho nên dân đã đồng hóa”(134). Hiện nay về Bình Thuận, Ninh Thuận hình ảnh “ở lẫn” ấy cũng như cách ăn mặc cũng như tang hôn tế tự ấy không còn thấy nữa, sự phân biệt giữa người Kinh và người Chàm là đã rõ ràng.
Vậy, những người, những gia đình mà “Đàn ông mặc quần áo người Kinh, đàn bà mặc quần áo người Thổ” ấy sau 100 năm liệu đã có hoàn toàn “biến” thành người Kinh mà hoàn toàn quên mất gốc gác, không còn lưu lại một chút ký ức nào của cha ông?
Và liệu những gì xảy ra trong cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ấy ở Ninh Thuận cũng chính là những gì đã xảy ra ở Quảng Nam suốt 500 năm sau đám cưới Huyền Trân?