Thật thiếu sót, đến lần in thứ hai chúng tôi mới tiếp cận được văn bản “Thủy Thiên”, một văn bản ghi chép từ đầu thế kỷ XV ở vùng đất Quảng Trị, mô tả nhiều chi tiết mối quan hệ của người Việt di dân và người Chàm bản địa với độ khả tín cao. Nếu “Phan tộc phổ chí” chép chuyện qua lăng kính của người Chàm ở lại thì văn bản “Thủy Thiên” (theo nghĩa là những người thiên di đầu tiên vào vùng đất mới) lại là ghi chép của một người Kinh khi tiếp xúc với những người cư dân bản địa Chiêm Thành ở vùng đất Quảng Trị nay.
Văn bản “Thủy Thiên” được lưu giữ bởi họ Bùi làng Câu Nhi, xã Hải Tân, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị, được các tác giả Nguyễn Hữu Thông và Lê Đình Hùng(77) báo cáo trong Hội thảo khoa học: “Nhận thức về miền Trung Việt Nam - Hành trình 10 năm tiếp cận”, Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam - Phân viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam tại Huế tổ chức tại Huế ngày 26/7/2009; có tên chính thức là: “Cư dân vùng Thuận Hóa đầu thế kỷ XV qua văn bản “Thủy Thiên”. Nhận thấy thời đó, Thuận Hóa là tên gọi vùng đất gồm cả các tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, và một nửa tỉnh Quảng Nam nay, văn bản “Thủy Thiên” hoàn toàn có thể phản ảnh đời sống của cư dân cả vùng đất rộng lớn này, nhưng riêng trong trường hợp này, ưu tiên kỹ hơn cho vùng Quảng Nam, chúng tôi xin đổi tên gọi lại như trên để nhấn mạnh đến việc đây là chuyện xảy ra ở vùng Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế, nơi hiện nay truy tìm dấu vết thời cộng cư, giao lưu văn hóa Việt Chăm là hiếm và khó hơn vùng Quảng Nam nhiều, cũng đã thế, huống nữa là vùng Quảng Nam. Hơn nữa việc xác định này cũng sẽ cho ta hình dung nên không gian, bối cảnh xã-hội lúc đó, đầu thế kỷ XIV, ở Quảng Trị và nên “khoanh” nó lại ở vùng Quảng Trị, rộng hơn có thể là Bắc Hải Vân; chứ vùng Quảng Nam có thể mọi chuyện đã không như vậy nữa, chí ít thì sau 1407, người Chàm đã chiếm lại Nam Hóa Châu, tức cái rẻo từ Hải Vân đến Thu Bồn; nên các thông tin trong “Thủy Thiên” có thể đã không còn đúng ở đây nữa.
Do không có điều kiện tiếp xúc với văn bản gốc chúng tôi xin giới thiệu ra đây những gì đã được các tác giả giới thiệu trong báo cáo. Riêng phần khảo tá, phân tích và đánh giá khá công phu của các tác giả. Bạn đọc có thể tìm đọc toàn văn báo cáo ở đường link: pdf.
oOo
Nội dung chính:
Trành, một ngày hội họp uống rượu khoản đãi hương lão, hương dịch nhớ lại chuyện năm xưa, nhân cùng với những người ban đầu di cư thuộc nhập nói rằng: “Chúng ta, nay ai ai đều yên ổn chỗ ở, danh tịch cũng đã định. Trong đơn chiêu mộ có hơn hai mươi người, quan trên đã cấp giấy chứng nhận: Bùi Trành; Bùi Trừ; Bùi Chức; Nguyễn Kinh; Đề Phùng; Hoàng Tất Đắc; Hoàng Kha [bệnh chết]; Nguyễn Thao [nhập nơi khác chiêu mộ]; Phạm Quán; Phạm Thận [nhập nơi khác chiêu mộ]; Trần Ninh [xin nơi khác chiêu mộ]; Trần An; Lê Thành; Lê Thật [bệnh chết]; Đào Thức; Đỗ Bình; Trương Hậu; Phan Cơ; Phan Thích [bệnh chết]; Đặng Khiêm, Đặng Lượng [xin nơi khác chiêu mộ]). Xã hiệu xác lập là Câu Lẫm (nhân đi tìm chọn đất, ví như ngựa trắng bay cao xem mà hạ xuống đây). Đình vũ đã làm xong (tọa Quý hướng Đinh). Tế tự, hương ẩm kính cẩn thi hành. Địa phận tiếp giáp giới hạn cũng đã xác định rõ ràng. Còn những người ban đầu di cư có tên trong hộ tịch, nguồn gốc của tôi với các vị, ai ai cũng nên thuật lại, tôi sẽ ghi chép đầy đủ để con cháu đời sau người muốn khảo cứu lấy đó làm chuẩn. Không làm vậy thì những người đến ở đây sau cũng được gọi là những người ban đầu di cư, rồi hàm hồ bàn tán ai mà biện bạch điều này cho được
…
Lúc đó mọi người đều cho như vậy là rất hay. Tôi bèn theo đúng lời kể viết thành một bản, bình luận sắp xếp yên ổn xong. Tôi liền cất nó đi
…
Đến lúc, nhân triều đình bàn bạc: Đất Ô châu người Chiêm đã bỏ đi, tất cả dân của ta không có gia cư điền sản, chiêu mộ được nhiều người đến đó canh phá tụ hợp lập làng sau thành số sẽ khởi trưng. Tôi khởi ứng ngay những lời đó, thương thuyết cùng với mọi người, ứng mộ được tất cả hơn hai mươi người, mọi việc sắp đặt đã yên ổn
…
Do ngày trước, tôi đã thương thuyết với người Chiêm ở xứ đó, cho nên khi đến nơi không có tranh cãi về điều này
…
Người Chiêm thường xuyên qua lại, tôi lấy lòng thành để khoản đãi. Mỗi khi Người Chiêm gặp biến cố gì tôi cũng lui tới giúp đỡ. Lúc ấy, người Chiêm lấy nhiều thổ cẩm để tặng tôi, tôi không sử dụng, lâu ngày thành gánh, mang trình lên quan trên. Quan trên thay mặt giúp tôi trình lên Thái Tổ. Nhân sự việc này Thái Tổ ban cho tôi hiệu Cẩm Đề. Xứ này người Chiêm nhiều mà bình nhân (chỉ người Việt gốc từ đất Bắc) ít, sợ sinh hạ con cháu một Tề mười Sở rồi nhiễm biến phong tục của người Man. Như chỗ ông ở bình nhân nhiều mà người Chiêm ít, cuối cùng sau này cũng nhiễm theo tập quán rồi thành phong tục của ta. Xin thuộc “Nhân Lý”, tiếp đến để mưu đồ cho con cháu sau này. Ông có thể thu nạp được không?…
(Hết văn bản)
Có một thông tin hết sức quan trọng cho ta biết lúc này, nửa đầu thế kỷ XV, ở vùng Quảng Trị người Chàm vẫn ở lại nhiều: “Xứ này người Chiêm nhiều mà bình nhân ít”, cần nhớ rằng lúc này sau sự kiện nhường Ô - Lý đã gần 150 năm; và Hồ Quý Ly cũng đã đưa dân vào đến Thăng - Hoa - Tư - Nghĩa, tức Nam Quảng Ngãi nay nhưng ở Quảng Trị người Chàm ở lại vẫn đông!
Họ đã không chạy đi đâu cả. Và văn bản này cho chúng ta thông tin về quan điểm thái độ của người Việt với người Chàm bản địa. Điều này rất dễ khiến chúng ta cũng sẽ theo đó mà nhìn nhận hoặc hình dung nên vấn đề trong tâm thế của những người “thuần Việt” mà quên rằng những người “Chàm nhiều” đã biến đi đâu, đã tác động lên người Việt mới những gì, hay họ chẳng biến đi đâu cả và chúng ta, những người con Quảng Trị, một số là hậu duệ của chính họ mà không hay không biết, ở đây điều chúng tôi muốn nói không phải là vấn đề huyết thống hay văn hóa mà chính là thái độ của chúng ta khi nhìn lịch sử là thực sự cần được thay đổi.