Ông bác sĩ đứng tuổi sau khi xem xét những vết thương của người chiến sĩ trẻ ghi vào tờ phiếu khám bệnh: "Quarante plaies multiples" . Ông vẫn còn thói quen dùng tiếng Pháp. Ông là bác sĩ chuyên khoa ngoại ở bệnh viện Phủ Doãn . Những ngày tình hình căng thẳng, ủy ban kháng chiến Liên khu I mời ông tới, trao cho ông mấy ngôi nhà ở giữa phố Hàng Buồm, bảo ông hãy gấp rút tổ chức thành một bệnh viện điều trị cho thương binh đề phòng chiến tranh nổ ra. Công việc chuẩn bị chưa đâu vào đâu thì những phát đại bác ở pháo đài Láng đã mở đầu cuộc kháng chiến tại Hà Nội.
ông nhìn cô gái đang chăm chú nhìn những dòng chữ mình vừa ghi, nước mắt vòng quanh:
— Cô với anh bị thương này là như thế nào?
— Thưa bác sĩ, cháu là cứu thương của đại đội.
— Cô đã băng bó cho anh ấy?
— Dạ.
— Khá lắm!
Đêm qua, Mai đã dùng hết số băng bông cô mang theo.
— Thưa bác sĩ, có gì nguy hiểm không ạ? Liệu anh ấy có phải cưa chân không? Cháu thấy anh ấy yếu quá!
Cô lo nhất hai vết thương ở chân Phong. Khi băng cô thấy chóng cả mặt vì máu ra nhiều.
— Không sao. Toàn ở phần mềm. Phải lấy dần những mảnh lựu đạn ra. Cần điều trị lâu đấy! Mất hơi nhiều máu. Phải chống nhiễm trùng...
ông lẩm bẩm bằng tiếng Pháp:
— Cái gì cũng thiếu!... Chiến tranh! Người ta đã thấy thế nào là chiến tranh.
Phong đã tỉnh từ lâu. Anh nằm yên nhắm mắt theo dõi cuộc trao đổi giữa Tuyết Mai và ông bác sĩ. Như vậy bệnh tình mình cũng chưa đến nỗi nào. Nhưng trước mắt, mình đã bị loại ra khỏi cuộc chiến đấu. Anh thấy nhức buốt khắp người. có nhiều vật lạ nằm trong cơ thể anh, đang đục khóet da thịt anh. Mặt anh bừng bừng. Mình đang lên cơn sốt. Anh nhớ tới cơn rét khủng khiếp đêm qua và những viên đạn xối bên người. Chỉ cần một viên đạn trúng mình thì bây giờ mình không còn nằm đây. Đêm qua, khi tỉnh lại lần đầu, anh đã nhớ tới mẹ anhCólẽ mọi người khi từ giã cõi đời đều nhớ tới người đã sinh thành ra mình. Anh nhớ lại những ngày thơ ấu đứng ngóng chờ mẹ đi chợ về, mẹ bế bồng mình lên, trao cho mình một miếng bỏng cốm hay một tấm bánh đa. Những hình ảnh mà anh không hề nghĩ tới bao giờ bỗng hiện lên rõ mồn một như chỉ vừa diễn ra ngày hôm qua. Anh thương mẹ tới ứa nước mắt và hối tiếc là chưa lần nào bày tỏ cho mẹ thấy hết những tình cảm của mình. Nếu anh từ giã cõi đời này thì đó là điều ân hận nhất.
Anh cảm thấy có một hơi thở ấm nóng đang phả vào mặt mình. Phong mở mắt, bắt gặp đôi mắt lung linh của Tuyết Mai, trong xanh như bầu trời buổi sớm.
— Anh đau lắm phải không?
Giọng nói của cô gái vừa như an ủi, vừa như dỗ dành, giống như giọng nói của mẹ anh xưa kia mỗi lần anh vấp ngã.
— Dễ chịu rồi.
— Anh không việc gì đâu! Chỉ ít ngày, các vết thương sẽ lành.
Cô ấy không biết mình đã nghe hết những điều ông bác sĩ vừa nói.
— Sáng nay quân địch đã rút chạy khỏi ngôi nhà 17 rồi.
Đây mới thực là điều an ủi anh.
— Ai nói với cô như vậy? - Phong hỏi:
— Em vừa ở nhà tới. Anh Tú đã sang nhà 17. Anh ấy nói: Cánh cửa vỡ toác cả. Trong nhà có nhiều vết máu... Anh Linh bảo em đến đây xem tình hình sức khỏe anh thế nào. Anh Chương vừa ở tiểu đoàn xuống cũng giục em đi ngay. Thế nào các anh ấy cũng đến thăm anh... Bây giờ em phải về.
— Cảm ơn Mai. Đêm qua không có cậu Lâm, cậu Tú và cô thì tôi chết rồi. Nói hộ với các anh ấy vài ngày tôi sẽ về.
Họ nói với nhau điều mà đôi bên đều biết là mình nói dối. Sự nói dối có khi là cần thiết và vô tội...
Phong phải chịu cực hình mỗi lần bác sĩ dùng mũi dao nhỏ như quả ớt rạch da thịt anh để gắp ra những mảnh lựu đạn. Vào trường hợp này, người ta không dùng đến thuốc tê, vì thuốc tê rất hiếm. Mỗi lần như vậy, người anh tái nhợt, mồ hôi vã ra. Nhưng sau đó, sự nhức nhối giảm đi, chỗ mổ vẫn còn đau nhưng vết thương đã trở nên nhẹ nhõm. Anh đếm từng vết chích và biết thời gian điều trị của mình còn kéo dài. Chừng một tuần, anh đã có thể lê ra trước cửa ngắm nhìn quang cảnh đường phố.
Ngôi nhà họ nằm điều trị là của hãng buôn Nam Long. Phong biết điều đó qua tấm biển còn treo trước cửa. Gian buồng họ nằm trước đây dùng làm nơi chứa gạoThương binh nằm sát nhau trên một bục gỗ dàiTuy đã được quét dọn cẩn thận nhưng vẫn còn ngửi thấy mùi ngũ cốc bốc lên từ dưới sạp gỗ, từ các bức tường ẩm lạnh.
Phong đã có đủ thì giờ để quan sát những người nằm cùng phòng với anh. Một bức tranh về cuộc chiến đấu ở Hà Nội. Nằm bên phải Phong là Thiềm, trước đây là "giô-kề" . Anh ta bị thương ở đầu. Thiềm vẫn mặc chiếc quần ống chẽn bó sát lấu đùi, và giữ cạnh gối chiếc mũ với hình quả dưa có lưỡi trai. Đặc biệt hơn, anh luôn luôn đặt bên người một thanh kiếm Nhật. Thanh kiếm sáng xanh, tay cầm có chạm hoa văn và buộc một chiếc ngù đỏ. Thỉnh thoảng Thiềm lại rút kiếm ra khỏi chiếc vỏ da, lau chùi. Anh nói đã lấy được thanh kiếm này đặt giấu dưới nệm bông ở đầu giường một căn nhà tại phố Hàng Gai. Thiềm thích kể lại những trận đánh mà anh đã tam dự. Theo anh nói, bọn lính Tây rất dại, giết chúng dễ như bỡn, dễ hơn rất nhiều so với những trường hợp anh phải đối phó với tụi "yêu tạ"trước kia. Anh kể chuyện mình luồn qua hàng rào dây thép gai, trèo ống máng, chui qua cống ngầm vào các vị trí địch như ra vào nhà mình.
Vài ngày một lần, Thiền lại nhờ Phong giữ giúp mình thanh kiếm rồi chụp chiếc mũ quả dưa cố che hết vết băng trên đầu, chuồn đi đâu. Anh nói phố Hàng Buồm vẫn còn những cửa hàng bán vằn thắn, bánh bao, xíu mại của Tàu mở, ăn rất ngon, cà phê sữa và thuốc lá Phi-lip đắt hơn năn lần hồi đầu. Có lần Thiềm đi về, giúi vào tay anh một chiếc bánh ngọt nhân mỡ và lòng đỏ trứng gà, to bằng quả quýt.
Bên trái Phong là Gia, một học sinh cũ của trường Đỗ Hữu Vị . Cậu này bị gáy chân, bó bột,phải nằm bất động. Cậuta kể tên rất nhiều cô gái mà cậu ta cho là hoa khôi của các phố. Phong hỏi lại cậu ta có biết hoa khôi của trường Đồng Khánh, của xóm Hạ Hồi thì cậu ta không biết. Điều đó làm Phong hơi buồn. Gia có một cái túi nhỏ đặt đầu chỗ nằm. Anh hay rút từ trong đó ra những tấm ảnh, nằm ngắm nghía, hoặc một cuốn sổ tay mà anh lật hết trang này qua trang khác, đọc rất lâu.
Một lần Phong hỏi:
— ảnh vợ hay người yêu?
—Không phải vợ cũng không phải người yêu.
—Vậy là ảnh ai?
— ảnh người đẹp...
Phong nhìn Gia tỏ vẻ không hiểu. Gia mỉm cười rồi nói:
— Cậu không biết là cô gái đẹp nào cũng hay viết nhật ký à?... Đã là người đẹp thì rất nhiều chàng trai chạy theo, tự nhiên có rất nhiều tâm sự. Tâm sự không tuôn được ra với ai thì phải đưa vào trang giấy. Mình mò vào nhà mấy người đẹp ở Hàng Bông, Hàng Gai, lục lọi một lúc, quả nhiên vớ được những của này, ảnh thì tất nhiên rồi, có cô gái đẹp nào lại không chụp nhiều ảnh, nhưng quan trọng là vớ được mấy quyển nhật ký. Đọc rồi mới biết mình lầm nhiều... Có cô mình cứ tưởng đường tình nhiều chuyện éo le, phong ba, nhưng xem nhật ký thì thấy toàn chuyện cãi nhau với bạn, giận em, lo bệnh tật... Có cô nhìn ngoài tưởng là ngây thơ, trong trắng chưa biết gì, nhưng khi đọc lại thấy rất nhiều chuyện, tình cảm rất rắc rối... Cậu có thích đọc chơi không?... Nhưng phải biết người thực rồi thì đọc mới thú...
Phong không ngờ giữa lúc tiếng súng nổ khắp nơi, lại có những người bỏ nhiều thì giờ để làm công việc này. Phong giở mấy tập nhật ký, xem có cuốn nào của Kiều Oanh hoặc của Dung, nhưng anh không thấy. Đúng như lời Gia nói, vì không quen biết những cô gái này, nên khi đọc những dòng tâm sự họ viết ra, thường là khó hiểu vì những chấm lửng... anh không cảm thấy thích thú lắm, tuy đó cũng là một việc làm để giết bớt thì giờ nhàn rỗi.
Một anh chàng nằm ở giáp tường phía trong, râu ria xồm xoàm, bị thương nặng ở bụng, hay rên rỉ nhưng cũng hay ngâm thơ. Phong rất thích cái giọng trầm, ấm áp của anh. Những câu thơ hình như ở một vở kịch thơ nào đó, được anh ngâm đi ngâm lại nhiều lần, làm cho Phong cũng thuộc:
Ngồi trơ sông Vị bạc đầu
Sông say thời loạn người câu được gì!
Ai về ta mách Bá Di
Phương nam còn ế rau vi ngút ngàn...
Việc lớn không thành lỗi thất phu
Nay lần mai lữa trắng xuân thu
Tin đi cách trở, tin về chậm
Khô héo buồng gan, ngọt bác lu...
Phong đoán tác giả những câu thơ này là Vũ Hoàng Chương, người đã làm rất nhiều thơ trong những năm gần đây. Phong cũng thuộc một số bài trong tập thơ Say của nhà thơ họ Vũ.
Trong phòng này cũng có nhiều người quê quán không ở Hà Nội. Họ sinh trưởng ở tỉnh nhỏ hay những vùng nông thôn mà Phong chưa lần nào đặt chân tới. Có anh là Vệ quốc quân. Có anh là công an. Có anh đã chiến đấu ở Buôn Mê Thuột ra. Có ông mở hiệu chụp ảnhCó chú bé sống bằng nghề đánh giày. Phong chưa có dịp chuyện trò với họ nhiều. nhưng anh biết số khá đông coi chuyện đánh Tây chẳng khó khăn gì. Họ cho là Tây sắp thua ở Hà Nội, vì chúng đã thua ở nhiều nơi, và chiến tranh sắp kết thúc. Họ nhìn những thanh niên Thủ đô hoạt bát, vui vẻ và có học như Phong bằng cặp mắt thán phục.
Phong tới bệnh viện được ít lâu thì Thiềm bỏ đi. Anh không quên chiếc mũ "giô kề" và thanh kiếm Nhật. Vết thương trên đầu anh chưa lành. Bác sĩ không bằng lòng cho anh ra viện. Người ta bảo anh bỏ trốn để trở về đơn vị.
Tuyết Mai, Nha và Linh thỉnh thoảng lại vội vã đến thăm anh. Đại đội của họ vẫn giữ vững phố Hàng Thiếc. Đơn vị lại vừa lập thêm một chiến công mới. Tổ súng trường do Linh chỉ huy bắn rơi một Xpít-phaikhi nó lao xuống bắn phá nơi họ ở.
Bữa cơm chiều có giò lụa và bánh chưng.
Những món ăn ngày tết làm cho nhiều người xúc động đến nghẹn ngào. Họ biết những thứ này có thể phải trả giá bằng máu trên đường từ hậu phương vào đây.
Từ chập tối, trời mưa nhẹ hạt. Những hạt mưa đã mang theo hơi ấm của mùa xuân.
Cô y tá mang tới một ngọn đèn dầu. Cô đi từ đầu đến cuối sạp, đưa cho mỗi thương binh một gói kẹo lạc nhỏ, Cô nói:
— Các đồng chí vừa ăn quà tết của hậu phương vừa nghe đọc báo. Báo Chiến Thắng hôm nay có tin rất hay.
Cô vặn to ngọn đèn dầu, mở tờ báo, bắt đầu đọc.
— "Cuộc chiến tranh kỳ dị ở Hà Nội", bài của phóng viên hãng thông tấn APP.
"Tôi đã thấy những người Pháp chết như thế nào dưới súng đạn Việt Nam ở hậu tuyến hà Nội hay ở những trận kỳ dị ngay giữa trung tâm thành phố, ở một góc đường hay dưới những làn đạn tiểu liên bắn theo dọc đại lộ. Trong cuộc chiến tranh kỳ dị này, người ta có thể chết một cách dễ dàng, bất kỳ nơi nào, lúc nào mà người ta không thể biết được.
"Chúng tôi, một nhóm nhà báo lần mò tới đường Hàng Lọng , một vùng đã bị càn quét. Chúng tôi gặp một đại úy, ông chỉ cho xem một lô cốt vừa làm xong. Có tin một người lính Pháp vừa bị bắn chết, ông ra lệnh cho một xe thiết giáp tới chở xác. Chiếc xe đó tiến tới gần lô cốt, không sự gì xảy ra. Mấy người lính xuống vực xác lên xe thì... một loạt tiểu liên không biết từ đâu nổ ra. Một người lính Pháp khác bị bắn nát sọ. Thành ra mang xe đi định lấy một xác về lại hóa hai. Ông đại úy nói với chúng tôi bằng một giọng tức tối: "Thế là từ hôm 19 tháng Chạp đến nay trong đơn vị tôi đã chết 42 người rồi"...
"Trong đơn vị đóng ở Nhà Thờ để chống giữ mặt Hàng Bông, một trung úy chỉ huy đã tính tới 35 người chết. Quân Pháp đóng nơi nào cũng phải chiếm tầng gác thứ ba, còn nhà dưới thì để trống và phải đốt phá những nhà bên cạnh. Phải đóng như vậy là để phòng ngừa quân Việt Nam tập kích. Đêm đêm, họ len lỏi vào các phố một cách nhanh nhẹn, không có một tiếng động không một bóng người. Từ trên tầng gác cao quân Pháp ném lựu đạn xuống. Họ vẫn tiến công một cách hăng hái và bền bỉ với những tiếng hò hét rùng rợn. Đến sáng ra thì họ lại biến như mây khói. Ngày họ tìm nơi chắc chắn nhất, chĩa súng vào các vị trí địchTiếng súng nổ cả ban ngày, không phải chỉ ở những nơi có giới tuyến rõ rệt mà ở cả những khu mà quân Pháp đã quét sạch. Tiếng súng nổ ở bất kỳ nơi nào, ngay cả ở trung tâm thành phố. Những nơi mà tôi mới đi qua thì một giờ sau, người ta đã nhặt được những xác lính Pháp chết gục ở đấy rồi...".
Cô cứu thương đã đọc xong bài báo. Cô hỏi:
— Các đồng chí nghe thấy thế nào ạ?
— Cũng khá đấy, - Một người nói.
Những người khác nói tiếp:
— Vẫn chưa hết sự thật. Mới nói Hàng Lọng, Nhà Thờ mà chưa nói đến Hàng Hòm, Hàng Da, Hàng Gai, Hàng Thiếc... và nhiều nơi khác nữa như Bắc Bộ phủ, Tòa Thị Chính, Nhà Bưu điện...
— Nhà Moóc-li-e nữa!
— Tây "xà lù bệt", ngu thật! Sao đã thấy rõ thế mà không cút mẹ đi cho rồi!
Phong thao thức không ngủ được. Giờ này mẹ và các em anh đang làm gì? Và ở đâu?... Chiến tranh đã lan ra vùng ven Hà Nội. Gia đình anh cũng như gia đình ông bà Toàn Thịnh không chắc còn ở chỗ cũ. Làm sao mẹ và các em có thể ăn Tết vui vẻ nếu vắng anh? Có lẽ lúc này mẹ anh đang khóc... Anh cũng nhớ tới Dung. Chắc chắn cô cũng đang lo lắng cho mình. Nhưng hình ảnh của Dung chỉ chốc lát đã bị hình ảnh Kiều Oanh xóa mờ. Anh không hiểu mình có còn yêu cô như xưa nữa không. Trước kia tình yêu của anh không hề được đáp lại, nhưng sao nó trong vắt như bầu trời lúc bình minh. Bây giờ rõ ràng nó đã được đáp lại, nhưng sao nó lại có màu sắc dông bão. Anh nghĩ tới giây phút gặp lại Kiều Oanh ở ngoài kia. anh vừa mong đợi, vừa lo lắng.
Chưa tới nửa đêm, đã có tiếng súng nổ. Rồi sau đó tiếng súng nổ lan ra khắp thành phố. Những tiếng súng trường lẻ tẻ mà anh biết chắc chắn là của ta bị chìm đi trong tiếng trung liên lồng lộn và tiếng súng cối nạt nộ của địch. Anh đã quen với những cuộc chiến đấu như thế này nên không nghĩ bất lợi sẽ thuộc về phía ta. Tiếng súng kéo dài khá lâu trong đêm. Bộ đội trong Liên khu chắc đã chủ trương chào Xuân bằng một đợt chiến đấu. Mùa xuân mới bắt đầu một cách hào hùng. Nhưng anh thấy gợn lên sự đau xót khi nghĩ là có những người đồng chí của mình sẽ ngã xuống.
Sáng sớm đã có tin nhiều đội cảm tử đêm 30 Tết bơi ra giữa hồ Hoàn Kiếm, cắm cờ đỏ sao vàng lên nóc Tháp Rùa. Bộ đội ta đã tập kích vào nhiều vị trí địch trong thành phố. Riêng bộ đội ở khu anh, đã tập kích vào nhà Mai Lĩnhở Hàng Điếu.
Thương binh vừa ăn cơm sáng xong thì một cán bộ phụ nữ dẫn đầu một đội Tuyên truyền xung phong tới thăm. Chị cán bộ mặc chiếc áo véc tím, nét mặt quen quen. Không hiểu mình đã gặp chị ấy ở đâu, Phong tự hỏi. Rồi anh nhớ ra đó là chị Thúy Hường, anh đã gặp ở Ngõ Huyện bữa trước. Chị nói mình thay mặt cho tiểu đoàn đến thăm hỏi và chúc Tết các chiến sĩ anh dũng đã đổ máu vì Thủ đô. Chị giới thiệu một cô trong đội Tuyên truyền đọc thư của Bác Hồ gửi các chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô. Các cô trong đội Tuyên truyền hôm nay đều mặc áo dài. Đã lâu lại mới nhìn thấy những tà áo dài nhiều màu sắc. Những chiếc áo tuyệt đẹp. Những bông hoa xuân rực rỡ xuất hiện giữa Hà Nội đổ nát vì bom đạn chiến tranh.
Trừ những người buộc phải nằm bất động, các thương binh đều ngồi dậy, lắng nghe từng lời của Bác. Bác gọi họ là Các chiến sĩ yêu quý. Bác gọi họ là Các em. Bác hỏi họ ăn Tết thế nào? Có vui không? Bác nói Bác và nhân viên Chính phủ vì nhớ đến họ nên không nỡ ăn Tết, và đồng bào hậu phương đã giảm chín mười phần trăm cỗ bàn, tiết kiệm để chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
..."Các em là đội cảm tử. Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau...".
Những lời nói của Bác giống như tiếng nói của dân tộc từ ngàn xưa vọng về, dân tộc Việt Nam nhỏ bé bắt đầu lập nước ở lưu vực sông Hồng, bao phen mất nước vì quân ngoại xâm, đã chiến đấu giành lại nước và giờ đây đang tiếp tục một cuộc chiến đấu sống còn để bảo vệ đất nước trước họa xâm lăng mới. "Các em quyết tử để cho Tổ quốc quyết sinh"! Những giọt máu của họ đổ ra, cuộc chiến đấu của họ giữa vòng vây siết chặt của quân thù qua lời nói của Bác đã có thêm những ý nghĩa vô cùng cao cả.
Chị Thúy Hường đến bắt tay từng người chúc họ chóng lành vết thương để trở lại chiến đấu. Phong rất có cảm tình với người cán bộ phụ nữ giữa lúc súng nổ vẫn giữ được vẻ mặt bình thản và lời ăn tiếng nói dịu dàng. Anh muốn nói với chị một đôi câu để chi biết những anh tự vệ ở phố Nhà Thờ rút về Ngõ Huyện tối hôm đó, đến bữa nay vẫn có mặt. Chị mỉm cười thân mật bắt tay anh. Anh biết là chị không nhớ ra mình. Anh chỉ là một trong hàng trăm anh tự vệ mà chị đã gặp những ngày hôm đó.
Các cô tuyên truyền viên đưa tặng mỗi chiến sĩ một gói quà Tết, bên trên đặt lá thiếp hồng có in bài thơ chúc Tết Xuân Đinh Hợi của Hồ Chủ tịch.
Những tà áo màu thướt tha tung bay như những cánh bướm rời khỏi căn phòng. Họ đi để mang mùa xuân tới những nơi khác. Phong cảm thấy như thắng lợi đang đến gần.
Chiều Mồng Một, riêng phòng anh, có hai người trốn khỏi bệnh viện để trở về đơn vị.
Sau ngày Tết Nguyên đán, cuộc chiến đấu ở Liên khu I trở nên gay gắt.
Có tin quân Pháp đã chiếm được Hải Dương, nối liền Hà Nội với Hải Phòng và đưa thêm nhiều viện binh mới đến Hà Nội.
Ngày 7 và ngày 9 tháng Hai, hai lần quân Pháp mở cuộc tiến công lớn định chiếm phố Hàng Thiếc. Địch nã súng cối, tưới xăng, đốt cháy từng dãy nhà. Quân địch từ trong thành tiến ra qua Cửa Đông, chia thành hai mũi, có xe tăng mở đường, đánh vào Hàng Bút và Hàng Nón, hình thành hai gọng kìm, siết chặt phố họ ở. Đạn moóc-chi-ê, ba-dô-ca của địch làm sập dần từng ngôi nhà, sụt lở những hào giao thông chạy ngang đường. Bộ đội ta bị cắt làm đôi. Nhà cửa đổ sập ầm ầm. Khói đạn, gạch ngói và bụi đất tung bay mù mịt. Cột kèo rơi đổ ngổn ngang lấp cả đường tiến lui của bộ đội ta.
Suốt bốn ngày đêm, ta và địch đối mặt nhau qua một số đường phố nhỏ hẹp. Ta ở bên số lẻ. Địch chiếm dãy số chẵn. Địch bắn ba-dô-ca, súng phun lửa, lựu đạn hơi ngạt sang nơi ta ở. Nhưng mỗi lần chúng định vượt qua đường chiếm thêm một ngôi nhà bên này, lại bị đạn súng trường và lựu đạn của bộ đội ta quật ngã.
Người ta dìu vào bệnh viện một thương binh đầu đội mũ phớt. Phong nhận ra đó là Lâm Khàn. Lâm Khàn bị thương vì lựu đạn hơi ngạt.
Trước khi Lâm rời trận địa, đại đội vẫn giữ vững dãy nhà số lẻ. Anh đếm được bốn mươi sáu ngôi nhà bên số chẵn bị đổ sập hoặc bốc cháy. Anh dự tính quân địch phải chết gần một trăm tên.
Phong hỏi thăm biết Nhã, Tú và Tuyết Mai vẫn an toàn. chính trị viên Linh tiếp tục chỉ huy cuộc chiến đấu.
Riêng tại phố Hàng Buồm, nơi Phong đang điều trị, tình hình vẫn tương đối yên tĩnh. Địch chưa đụng tới phố này vì một số khá đông Hoa kiều tiếc của cải hơn là sợ cái chết, vẫn không chịu rời những cửa hàng, những hiệu buôn, những kho gạo, đường, thực phẩm để ra hậu phương tròng ngày ngừng bắn. Cũng vì những Hoa kiều này mà quân Pháp chưa ném bom hoặc nã pháo vào đây.
Có thêm nhiều thương binh mới, căn phòng Phong ở trở nên chật chội. Đồng chí bác sĩ chuyển Phong lên một căn buồng nhỏ trên gácKhông khí ở đây dễ chịu hơn, thoáng đãng, không có mùi gạo ẩm mốc, mùi thuốc sát trùng và mùi những vết thương. Đặc biệt, cánh cửa sổ của căn phòng giúp Phog ném tầm mắt ra xa ngôi nhà của mình, quan sát một khu vực khá rộng, lố nhố những nóc nhà cao, thấp, nhìn ra phía chân trời xa xa, nghe rõ tiễng xe cơ giới địch chạy trên đường Trần Nhật Duật và những đám khói đạn bốc lên phía bờ sông.
Đêm đêm mùi hoa dạ hương, cái mùi hoa đặc biệt của Hà Nội, bay qua cửa sổ vào phòng anh khi thầm kín, khi đằm thắm gợi nhớ đến mối tình của anh với người con gái mà anh không biết giờ này ở đâu...
Trưa hôm đó, Phong nằm ấm áp trong chiếc mền chăn, nghĩ về một bài thơ mới. Anh muốn ghi lại những cảm xúc của mình về những người chiến sĩ vô danh đã ngã xuống tại Thủ đô từ ngày nổ súng. Anh nhớ tới Bỉnh, người chiến sĩ chắc chưa tới hai mươi tuổi đời, đã nhập vào đội ngũ với một chiếc lưỡi lê. Cho đến bây giờ vẫn không ai biết anh từ đâu tới, đã làm gì. Không ai biết cha, mẹ, các người thân của anh. Không ai biết anh căm thù quân xâm lược đến mức nào. Nhưng anh không vắng mặt lần nào khi đi chiến đấu. Anh đã ngã xuống khi mang lá cờ Tổ quốc lên cắm vào vị trí địch mà ta vừa chiếm được. Con Chim Vàng có đôi cánh màu lửa đó đã bay về Trời trong một đêm đông khi trận đánh vừa kết thúc. Một cô trinh nữa đã vuốt mái tóc xanh và nhỏ lệ xuống bộ mặt lạnh giá của người chiến sĩ vô danh đêm ấy ngã xuống... Tất cả những điều đó không có gì là bịa đặt. Đó là những hình ảnh mà anh đã chứng kiến bằng mắt, những hình ảnh đã đọng lại trong anh qua cuộc chiến đấu này. Những tứ thơ tràn ngập trong đầu nhưng anh còn thấy bất lực để biến nó thành lời, tành những âm thanh hùng tráng. Lần đầu anh nghĩ đến những con người nhưthế, nghĩ đến cuộc chiến đấu, nghĩ đến đất nước trong một bài thơ...
Phong giật mình vì một tiếng nổ rất lớn. Rồi anh nghe tiếng súng rất gầnCăn buồng anh nằm rung lên. Anh gượng đau ngồi dậy và cặp mắt tự nhiên hướng về phía cửa sổ. Một đám khói vàng đông đặc vừa đùn lên phía Chợ Gạo. Anh bắt đầu nghe rõ tiếng động cơ máy bay. Chiếc cầu thang bằng gỗ rung lên. Một tiếng rú ghê người tiếptheo. Loạt nổ thứ hai đập mạnh vào màng tai anh. Một hình ảnh hiện ra trước mắt anh vừa như thực vừa như hư. Cả ngôi nhà hai tầng chỉ cách cửa sổ vài chục mét đang rùng ình rồi đổ sụp xuống như nó chỉ được dựng bằng những viên gạch xếp chồng lên nhau không có chất gì kết dính.
Nguy hiểm đang đến với anh. Loạt nổ thứ ba chắc là ngôi nhà anh ở. Cầu thang gỗ rung lên như một tàu lá trước làn sóng chấn động. Nếu không rời căn gác này, chắc chắn anh sẽ chết. Không biết bằng ách nào mà anh thấy mình đã nằm ở nền nhà tầng dưới. Không còn lấy một thương binh trên mặt sạp. Họ đã xuống cả dưới gầm. Anh cảm thấy đó là chỗ an toàn. Nhưng không còn khe hở nào để anh chui vào vì mọi khoang đều có người nằm ken chật.
Biết ẩn náu vào đâu bây giờ? Nó sắp trút xuống đầu mình, loạt nổ thứ ba!
Anh đẩy mạnh một cánh cửa buồng khác bên cạnh cầu thang. Người ta đã chốt hai cánh cửa này bằng một chiếc móc thép. Anh hất vội chiếc móc ra, và lao vào buồng. Anh nhìn xem có chỗ nào để chui vào, chợt nhận thấy có những bộ mặt của những người như vừa ở dưới mồ chui lên. Họ đang giận dữ vì cái thứ ánh sáng của trần thế bỗng dưng ập vào căn buồng. Rồi họ lại giận dữ nhìn anh. Những tiếng kêu ú ớ như không phải tiếng người vang lên. Những thân hình kỳ dị trước mặt anh bỗng khua chân múa tay. Anh giật bắn người tưởng họ sắp nhảy tới, ôm lấy mình và ngoạm vào cổ... Phong chợt nhớ ra có người nói, buồng cạnh cầu thang là nơi ở của những người bị cấm khẩu hoặc đã lên cơn vì vi trùng uốn ván. Anh vội vã quay ra, rời nơi khủng khiếp này. Anh không quên đóng cửa buồng và đặt chiếc móc thép vào cái đinh khuy như cũ. Không phải anh ngại các bác sĩ, y tá phê bình mình vì sao lại mở chiếc cửa này, mà anh sợ những con người đã trở thành điên dại ấy, xông ra đuổi theo mình.
Cái sợ nọ đã làm giảm cái sợ kia. Anh bớt hoảng hốt và nhận thấy đoạn cầu thang giáp với nền nhà, xây bằng gạch. Để tiết kiệm gạch, người ta xây theo vòm cuốn. Đây là một chõo trú còn chắc chắn hơn nhiều so với gầm sàn gỗ khi ngôi nhà bị bom phá sập. Anh ngồi vào trong đó. Khi đã yên vị trong chỗ trú ẩn rồi, anh mới cảm thấy đau ở các vết thương. Hình như những hoạt động quá mạnh của anh vừa rồi đã làm cho tất cả những vết thương chưa lành tấy lên. Đau nhất là ở hai bắp chân.
Bụi và khói bom lùa vào căn phòng như sương dày, vàng cả mắt. Hơi thở anh ngột ngạt.
Sự yên tĩnh trở lại. Khói bom tan dần. Có thể là trận oanh tạc đã chấm dứt. Một thương binh từ gầm sàn bò ra, đến ngồi bên anh. Người thương binh nhìn Phong với cặp mắt cảm phục. Có lẽ cậu ta nghĩ rằng mình phải là người bình tĩnh lám thì trong cơn nguy biến bất thần ập đến mới chọn được chỗ này, một chỗ an toàn mà không làm mất tư thế.
Họ nghe những tiếng súng nhỏi nổ ran. Tiếng nổ rất gầnCuộc chiến đấu diễn ra chắc không cách chỗ này ngoài trăm métTừ phía Chợ Gạo vọng lại những tiếng kêu la. rồi họ nghe thấy một loạt tiếng kêu ghê rợn. Những tiếng "a. a. a...", a... a... a.." kéo rất dài từng hồi. Phải chăng đó là những tiếng hô xung phong của cả ta và địch hòa với những tiếng thét, tiếng kêu, tiếng khóc kể cả tiếng rên rỉ của một trận chém giết kinh người đang diễn ra.
Vẫn những tiếng "a. a. a...", "a. a. a..." kéo dài.
Hai anh thương binh nhìn nhau, mắt của họ đều bạc đi.
Ban nãy là sự hoảng hốt. Bây giờ là sự sợ hãi. Sự hoảng hốt qua nhanh. Nhưng sự sợ hãi kéo dài. Nó cho phép con người suy nghĩ, tưởng tượng. Sự tưởng tượng lúc này nhân sự sợ hãi lên. Phong thấy mình đang run một cách thật sự. Anh cố tự đấu tranh để kiềm chế sự sợ hãi. Anh tự hỏi: Chả lẽ sau nhiều tuần tham gia chiến đấu, chỉ mới nằm đây ít lâu, tính nhút nhát ở con người mình đã trở lại như xưa?...
Một, hai giờ sau đó, thương binh ùn kéo về. Họ đều ở những phố thuộc khu Đồng Xuân và khu Đông Kinh nghĩa thục . Nhiều phố nằm giáp với Hàng Buồm. Quân Pháp mở đầu đợt chiến đấu mới bằng những trận ném bom vào những nơi chúng nghi có bộ đội và cơ quan chỉ huy của trung đoàn Thủ đô. Chúng không từ cả những nơi vẫn còn ngoại kiều. Hàng trăm Hoa kiều bị chết và bị thương trong đợt oanh tạc này.
Phong đã đoán ra những tiếng kêu ghê rợn mà anh đã nghe thấy là tiếng kêu la, than khóc, gào thét của những người Hoa kiều ở những nơi bị trúng bom cũng khá gần chỗ họ ở.
Những ngày hôm sau, các trận oanh tạc bằng máy bay và đại bác nhằm vào các khu phố hôm trước lại tiếp tục. Thương binh không chui xuống gầm sạp nữa. Họ đã biết một lần ván gỗ này không thể bảo vệ cho họ được gì nhiều nếu ngôi nhà hai tầng, cũng khá chắc chắn này, bị đổ sập vì những trái bom.