Phố Thái Phiên, một đường phố ngắn ít quen thuộc ở Hà Nội, nối liền phố Huế và phố Lê Lợi, tối nay vắng vẻ. Ánh sáng của những ngọn đèn đường yếu ớt. Những ngôi nhà, cửa đóng im ỉm, như đứng thu mình dưới rặng cây bàng về mùa đông lá vẫn sum sê. Không phải đợi gió mùa khô hanh đã xua đi những hoạt động thường ngày trên đường phố. Mấy ngày qua, tự vệ đến từng nhà hối thúc đồng bào tản cư. Lần này, người ta cảm thấy không còn là chuyện để phòng xa. Nhiều gia đình đã kéo nhau đi vãn.
Chiến tranh có vẻ gần kề. Nhiều chiến lũy xuất hiện trong thành phố. Những chiến lũy thật sự, khác xa với những bàn ghế, cánh cửa và trăm thứ đồ dùng tạp nham trong nhà được xếp đống trên đường như trước đây mỗi khi quân Pháp khiêu khích. Một hào sâu gắn liền với một ụ đất cao ken hai bên những cột gỗ lớn, tua tủa những thanh sắt đường tàu điện, xe lửa, những tấm tà vẹt, bít kín hẳn từng dãy phố. Bọn lính mũ đỏ không còn ngông nghênh kéo đi từng tốp nhỏ trên phố Tràng Tiền khiêu khích tự vệ, công an. Chúng biết làm như vậy vào lúc này có thể mất mạng. Chúng đã chuyển sang những cuộc hành binh dùng cả xe tăng, xe bọc thép tiến vào khủng bố từng khu phố.
Mới xa Hà Nội một tuần, tối nay trở lại thành phố. Phong thấy không khí đã khác nhiều.
Ngôi hàng cà phê duy nhất của phố Thái Phiên vẫn có ánh đèn nhiều xe đạp dựng trước cửa. Gia đình bác Mô-ka vẫn chưa tản cư. Phong rẽ vào.
Khách không đông lắm. Phong chọn được chỗ ngồi ưa thích ở góc nhà.
Lần đầu Phong đến cửa hàng cà phê này do sự tình cờ. Anh đã nhận thấy ngay chủ nhân không phải là người chuyên nghiệp. Ông cũng giống như nhiều người ở thành phố trở thành thất nghiệp sau ngày Nhật đảo chính Pháp. Họ xoay sang mở cửa hàng giải khát, một nghề dễ làm và không cần nhiều vốn liếng. Ngoài cửa không có biển tên hiệu. Trong nhà, trên tường chỉ có một tấm bảng đề mấy chữ "Cà phê Mô-ka bơ", vẽ hình một tách cà phê bốc khói không lấy gì làm hấp dẫn. Bàn ghế cho khách mỗi thứ một kiểu, chắc là được thu thập từ nhiều nơi về. Chướng nhất là bộ xa lông khảm to kềnh đặt giữa nhà. Thay vào dàn nhạc và những ca sĩ như ở các tiệm giải khát sang trọng quanh Hồ Gươm, là một chiếc máy thu thanh kiểu cổ được mở hầu như tất cả các giờ phát thanh. Ông chủ người hom hem có mái tóc đen dày và một bộ ria lởm chởm chắc không bao giờ được chăm sóc. Ngồi ở quầy thu tiền, một bà đứng tuổi, tóc vẫn đuôi gà, dáng người thanh mảnh, ăn mặc óng chuốt. Người đưa hàng cho khách là mấy cô gái, nét mặt giống mẹ, ít nói, ít cười.
Phong sẽ không trở lại cửa hàng này nếu tối hôm đó anh không bất chợt được nghe tại đây một bản tin của đài Tiếng nói Huê Kỳ, phát thanh viên rõ ràng là ngườiViệt nhưng có giọng cổ họng và cách nói nhấn âm như người Anh, loan tin: "ông Hồ Chí Minh, Tổng thống nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam tại Hà Nội". Hình như cái bác người Việt ở nơi xa xôi ấy cũng đang rất vui sướng vì sự kiện vừa xảy ra ở Tổ quốc mình nên đoạn tin ngắn này vang hẳn lên như một hồi kèn thắng trận.
Phong hay tới đây vì bị hấp dẫn bởi cái máy thu thanh chủ hàng thường chiêu đãi khách cả những buổi phát tin tiếng Việt của nước ngoài. Khách hàng lui tới tiệm cà phê này số không ít cũng là những người sính tin. Ông chủ mở máy vào những giờ phát tin không chỉ để chiều khách mà vì chính ông cũng rất thích thời sự. Trong những người Phong quen biết có lẽ ông là người thông thạo nhất những tin tức mới vì ông chăm nghe dài. Hơn nữa, cà phê của ông cũng không phải xoàng. Nước cà phê đen sánh như mật, mùi thơm quyến rũ. Uống xong tách cà phê, hương vị còn lưu lại. Có người nói ông Mô-ka nghiện thuốc phiện nên đã trộn thêm nó vào cà phê. Cũng có người nói ông khéo chọn giống cà phê tốt, khéo rang xay, chứ nếu trộn thêm thuốc phiện vào thì ông không thể bán với giá bình dân như vậy.
Phong thờ ơ nhìn tấm bảng quảng cáo: "Bổ thận đại vương! Chè Long nhãn trứng" mới treo trên tường. Anh cũng chưa phải là người nghiện cà phê. Tách cà phê ngon của cửa hàng này đối với anh không mang lại thích thú hơn một cốc kem hay một bát phở. Anh cũng như nhiều người dân khác, những năm tháng gần đây bắt đầu có một thói quen mới là chính nghe thời sự, đặc biệt những gì có liên quan đến tình hình đất nước. Anh không thể không rẽ vào cửa hàng của ông Mô-ka, vì không biết tên ông nên khách hàng thường gọi ông như vậy, mỗi lần anh ở nơi tản cư về.
Một trong số những người khách ngồi ở chiếc bàn phía trong, vừa lên tiếng hỏi ông chủ:
— Bác Mô-ka có đồng ý với câu"Thăng Long phi chiến địa" không?
ông chủ trả lời khá to như muốn để mọi người cùng nghe:
— Tôi không tin. Câu sấm đó mất thiêng từ khi Mỹ bỏ bom xuống ga Hàng Cỏ rồi. Nhưng tôi cho rằng Hà Nội chưa có chiến tranh.
Nhiều người quay về phía ông Mô-ka. Đây là một vấn đề thời sự nóng hổi mà ai cũng quan tâm. Ông Mô-ka đặt chai nước cốt cà phê màu nâu đen xuống bàn, nói tiếp:
— Đác-giăng-li-ơ vềPháp rồi, một mình Va-luy ở bên này không dám quyết định chiến tranh.
— Nếu nó được quyết định từ bên kia thì sao? - Người khách lại hỏi.
— Đã tính cả chuyện ấy. Các ông có đọc kỹ bài Nhật ký Pa-ri đăng trên báo Cứu Quốc không...? Sau mấy năm Hít-le chiếm đóng, nước Pháp kiệt quệ lắm rồi. ăn còn chưa đủ lấy gì mà đánh nhau! Hơn nữa, phải xem chính phủ hiện nay là chính phủ nào? Blom vừa lên, Blom là bạn thân của Cụ Hồ, Blom lại là thủ lĩnh đảng xã hội. Không thể nào Blom để xảy ra chiến tranh với ông bạn già khi mình làm thủ tướng.
Những điều ông Mô-ka nói khác với những gì Phong thường nghe mấy ngày gần đây. Nhiều người nói chiến tranh sắp nổ ra. Phong liếc mắt nhìn mấy anh tự vệ đầu đội ca lô, mặc áo blu dông Mỹ sang trọng. Kể cả họ cũng không lên tiếng phản đối. Ông Mô-ka không quên họ. Ông quay về phía họ nói tiếp:
— Tôi rất tán thành việc làm của các vị. Phải đào hào, đắp lũy. Phải tích cực chuẩn bị vũ trang. "Nếu anh muốn hòa bình thì hãy chuẩn bị chiến tranh"... Đúng như vậy phải không các vị?
Những anh tự vệ chỉ gật gù. Họ dường như không biết nói sao trước những lý lẽ xác đáng của ông chủ hiệu cà phê.
Bà chủ nhà vẫn đứng chờ bên quầy pha chế không dám ngắt cuộc trao đổi đang hòa hứng của chồng, lúc này mới nhắc nhẹ nhàng:
— ông khách mới đến ngồi bàn ngoài dùng cà Phê.
ông Mô-ka quay ra nhìn Phong, giơ hai tay ra hiệu nhận lỗi rồi lại cầm lấy chai nước cốt cà phê đặt trên bàn.
— Phen này thì Già Hồ bạc hết râu!
Phong nhận thấy giọng nói bỡn cợt này có vẻ quan quen. Anh chú ý nhìn đám người đang nói chuyện với ông Mô-ka. Một người mập mạp, đội chiếc mũ nồi che kín vừng trán. Đúng là Hưởng. Anh ta đang cười mũi như mọi lần.
ông Mô-ka đặt chiếc xoong con hâm cà phê lên bếp cồn, quay lại nhìn hưởngnói với vẻ trang nghiêm:
— Chính trị Cụ Hồ thì khỏi phải bàn! Ngày hai chục vạn quân Tàu sang, ai cũng tưởng chúng sẽ ở lại ta độ trăm năm nữa. Cụ Hồ không tốn một viên đạn, chỉ hạ tay ký một chữ là tất cả phải cuốn xéo không còn một tên!
Hưởng chỉ cười hí hí không nói gì thêm. Phong đã quen cái kiểu cười này, không ai biết khi cười như vậy thì anh ta nghĩ gì.
Một người ngồi cùng bàn với Hưởng, bỗng nói to:
— Xin cụ một "bổ thận đại vương"!
Cả bọn cười ầm.
ông Mô-ka không cười. Và từ đó chỉ chăm chú vào việc pha chế.
Phong nhấm nháp một ngụm cà phê cảm thấy ngon hơn mọi lần. Không biết vì trời lạnh hay anh bắt đầu nghiện.
Phong ngước mắt nhìn lên, bát gặp nụ cười của người ngồi trước mặt cùng chung một bàn. Mãi đến giờ. Phong mới chú ý đến anh ta. Với dáng người mảnh mai và đôi mắt lắp lánh sau làn kính cận, anh ta có vẻ là một sinh viên. Một sinh viên đã hòa vào thời thế. Điều đó chứng tỏ qua bộ quần áo ka ki Mỹ màu xám may theo kiểu quân phục mà Phong đã nhận ra, mặc dù anh ta đã trùm lên bên ngoài một chiếc áo len đen dày dặn. Thời trang hiện nay là mặc quần áo theo kiểu nhà binh.
Nụ cười của anh ta khá dễ thương. Phong mỉm cười đáp lại. Chắc anh ta cũng vừa theo dõi câu chuyện của những người ở bàn phía trong như Phong.
— Đánh nhau thì đánh luôn đi cho rồi! - Anh nói giọng miền Trung. Cái giọng nói hiền lành và ngây thơ như giọng trẻ con.
Nhìn cái xắc nhỏ từ lúc vào anh vẫn đeo liền bên người, Phong hỏi:
— Anh từ Trung Bộ ra?
— Mình ở Huế ra - Anh trả lời với giọng thân mật- Đánh nhau luôn thì mình khỏi phải vô Huế lại.
— Chắc anh học ở Khải Định?
— Trước kia có học qua Khải Định.
Khải Định là trường trung học ở Huế. Nếu vậy chắc chắnanh phải là sinh viên.
Anh đeo kính nói tiếp:
— Không học có lẽ hay hơn. Càng học càng thấy con người và việc đời khó hiểu. Mình có ông anh rê chỉ học hết cái "pri-me" , dốt thấy mồ, nhưng bố mình lại rất thương. Con mình thì ông cụ ghét không muốn nhìn.
Vì sao mới gặp mình lần đầu mà anh ta đã thổ lộ tâm sự một cách dễ dàng? Anh ta có vẻ khinh bạc, chán đời, nhưng lại thích chiến tranh? Mấy câu nói của anh đã gợi cho Phong sự tò mò. Phong cũng chuyển sang giọng nói thân mật:
— Ra Hà Nội lâu chưa?
— Lần này thì mới ra, nhưng trước đây mình đã học ở Hà Nội... - Anh ngập ngừng rồi nói tiếp - Chán học, mình bỏ trở về Huế... Cậu có thích Angdé gida không?
— Không thích lắm, vì đọc Gi-dơ, mình không hiểu.
— Như vậy cậu là người sung sướng... Gi-dơ ghê gớm lắm!
Phong muốn biết thêm về con người này:
— Cậu muốn biết thêm về con người này:
— Cậu ra Hà Nội có công tác ư?
— Có mà không... Một thầy học cũ của mình, hiện nay là một nhân vật của Chính phủ, đo công cán qua Huế, gặp mình. Cách đây một tháng, ông gửi thư cho mình, bảo ra làm việc với ông ở Bộ Ngoại giao. Mình đang thích xa Huế, đi luôn. Nhưng khi đến Hà Nội, gặp thầy ở cơ quan thì thấy ông quan trọng quá... mình bắt đầu ngại. Làm việc được ít hôm, mình nhận thấy không nên tiếp tục nữa, mặc dù đó là công việc của một anh ký quèn chẳng khó khăn gì. Điều thúc đẩy mình nên thôi việc là ông thầy cũ vẫn coi mình như anh học trò gần mười năm trước đây. Mình phải đi để giữ trọn vẹn tình cảm với thầy... Cậu nhìn cái nhân vật ngồi phía sau lưng mình, gần quầy tính tiền... Đừng để hắn biết mình chú ý đến hắn...
Người mà anh đeo kính vừa nói là một chỉ huy tự vệ, vóc dáng to lớn, mặc bộ quân phục rất sang, đeo một thanh kiếm dài, ngồi chiếm cả nửa cái bàn, đang xì xụp ăn chè long nhãn. Phong nghĩ bọn Tây mũ đỏ gặp anh tự vệ này chắc cũng phải kiêng nể.
— Nhìn rõ chưa? - Anh đeo kính hỏi.
Phong gật đầu.
Anh đeo kính thì thầm:
— Mình quen cậu ta. Cách mạng lên, nó chỉ thay đổi có cái sao vuông. Trước đây làm "gác-điêng đờ pe"cho Pháp nó cũng oai vệ như thế!
Phong bắt đầu thích con người tự do và cởi mở này. Một lát sau, Phong biết anh đeo kính tên là Tôn Thất Lượng, có bố làm quan trong triều đình Huế. Họ đã tìm thấy giữa họ có một điểm giống nhau: rất ghét những người xu thời. Nhưng về tất cả mọi mặt, Phong cảm thấy Lượng hơn mình một cái đầu. Lượng đã chán ngấy cái nhà anh ở trọ gần hai tuần nay tại Hà Nội. Phong mời Lượng về nhà mình.
Thành phố không đến nỗi quá vắng vẻ như lúc ban tối. Nhiều nhà đóng cửa nhưng vẫn còn người ở lại. Những anh tự vệ tất bật chạy ngược, chạy xuôi. Họ đeo ở thắt lưng những quả lựu đạn đủ kiểu. Họ xách choòng, cuốc chim, đi từng tốp vào những ngôi nhà. Họ hí hoáy khoan lỗ trên thân những cây bàng, cây sấu dọc hè phố. Địch ở rải rác nhiều nơi trong thành phố. Ta không thể bít ngay tất cả mọi con đường. Ta chuẩn bị sẵn sàng để có thể hạ ngay những cây này vào lúc cần thiết. Những anh tự vệ phần lớn vào trạc tuổi Phong. Chính họ tạo nên không khí khẩn trương của thành phố. Thái độ của họ hăng hái. Hơn thế, nhiều người còn như say sưa và vui vẻ với công việc chuẩn bị đánh nhau này.
Nhân nhìn thấy Hưởng trong hàng cà phê tối qua, một loạt những kỷ niệm đã lần lượt hiện lên trong đầu óc Phong. Sáng nay, anh quyết định việc làm đầu tiên của mình là đến thăm ngôi nhà ở xóm Hạ Hồi, một xóm nhỏ toàn nhà gạch nằm giữa Hà Nội, gần hồ Thiền Quang.
Bố Phong làm nghề tư ký cho những hãng buôn tư nhân. Thời buổi kinh tế khủng hoảng, ông chạy từ tỉnh này qua tỉnh khác kiếm việc làm, lôi theo cả gia đình trôi nổi như một con thuyền. Mấy năm trước, gia đình Phong từ Hải Dương đã chuyển về Hà Nội vì bố anh xin được chân kế toán ở một hãng rượu của người Pháp. Phong vừa tốt nghiệp trung học thì ông mất vì bệnh sốt rét định kỳ. Gia đình anh lâm vào cảnh thiếu thốn. Một người bạn cũ của bố anh đã dẫn anh đến một gia đình ở xóm nhỏ này xin cho anh được dạy học thêm vào những buổi tối. Người giới thiệu phải khai tăng số tuổi anh. Phong chỉ hơn cô học trò lớn nhất chừng hai, ba tuổi. Ông bà chủ hài lòng vì anh nhận kèm cả ba đứa con với giá rẻ, nhưng vẫn ngại cậu giáo quá trẻ, không biết các con có chịu học hay không. Rầy rà nhất là hai cậu bé cứ nói cậu giáo chỉ đáng tuổi anh chủng. Anh kiếm được việc làm là nhờ có cô chị. Sau vài buổi học, cô chị khen cậu giáo giảng dễ hiểu. Khi thấy chị chịu học rồi, những đứa nhỏ mới hết chê bai.
Những ngày ở gia đình này là những nhày hạnh phúc nhất và cũng đau khổ nhất đối với anh. Anh biết hạnh phúc sẽ nhanh chóng bay đi, còn đau khổ sẽ lắng đọng lại trong anh đến hết cuộc đời.
Cho đến bây giờ Phong cũng không thể tả lại Kiều Oanh, cô thiếu nữ đó có bộ mặt xinh đẹp như thế nào. Lúc nào anh cũng thấy bối rối trước những vẻ đẹp khác nhau của cô. Khi cô chăm chú nghe giảng một định lý. Khi cô lo sợ vì chưa tìm được cách giải một bài hình. Khi cô rụt rè hỏi cậu giáo có đồng ý đưa ba chị em đi xem một buổi chiếu bóng ban ngày để giải trí sau cả tuần học tập. Ngay cả nụ cười của cô cũng hay thay đổi. Cảm giác bao trùm của anh đối với cô gái là sự tinh khiết, cao quý khiến cho mình phải hết sức gượng nhẹ. Nếu cô là hoa thì cô phải là một bông huệ, không rực rỡ, đơn sơ, mảnh mai, bé nhỏ, nhưng không thua kém bất cứ bông hoa đẹp nào.
Kèm cô gái học, anh đã làm một công việc vượt quá sức mình. Anh phải nghiên cứu rất kỹ phần dành cho giáo viên dài dòng trong các sách giáo khoa. Nhưng khó khăn hơn cả là phải chế ngự những tình cảm của mình, giữ làm sao khỏi bối rối ghi gần cô gái. Mỗi lần cô gái dành cho cậu giáo những cử chỉ, những tình cảm thân mật, tin cậy, là anh lại nghĩ ngay con chim vàng anh này sắp tuột khỏi tay mình.
Cô gái thi đậu. Cả nhà vui mừng tổ chức một bữa tiệc gia đình để cảm ơn cậu giáo. Tiệc mừng này đối với anh chính là tiệc chia ly vì đã tới lúc anh phải xa Kiều Oanh.
Khi không còn dịp lui tới ngôi nhà, những tình cảm của anh lại càng thêm da diết. Đối với anh, thế gian này chỉ còn có một cô gái. Mỗi lần đi ngang xóm Hạ Hồi, trống ngực anh lại đổ dồn. Mỗi ngôi nhà, mỗi bức tường, mỗi viên đá lát đường, ở đây đều có uy lực với anh. Vì nó gắn bó với người anh yêu. Anh dè dặt đặt từng cử chỉ khi gặp một người, dù không quen biết, ở xóm này đi ra. Anh lo sợ họ có thể nói những lời không hay về mình đến tai cô gái. Anh đã mất không biết bao thời giờ qua lại trước cửa trường Đồng Khánh để được nhìn cô lúc tới trường hay vào giờ tan học. Chỉ cần thoáng thấy cô nhanh nhẹn, hai cánh áo màu tung bay, đi giữa các bạn, là anh mãn nguyện. Nếu được cô nhìn thấy, mỉm cười chào, hoặc nói đôi câu thì đó là một hạnh phúc kéo dài trong nhiều ngày. Chỉ vài năm sau, cô đã quá lớn, không thể chào anh bằng "cậu giáo" như trước ở chỗ đông người. Lần đầu được cô gọi bằng "anh", Phong sướng muốn phát điên. Anh đã vượt được qua một lớp rào ngăn cách. Nhưng không phải chỉ có một lớp rào.
Phong mất nhiều công phu để nối lại mối quan hệ với hai chú em Kiều Oanh, chơi với các chú như một người bạn hơn tuổi. Cả hai cậu em đã kéo Phong trở lại gia đình. Kiều Oanh cũng chủ động trêu đùa anh là "cậu giáo" trước đây khai man tuổi. Cô thân mật coi Phong như một người anh. Rõ ràng cô gái cũng có những tình cảm đối với mình. Anh cho rằng những tình cảm đó bị chế ngự một thời gian dài vì tình thầy trò. Nhưng anh cũng sớm nhận ra cái ranh giới khắc nghiệt ngăn cách giữa anh với cô là hoàn cảnh kinh tế giữa hai gia đình. Gia đình Kiều Oanh không giàu. Nhưng gia đình anh thì lại quá nghèo. Mẹ anh và anh phải chạy ăn hàng tháng. Đó chính là bức tường mà anh không thể vượt qua. Một vài triệu chứng cho anh biết là cái ngày anh lo sợ nhất đang đến gần. Một sáng chủ nhật đến đầu xóm Hạ Hồi anh nhìn thấy một đoàn xe nhà dài dằng dặc, chở những ông bà ăn vận sang trọng mang theo những chiếc "quả" sơn son thếp vàng, đang chạy vào xóm. Người anh lạnh hẳn đi. Anh cố trấn tĩnh bước theo đoàn xe. Khi nhận thấy rõ ràng chiếc xe đầu rẽ vào nhà Kiều Oanh, anh vội quay trở ra như người chạy trốn.
Một thời gian dài. Phong có thái độ dửng dưng với tất cả những cô gái. Tình yêu ở anh nếu không phải đã chết thì cũng bị một đòn đau bất tỉnh, cần phải có thời gian để hồi sinh. Xóm Hạ Hồi không còn là mảnh đất thiêng liêng đối với anh. Phong trở lại đó một phần vì Tước, em Kiều Oanh, đã coi anh là một người bạn thân. Một phần khác vì Uyên, chị gái lớn của Kiều Oanh, tỏ ra thông cảm với tâm trạng của anh. Trong gia đình này, hình như chỉ có chị hiểu điều đó. Đôi lần chị đã nói với Phong những lời xa xôi, như để an ủi, làm cho Phong đặc biệt cảm động. Nếu như qua chị, Kiều Oanh hiểu được một phần tình cảm của anh, một việc trước đây Phong không bao giờ dám làm, thì đối với anh là một điều an ủi thực sự. Tình yêu không nhất thiết đòi được đáp lại, nhưng nó đòi hỏi được biết đến.
Sau ngày Cách mạng thành công, Phong thấy Hưởng xuất hiện ở ngôi nhà này. Mới đầu, gia đình giới thiệu với anh đó là một người họ xa. Nhưng sau một vài lần lui tới, anh biết Hưởng có quan hệ với chị Uyên. Chị Uyên tâm sự với Phong, chị yêu tha thiết một người lớn hơn mình mười tuổi, chị có thể hy sinh cả cuộc đời vì người đó. Qua cặp mắt của chị khi nhìn Hưởng. Phong biết người mà chị nói chính là Hưởng.
Hưởng đối xử với chị Uyên với vẻ bề trên. Hơn thế, anh như có một uy lực đối với cả gia đình này. Hưởng độc chiếm một phòng lớn trong ngôi nhà, ở đó anh đặt bàn giấy, máy điện thoại như một văn phòng. Hình như Hưởng đang chỉ đạo công việc làm ăn mới của gia đình. Họ vừa mua về một máy xay xát lớn, và đang thuê thợ đặt máy ở nhà dưới.
Nếu Hưởng còn ở đây, chị Uyên chưa rời Hà Nội. Bỗng nhiên. Phong muốn gặp chị để hỏi thăm tin tức Kiều Oanh. Nay mai nếu chiến tranh nổ ra, chưa biết chuyện gì sẽ đến với mỗi người. Có nên tìm cách gặp lại cô ấy?... Biết đâu lần gặp này lại chẳng phải là lần gặp cuối cùng...?
Cánh cửa sắt được khóa cẩn thận bằng một chiếc xích lớn.
Phong bấm chuông. Trong lúc đứng chờ, anh đưa mắt ngắm ngôi nhà. Nó cũng bình thường như mọi ngôi nhà trong xóm nhỏ này. Không hiểu sao trước đây nó đã làm mình phải nể sợ đến thế?...
Phong bấm chuông lần thứ hai. Hưởng ló đầu ở khoang cửa sổ trên gác, cặp mắt ngơ ngác. Anh chỉ mỉm cười khi nhận ra Phong.
Hưởng ngậm chiếc píp ra mở cửa, đưa Phong vào buồng khách.
— Tước đâu anh? - Phong hỏi.
— Cậu ấy bận suốt ngày, đi đục tường, đục cây...
Hưởng nhoẻn miệng cười. Hai hàm răng anh đều và chắc. Anh có bộ râu quai nón thưa, mọc lởm chởm.
Sáng nay nhìn rõ mặt Hưởng, anh thấy Hưởng hơi già đi. Bộ râu của Hưởng tạo một cảm giác gai gai. Đàn bà có khó chịu khi người đàn ông có bộ râu thế kia mà chẳng chịu cạo không? Phong lại nghĩ đến chị Uyên. Chị đã trở thành một đường dây gắn bó giữa Phong và Kiều Oanh. Một sự gắn bó chỉ còn tác dụng an ủi. Dù như vậy vẫn còn hơn không?
Hưởng nhả píp, cầm tay, hỏi Phong:
— Tối qua, tôi nhìn thấy anh ở hiệu cà phê Mô-ka. Tôi tưởng anh đi tản cư với gia đình ông Toàn Thịnh?
Anh vẫn dạy bọn trẻ ở đấy chứ?
— Vâng. Tôi đã vào Hà Đông, mới về tối qa.
— Tình hình đang găng. Về làm gì?
— Cậu học trò trốn về Hà Nội. Gia đình nhờ tôi đi tìm.
— Nghe nói gia đình này có cô Dung xinh lắm phải không?
— Cũng đường được...
— Tối hôm qua tôi định gọi anh, nhưng thấy không tiện vì vướng mấy ông tự vệ... Tôi bất cần, nhưng không muốn để họ chú ý đến anh...
— Vì sao vậy?
— Vì sao... Tôi hay nói ngang, họ không ưa, thế thôi.
Hưởng cười hí hí. Phong nhận thấy anh cười như vậ khi muốn che giấu một điều gì.
— ông Mô-ka bảo chưa có chiến tranh. Tây chưa đánh ta... Anh thấy thế nào? - Phong hỏi.
— ông già khôn như cáo. Tôi cũng bảo chưa có chiến tranh. Tây chưa đánh ta mà ta cũng chưa muốn đánh Tây.
— Mọi người chuẩn bị tấp nận lắm.
— Để nắn gân Moócc-li-e... Mấy quả lựu đạn lọ mực, mấy chai ét-xăng cơ-rếp, vài ba khẩu súng săn...
— Đánh cái gì! Những ụ đất ở đầu Hàng Đào, Cầu Gỗ, xe háp-tơ-rắcchỉ cần năm phút là dọn xong. Già Hồ rành lắm! Đánh ngoại giao thôi, không đánh võ trang. Việt Minh chỉ giỏi mỗi cái tuyên truyền... Thánh đấy!
— Anh có nhớ ngày Việt Minh còn ở chiến khu không? Ai cũng tưởng là quân đông, khí giới tối tân. Đánh Tây, đánh Nhật, có cả quan hệ với Đồng minh kia mà! Khi Quân Giải phóng kéo về Hà Nội, rút cục chỉ toàn súng lấy từ trại Bản an binh, quần áo cũng là quần áo "gạc anh-đi-giền" . Thậm chí "mác-sê ô pa"cũng chưa biết. Thế mà cũng gọi là quân đội!... Cậu Tước nhà này hôm trước đem về mấy quả lựu đạn Phan Đình Phùng. Tôi bảo: "Chú muốn đánh Tây thì mua mấy quả lựu đạn Mỹ hoặc mấy quả lựu đạn chày của Tàu về mà dùng. Đánh bằng lựu đạn này thì người chết không phải là Tây, mà người mất tay, có khi mất mạng sẽ là chú". Nó vặc với tôi một lúc. Nhưng ngày hôm sau, cậu lẳng lặng mang đi, chắc là đem trả...
Cho đến hôm nay. Phong vẫn đứng ngoài lề những hoạt động chính trị của Việt Minh, kể cả những hạot động chuẩn bị kháng chiến. Những ngày Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm trước. Phong hối hả chạy khắp nơi, xem Việt Minh chiếm Bắc Bộ phủ, chiếm trại Bảo an binh, đoàn Quân Giải phóng ở chiến khu về... Anh có thể đứng cả giờ trước loa phóng thanh nghe những bài hát cách mạng sục sôi như bốc lửa. Anh thực sự vui mừng trước cảnh nước nhà độc lập. Nhưng anh tự thấy mình chưa có gì gắn bó với sự nghiệp cách mạng. Sự nghiệp này không phải là của anh. Một số bạn bè Phong đã gia nhập các tổ chức của Việt Minh. Có người vào Vệ quốc đoàn. Nhưng anh không thích làm theo họ. Anh nghĩ họ là những kẻ xu thời... Nhưng lúc này ngồi nghe Hưởng nói thao thao, Phong bỗng thấy đắng cả miệng. Anh gượng hỏi:
— Tình hình theo anh rồi sẽ ra sao?
— Nếu đánh nhau thực sự thì Vệ quốc đoàn có thể bị đánh tan trong hai mươi bốn giờ đồng hồ, thậm chí trong một đêm như Nhật quật Pháp đêm mồng 9 tháng 3 năm 1945. Người sống sót chỉ còn cách lại chạy lên rừng.
— Ta còn rất nhiều dân quân, tự vệ?
— Cái đó thì lâu hơn, nhưng không phải chiến tranh mà là những cuộc tảo thanh.
Phong không muốn tin những điều Hưởng nói là đúng. Nhưng anh không có lý lẽ gì để tranh cãi với Hưởng. Anh mong rằng lực lượng kháng chiến của ta không đến nỗi yếu kém đến như thế. Nhưng anh cũng phải nhận là những lời Hưởng nói đúng một phần. Từ Hà Nội ra đến vùng lân cận, anh thấy lực lượng bộ đội ta thưa thớt và có ít khí giới. Đâu đâu cũng chỉ thấy dân quân, tự vệ. Họ đứng gác bằng giáo, mác, mã tấu. Thỉnh thoảng mới thấy có người đeo lựu đạn. Hưởng nói không sai. Nhưng tại sao Hưởng lại nói những điều này với một vẻ dường như thích thú?...
— Anh xem - Hưởng nói - tôi vẫn ở đây, vẫn cho dắt máy xay xát. Cụ Hồ tay trắng làm nên cơ đồ, không đời nào lại đem nướng cả cho Va-luy trong một đêm.
— Nhưng ở Nam Bộ thì sao? - Phong đã nghĩ ra điều đó - ở Nam Bộ ta đánh Tây hơn một năm?
— Anh tưởng thế à? Đó là tuyên truyền. Nam Bộ xong lâu rồi! Tây chiếm xong Nam Bộ mới tính chuyện đưa quân ra Bắc. Tuyên truyền giỏi lắm! Kiểu Nga hết! Mít tinh, khẩu hiệu, cả cái lối viết chữ nguệch ngoạc trên tường này cũng là Nga!... Cụ Hồ là âoí. Cờ đỏ, sao vuông, sao tròn cũng đỏ. Một ngày kia rồi anh xem, ngôi sao vàng trên lá cờ của ta sẽ nhỏ lại và có thêm hai cái búa liềm...
Lần đầu tiên, Phong được nghe những nhận xét mới mẻ này. Trước đây, Phong cứ tưởng mọi việc làm của ta là những hành động tự phát của dân chúng, và anh thấy có những cái không đẹp mắt lắm. Nhưng nếu tất cả những việc làm này đều dựa theo một khuôn mẫu, mà lại là khuôn mẫu của nước Nga, một cường quốc đã đánh thắng phát xít Đức, phát xít Nhật, thì phải đâu là chuyện đáng cười! Phong lại thấy tinh thần mình được củng cố.
Phong đứng dậy cáo từ. Hưởng cũng đứng lên, lại bên Phong nói nhỏ:
— Chỗ tinh thần... nói thật với anh: thời gian này anh không nên đi lại đây nhiều. Mấy ông Việt Minh hay thành kiến không ưa gì tôi. Tôi không tiện đưa anh ra cửa Anh cứ khép tạm cổng, tôi sẽ ra khóa sau.
Có chuyện gì không bình thường ở con người này? Phong không có ác cảm với anh. Phong không muốn anh là một kẻ xấu, một người chống lại kháng chiến.
Lúc bắt tay Hưởng. Phong hỏi:
— Gia đình cô Kiều Oanh hiện nay ở đâu?
Hưởng nhún vai:
— Phải hỏi cô Uyên hoặc cậu Tước.
Nhưng cả chị Uyên và Tước đều không có nhà.
Đi tìm cậu học trò suốt ngày không thấy, trời đã xế chiều, Phong quay về nhà.
Trước đây gia đình Phong ở mãi ngoài cửa ô. Ông Toàn Thịnh đã nói với một người quen có ngôi nhà hai tầng rộng rãi tại phố Nhà Thờ, cho gia đình Phong đến ở nhờ. Chủ nhà là anh Năm, trạc ba mươi tuổi. Anh có một xí nghiệp làm thủy tinh dưới Hải Phòng. Căn nhà này anh thuê cho người vợ bé không có cưới xin. Gia đình Phong được ở hoàn toàn tầng dưới. Về sau Phong mới biết, anh Năm mời gia đình Phong về đây vì muốn nhờ mẹ Phong trông nom giúp cô vợ trẻ. Anh Năm nhiều khi vắng nhà cả tháng.
Sau ngày Tổng khởi nghĩa, một số cán bộ Quân Giải phóng hay lui tới nhà này. Anh Năm bắt đầu sắm quân phục ka ki Mỹ, đeo súng ngắn, có lúc đội mũ ca lô gắn sao vàng vành. Tuy vậy, anh vẫn tiếp tục buôn bán. Có người nói anh làm công tác kinh tài cho bộ đội Đệ Tứ chiến khu Đông Triều.
Cũng sau ngày Cách mạng thành công ít lâu, cô vợ bé xinh xắn của anh Năm bỗng dưng biến khỏi nhà. ít ngày sau, anh Năm đưa về hai cô gái da ngăm ngăm, có khuôn mặt tròn giống nhau, nói tiếng Sài Gòn. Họ là hai chị em từ Sài gòn ra Hà Nội học, không trở về nhà được vì chiến tranh nổ ra tại miền Nam. Cô chị làm nghề dạy nhạc để nuôi em. Hai chị em rõ ràng là con cái một gia đình giàu có, không may lỡ bước. Về mặt học vấn, họ hơn hẳn anh Năm. Cô chị nói tiếng Pháp và tiếng Anh trôi chảy, đánh đàn giỏi. Cô em hát hay. Anh Năm có vẻ mê cô chị. Đối với cô, anh dành một thái độ trọng vọng, khác hẳn thái độ đối với người vợ bé trước đây.
Pháp đánh chiếm thành phố Hải Phòng. Anh Năm lên Hà Nội sau khi đã đưa cả gia đình về quê. Anh dẫn về nhà một người bạn mới. Người này thấp nhưng thân hình chắc mập như một con dế. Anh ta đeo kính cận. Bộ quân phục dày cộp bó chặt lấy người. Cái quần đúng là quần của binh lính Nhật vẫn mặc trước đây. Khi anh ta đội trên đầu chiếc mũ sắt tròn, trông anh ta hoàn toàn giống một võ quan Nhật. Khẩu súng ngắn anh ta đeo lủng lẳng bên hông cũng là súng Nhật. Phong đã có dịp xem khẩu súng này. Đó là một khẩu Chiêu Hòa, nước thép xanh bóng.
Theo lời anh Năm giới thiệu, đó là Hồng Kỳ, một người Nhật không chịu về nước, ở lại giúp Việt Nam chiến đấu. Vừa qua, Hồng Kỳ chỉ huy một đội cảm tử đánh Pháp rất anh dũng tại Hải Phòng. Hồng Kỳ bị sức ép của đại bác từ hạm tàu Pháp bắn vào, về đây để nghỉ ngơi.
Phong bước vào nhà, thấy Lượng đang ngồi nói chuyện với Hồng Kỳ. Phong chợt nghĩ nếu chiến tranh nổ ra tại Hà Nội, tự vệ khu phố này có thể lợi dụng khả năng quân sự của Hồng Kỳ.
Hồng Kỳ trỏ chén nước trà trên bàn nói:
— Cái tách này đang ở trước mắt chúng ta, bảo rằng có nó, cũng được, nhưng nếu bảo là không có nó thì cũng không sai. Tôi có thể chứng minh với anh là không có nó.
Lượng mỉm cười, vẻ bình thản:
— Mình không quan đến đến những chuyện rắc rối của những nhà triết học. Bảo nó có hay không thì nó vẫn cứ ở đấy, chúng mình vẫn cứ uống trà như thường.
Hồng Kỳ cũng là nhân vật mà Phong cảm phục. Anh chỉ hơi phân vân một chút về quốc tịch của anh chàng Nhật này. Nhìn nét mặt Hồng Kỳ chỉ vào trạc tuổi Phong. Nếu anh ta sang đây với đội quân của Nhật Hoàng thì anh ta đã đăng lính quá sớm. Hồng Kỳ hoàn toàn có dáng dấp của một người Nhậtkhi anh ló đầu với cặp kính ra khỏi cửa sổ, hỏi một người đi ngang đường: "ông ơi! Bao nhiêu giờ rồi?". Nhưngkhi anh ta ngồi nói chuyện như lúc này, Phong lại nghĩ có lẽ anh không phải là người Nhật. Anh quá thông thạo tiếng Việt. Anh không hề bao giờ tỏ ra là mình không hiểu bất cứ câu tiếng Việt Nào, kể cả những tiếng lóng.
Cách đối đáp của Lượng với Hồng Kỳ làm cho Phong rất thích.
Lượng nói tiếp:
— Cái mà mình quan tâm, mình băn khoăn là mình không thể hiểu được chính mình. Trong mình không phải chỉ có hai, ba con người, mà đến hàng chục con người. Khi conngười này bảo mình làm thế này, thì con người kia bảo mình làm thế kia, mình không biết theo con người nào...
Thấy Phong về, họ bỏ dở câu chuyện.
Hồng Kỳ hỏi:
— Súng nổ ở đâu?
— ở Hàng Điếu và ở đâu nữa thì không rõ.
Lượng bình luận:
— Mấy ông tự vệ bịt đường, nó phá để lấy đường đi.
Hồng Kỳ nói:
— Tôi đã bảo chỉ đắp ụ là không tốt, phải đào hố, đào hố lớn trước ụ đất. Có hố lớn, xe tăng địch không thể phá được.
Lượng lại thủng thỉnh:
— Thôi, có đánh nhau thì đánh đi cho rồi!
Từ khi gặp Lượng ở hàng cà phê rồi đưa Lượng về nhà, Phong cảm thấy yên tâm. Anh bạn mới này vừa hơn Phong cả về tuổi tác, về kiến thức, về cách suy nghĩ, về cả tinh thần dũng cảm mà Phong thấy mình chả có được bao nhiêu. Không có gì ràng buộc anh ở Hà Nội, nơi đã trở nên nguy hiểm đối với tất cả mọi người. Nhưng anh lại thích ở lại. Anh muốn như một trò chơi. Và chỉ qua mẩu đối thoại ngắn ngủi vừ rồi. Lượng đã hơn Hồng Kỳ một bậc. Hồng Kỳ mất hẳn chủ động trước Lượng. Người bạn mới này đã mang lại thêm vinh dự cho anh.
Anh Năm xuất hiện ở cửa ra vào với bộ quân phục ka ki Mỹ màu xám. Anh nở một nụ cười rất tươi, đến bên bàn, kéo ghế ngồi.
— Mình vừa ra Bắc Bộ phủ về...
— Tình hình thế nào? - Hồng Kỳ hỏi.
— Moóc-li-e vừa gửi tối hậu thư cho ta... Sáng nay, Pháp đưa quân chiếm nhà Bộ Tài chính. Chúng dàn quân từ Hàng Da đến cầu Long Biên và cho xe phá chiến lũy ở phố Hàng Điếu cho là tình hình khó cứu vãn. Hà Nội nổ súng thì toàn quốc cũng nổ súng. Khu phố này sẽ gay go. Đầu này, nhà Moóc-li-e, đầu kia Nhà Thờ lớn. Chiến lũy không có. Xe tăng có thể thọc vào bất cứ lúc nào...
Nụ cười vẫn nở trên môi khi anh Năm nói những điều nghiêm trọng này. Rồi anh quay sang Phong, hỏi:
— Tìm thấy thằng nhóc chưa? Liệu ra đi thôi!
Phong còn đang lúng túng thì Lượng nhoẻn miệng cười, nói:
— Bọn tôi cũng đang mong đánh đi cho sớm sủa.
Phong thầm cảm ơn ban. Đó không phải là ý nghĩ của anh. Nhưng anh đã nhận thấy cả bạn và mình cần có một thái độ như vậy trước mặt Hồng Kỳ. Không thể để anh chang ngoại quốc này coi thường mình.
Đêm hôm đó. Phong nằm mơ thấy mình bị bọn Tây mũ đỏ săn đuổi giữa một thành phố đen mù khói bom, đạn nổ khắp nơi. Anh lao đầu chạy vào một ngõ hẻm. Bốn thằng Tây mũ đỏ khác đứng chặn ngay trước mặt. Anh quay đầuchạy vào một ngõ hẻm. Bốn thằng Tây mũ đỏ khác đứng chặn ngay trước mặt. Anh quay đầu chạy trở lại, một chiếc xe tăng đã bịt kín đầu ngõ. Anh nghĩ nếu mình không chết vì những loạt đạn, cũng bị địch bắn, những cực hình ghê gớm đang chờ đợi anh. Nệubi bắt thì khai như thế nào?... Sẽ nói mình là một người dân thường, mình không phải là Vệ quốc đoàn hay tự vệ. Anh chợt nhận thấy mình đang nắm trong tay một quả lựu đạn lọ mực. Anh ném thẳng quả lựu đạn về phía bốn thằng Tây. Anh chờ lựu đạn nổ xong, sẽ chạy về hướng đó. Nhưng quả lựu đạn không nổ. Một thằng Tây nhặt nó lên, cầm trong tay, nhìn anh mỉm cười chễ giễu. Một thằng khác bỗng giương khẩu tiểu liên nhắm thẳng vào ngực anh. Nếu nó hô mình giơ tay lên, mình sẽ sống, nó nổ súng, mình sẽ chết... Nòng súng tiểu liên tóe lửa. Phong hét lên và choàng tỉnh giấc.
— Cậu bị bóng đè à? ú ớ ghê quá! - Lượng đang vừa lay anh vừa hỏi.
Phong bàng hoàng nhìn trời đã rạng sáng. Tiếng động cơ máy bay từ phía Gia Lâm vọng về. Không hiểu có phải những tiếng ầm ì này đã mang lại cho anh cơn ác mộng vừa rồi. Lần đầu, Phong nói dối bạn:
— Ừ mình bị bóng đè... Mình có tật hay bị bóng đè.
— Tim không tốt.
Có lẽ tim mình không tốt thật. Phong nghĩ. Nó là nguyên nhân đã gây ra tính nhút nhát. Anh biết mình sẽ không bao giờ kể lại với bất cứ ai giấc mơ vừa rồi.
Phong lại mất thêm một buổi sáng đi tìm Luyến, người con trai duy nhất của gia đình ông Toàn Thịnh.
Cậu bé như đang chạy trốn anh. Anh tới chỗ này, người ta trỏ qua chỗ khác. Có nơi anh tới, Luyến vừa đi khỏi. Anh đi rạc cẳng cả buổi vẫn không gặp Luyến.
Thêm nhiều con đường chạy về khu chợ Đồng Xuân bị bịt kín. Tự vệ ra sức củng cố các chiến lũy. Những chiếc xe bò chở đầy cát ùn ùn từ bờ sông Hồng kéo về. Ngay ở gần nhà Phong, đồn công an Hàng Trống cũng đã chất trước cửa ra vào một núi bao tải cát. Hầu hết những cửa hàng đều ngừng hoạt động. Quán Nghệ sĩ ở Bờ Hồ, nơi hôm qua anh Năm còn đưa người yêu tới, sáng nay đã đóng cửa.
Phong bắt đầu cảm thấy phân vân về công việc ông bà Toàn Thịnh ủy thác. Trong khi mình sống an nhàn ở nơi tản cư, ngày hai bữa chờ cho tình hình bớt căng thì họ ở lại vất cả ngày đêm, đào hào, đắp lũy đánh nhau với quân địch. Có nên thực hiện lời anh đã hứa với ông bà Toàn Thịnh, nhất là với cô con gái lớn của gia đình này, sẽ tìm được Luyến, khuyên bằng được Luyến trở về nhà? Việc làm đó có khác gì xúi giục một chiến sĩ đào ngũ giữa trận đánh. Dù người chiến sĩ đó chỉ là một chú bé. Anh đã nhì thấy vô số những chú bé chỉ bằng trạc tuổi Luyến. Người ta đã chấp nhận các chú trong cuộc chiến đấu này. Anh lo ngại cho cuộc gặp sắp tới giữa mình và Luyến. Mình sẽ nói gì? Rõ ràng là những lý lẽ của anh sẽ rất yếu ớt. Cậu bé là người đứng trong hàng ngũ chiến đấu, còn mình đang trốn tránh cuộc chiến đấu này.
Gần trưa, Phong trở về nhà, Anh định nấu nướng cho Lượng ăn rồi buổi chiều lại đi tìm Luyến.
Mở cửa, nhà vắng ngắt. Không biết Lượng đi đâu? Anh chợt nhìnthấy một mảnh giấy đặt trên bàn. Đó là mấy dòng lượng để lại:
«Phong.
Mình thấy tất cả mọi chuyện đều phi lý. Kể cả cái ý nghĩ điên rồ của mình là muốn làm một cuộc du ngoạn ở Hà Nội trong những ngày chiến tranh!
Mình chưa rõ quyết định cuối cùng của cậu về việc đi, ở thế nào. Nếu cậu muốn tự thể nghiệm trong bom đạn thì mình không dám ngăn. Mong là chúng mình sẽ có ngày gặp lại.
Mình gửi lại cho cậu trong ngăn kéo một món quà nhỏ (mình không cần đến nó nữa) để làm kỷ niệm cuộc gặp gỡ ngắn ngủi nhưng rất đáng ghi nhớ giữa mình và cậu. Đây là loại cực tốt, lỡ ra có lúc cậu phải dùng đến nó.
Mình đi đây!
Lượng»
Phong mở ô kéo, thấy một khẩu "Côn" xinh xắn cùng với một băng đạn đặt nằm bên cạnh.
Chuyện gì đã đến với anh ta, Phong tự hỏi. Mình chưa hiểu được anh ta. Anh ta có những cái không giống với mình, không giống với mọi người. Chắc chắn anh ta không hèn nhát. Phải chăng chính vì anh mà mình đã thay đổi sự suy nghĩ, đã có ý định ở lại. Nhưng bây giờ anh ta đã đi rồi, mình có nên ở lại đây nữa không? Mình đã mất một chỗ dựa về tinh thần... Phong cảm thấy cô đơn. Anh đứng tần ngần nhìn mảnh giấy và bỗng nghĩ tới mẹ, tới các em. Mẹ chắc đang mong mình về. Mẹ sẽ không ăn, không ngủ được vì lo lắng nếu ở Hà Nội xảya đánh nhau. Cô ấy cũng sẽ lo lắng vì mình. Chắc cô ấy sẽ vô cùng ân hận vì đã nhờ cậy mình, đã yêu cầu mình trở lại Hà Nội... Chiều hôm nay mình sẽ cố tìm gặp Luyến. Nếu Luyến không chịu làm theo ý ông bà Toàn Thịnh và Dung, thì đó không phải lỗi ở mình. Không có gì ràng buộc mình ở lại đây. Mình có thể quay ra ngay để gặp những người thân. Hay là... Hay là chiều nay mình sẽ rời Hà Nội? Anh bỗng cảm thấy một sự cấn cái... Ra đi vào lúc này có khác chi là chạy trốn!...
Anh Năm từ trên gác đi xuống.
— Ngoài phố có chuyện gì không, chú Phong?
— Phố vắng hơn hôm qua, nhưng sáng nay yên tĩnh. Quán Nghệ sĩ đóng cửa rồi anh Năm ạ.
— Mình đã ra đó và phải quay về pha cà phê uống ở nhà...
— Chị Lan và cô Mai đi chưa anh?
— Không chịu đi. Đòi ở lại làm cứu thương cho bộ đội, ghê chưa? Dân Nam Bộ hăng đánh Tây lắm. Chú phải ra với bà cụ chứ?
Phong ngập ngừng rồi đáp:
— Em còn có chút việc phải ở lại.
— Làm nhanh nhanh đi rồi ra kẻo cụ mong - Anh Năm nói với vẻ chân tình.
Phong im lặng.
Anh Năm nói tiếp:
— Sáng nay tự vệ đến nhà mình. Họ định chọn nhà này làm một ổ tác chiến. Sẽ bố trí một tiểu đội ở đây. Nếu có đánh nhau thì mình đánh ngay ở nhà, khỏi phải đi đâu,... Hồng Kỳ nói vị trí này gay go đấy. Nhà mình chỉ cách đại bản doanh của Moóc-li-e có ba chục mét. Đầu kia là Nhà Thờ, khi đánh nhau, bọn Pháp sẽ chiếm ngay gác chuông, đặt liên thanh trên đó để kiểm soát toàn khu vực. Dưới chân Nhà Thờ là phố Nhà Chung toàn dân công giáo. Ta đừng có hòng mà ẩn nấp ở đó. Nếu nhà mình ở bên kia đường, lúc cần, ta có thể lui vào phía Hàng Bông hayNgõ Huyện. Nhưng nhà mình lại ở bên này đường, gặp khó khăn, hết cách rút lui. Mình và Hồng Kỳ là dân lính chiến ở lại cũng không sao, nhưng chú là học trò, chú ở đây làm gì! Anh bạn của chú đi rồi phải không?
Phong đáp một cách sượng sùng:
— Vâng, anh ấy đi rồi.
— Sao không chờ chú cùng đi một thể? Chắc là tại sao ta nghe nói Moóc-li-e lại tiếp tục gửi tối hậu thư cho ta. Tôi gặp khối người kiểu cậu này ở Hải Phòng.
Phong rất biết ơn anh Năm đã giúp chỗ ở cho gia đình mình và quý mến mẹ con mình, nhưntg anh cảm thấy khó chịu khi bạn mình bị miệt thị. Phong tự hỏi: tại sao anh Năm vẫn chưa đưa hai chị em cô người yêu đi tản cư? Đêm qua Lượng đã cả quyết với Phong rằng, anh Năm là nhà buôn và Hồng Kỳ là một sinh viên triết loại tồi, đóng vai võ quan Nhật. nếu đúng như vậy vì sao mấy người này còn ở lại đây...?
Anh Năm lại nói:
— Nếu chú ở lại thì phải gặp anh Nhã tối nay, anh ấy là tiểu đội trưởng tự vệ phụ trách các chú. Chú có biết anh Nhà kéo đàn ở Ta-véc Roay-ankhông?
— Anh Nhã mặc com lê xanh nước biển, đi ghệt vẫn hay ôm cái đàn phong cầm?
— Đúng đấy, anh em thường gọi là Nhã cao... Nhưng nếu chú định chiều hay sớm mai đi thì không cần gặp.
— Em sẽ gặp anh ấy.
Phong đã đi đến một quyết định chừng nào gia đình anh Năm còn có mặt tại đây thì anh sẽ không rời Hà Nội. Anh phải ở lại để bảo vệ danh dự nếu không phải là cho mình thì cho bạn của mình.