Khác hẳn với phía ngoài, bên trong chiến lũy có cả một tổ chức chiến đấu hẳn hoi.
Tự vệ tiếp tục bồi đắp thêm công sự. Quãng quãng lại có một trạm gác. Nhiều ngôi nhà cửa vẫn mở, có ánh đèn dầu,người đi lại nhộn nhịp. Cuộc chiến đấu diễn ra đã mấy tiếng đồng hồ nhưng những người ở đây vẫn bình tĩnh. Hình như họ không lo địch ập đến bất thần. Những ụ đất, những đườnghào và những cây súng phục sẵn mọi nơi sẽ bảo vệ cho họ.
Nhìn qua một cánh cửa để ngỏ, Phong thấy một dãy nồi lớn đặt trên những viên gạch, lửa khói nghi ngút. của ban hỏa thực . Phong bỗng cảm thấy đói. Từ trưa đến giờ anh mới ăn một chiếc bánh mì. Anh tự hỏi bữa sáng mai mình sẽ ăn ở đâu.
Phong nằmtrằn trọc vì lạnh. Bên anh, Nhã đã ngáy vo vo. Tuyết Mai nằm ở góc buồng thỉnh thoảng lại trở mình. Người ta nói thanh niên Sài gòn ra Hà Nội học đều là con cái những nhà giàu có. Nếu đem hoàn cảnh của mình so sánh với cô gái yếu đuối kia thì thật chẳng có gì đáng phàn nàn.
Súng lại nổ mạnh, có phần dữ dội hơn cả lúc ban tối. Lại có một trận đánh đang diễn ra ở đâu? Tiếng xe xích chạy ầm ì trên đường Tràng Thi. Không phải một chiếc mà cả một đoàn xe. Nền nhà dưới lưng anh cũng đang rung chuyển. Tiếng ngáy của ai vừa rống lên nghe thật buồn cười. Dường như tiếng động cơ của những xe xích đang vỗ về họ trong giấc ngủ. Phong lo lắng nghĩ đến ngày mai. Nhưng về đến đây, anh không còn cảm thấy cô đơn.
Các đồng chí công an đã dìu người bị thương vào một trạm xá. Họ sẽ đi bắt liên lạc với nhau. Tiểu đội của Nhã phải đến gặp khu để báo cáo.
Người liên lạc dẫn họ đi quanh co qua những đường phố nhỏ đến một ngôi nhà gác hai tầng, phía trước là một sân rộng.
Nhã nhìn lại tiểu đội rồi bảo Phong:
— Xem phía sau còn ai nữa không, bảo và hết cả trong này.
Phong quay ra nhìn suốt dọc phố, không thấy một ai.
Tiểu đội họ chỉ còn tám người, kể cả Tuyết Mai. Phong không hiểu những người kia đi lạc đường hay họ cố tình rời khỏi hàng ngũ.
Trong nhà, một người độ mũ ca lô tím không có phù hiệu, mặc áo vá rơi xanh, ngồi trước một chiếc bàn giấy lớn, trên đặt ngọn đèn bão. Người đó hỏi:
— Các đồng chí ở đơn vị nào?
Nhã đáp:
— Báo cáo: Chúng tôi ở trung đội Nhà Thờ lớn.
— Sao lại tự ý bỏ trung đội?
Đáp lại câu hỏi hơi xẵng, Nhã nói bình tĩnh:
— Trung đội bỏ chúng tôi chứ chúng tôi có bỏ trung đội đâu!
— Trung đội trưởng của các đồng chí là ai?
— Đồng chí Tám.
— Tám "cua-rơ" phải không? Đồng chí Tám đâu?
— Đồng chí ấy cùng với tiểu đội 1 rút lúc nào chúng tôi không biết. Chúng tôi ở tiểu đội 2 bố trí bên dãy nhà số lẻ.
— Tại sao các đồng chí chưa đánh đã bỏ vị trí?
— Chúng tôi có đánh. Đánh hết nửa số đạn và lựu đạn. Đồn Công an quận I bị địch chiếm. Chung quanh chúing tôi toàn là địch. Các đồng chí công an bảo chúng tôi phải rút vào trong này để tiếp tục chiến đấu.
— Công an quận I mất rồi à? - Người đó càng nói to hơn.
Một người từ phía ngoài nhanh nhẹn đi vào. Đó là một chị mặc chiéc áo véc bằng ki ki, chỉ khoảng hai mươi ba, hai mươi bốn tuổi là cùng. Người ngồi ở bàn đứng vội dậy:
— Báo cáo chị: đồn Công an quận I mất rồi. Tiểu đội ở phố Nhà Thờ chạy về đây.
Chị mặc vét ka ki nói:
— Đồng chí ra đôn đốc các chị em nấu nướng, sáng sớm mai phải có đủ cơm nước cho bộ đội và tự vệ, để tôi nói chuyện với các anh chị đây.
Người đội ca lô vội vã đi ra. Chị mặc áo vét lại bên Nhã.
— Tôi là Thúy Hường, khu phó. Tôi vừa gặp các đồng chí công an quận I bên bệnh xá. Anh em nói là cùng rút với các đồng chí. Các đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ ở khu phố. Vào đây, lại tiếp tục chiến đấu. Tiểu đội các đồng chí còn bao nhiêu người?
— Báo cáo chị: tám người.
— Ngày mai biên chế lại. Sẽ có bộ đội tới chỉ huy các đồng chí.
— Chúng tôi gần hết đạn và lựu đạn rồi.
— Ban quân khí sẽ phát thêm cho các đồng chí. Bây giờ mời các đồng chí đi nghỉ.
Thúy Hường gọi một người liên lạc dẫn họ đi.
Phong vẫn còn ngạc nhiên vì sự bình thản và lời ăn tiếng nói dịu dàng của chị phụ nữ. Nhã chạm khuỷu tay vào người anh:
— Cậu biết bà này không?
— Không.
Người trong Mặt trận Việt Minh đấy. Mình đã nghe bà ấy diễn thuyết một lần.
Nhã quay sang hỏi người liên lạc:
— Cái cậu ca lô tím oai vệ ngồi ở bàn giấy khu là ai đấy?
— Đồng chí Ngự, chánh văn phòng.
— Thằng cha... Đáng ăn mấy cái bợp. Lúc đầu mình lại tưởng nó là khu trưởng...
Nơi nghỉ của họ là trường Gia Long. Ở đấy có nhiều đơn vị tự vệ và những anh bộ đội đang ngủ say sưa, mặc tiếng súng vẫn nổ rền.
Mỗi người chọn một chiếc ghế dài làm chỗ nằm.
Nhã tháo khẩu súng ngắn ở thắt lưng, đặt trên ghế làm vật gối đầu. Tuyết Mai cuộn tròn trong chiéc vỏ chăn, gối đầu lên cái xắc nhỏ mà cô mang theo. Cô ấy chuẩn bị cho mình khá chu đáo. Phong bỗng thấy tiếc là ban nãy ở nhà đã không nghĩ gì đến chuyện kiếm một ít đồ dùng cá nhân chuẩn bị cho cách ăn, ở mới.
Họ đã được biên chế vào một trung đội mới do một đồng chí Vệ quốc quân chỉ huy. Thành phần trung đội này gồm đủ mọi loại người: mấy anh Vệ quốc quân, mấy anh công an từ quận I rút về, số khá đông là tự vệ các phố gom nhặt lại, có cả những người như Phong và Tyết Mai trước ngày nổ súng chưa hề là tự vệ.
Trung đội chia làm ba tiểu đội. Nhã, Phong, Tuyết Mai vẫn ở tiểu đội 2. Mai đã trở thành cứu thương của tiểu đội. Không biết cô gái học nghề này từ bao giờ, nhưng cô đã thản nhiên nhận về một túi cấp cứu có in hình chữ thập đỏ với đầy đủ bông băng, thuốc sát trùng, thuốc tiêm và kim tiêm.
Chỉ huy trung đội là Tôn Chỉ, một anh Vệ quốc quân, người Tày, bộ mặt lầm lì.
Hàng ngày, sáng dậy họ nhận mỗi người một nắm cơm đóng khuôn như chiếc bánh chưng. Họ ngồi quây quanh một nồi canh lớn; đó là thức ăn. Sau đó, từ trường Gia Long, họ phân chia nhau đi khắp nơi.
Tiểu đội Phong vẫn quay về hoạt động tại khu vực quen thuộc là phố Nhà Thờ. Tiểu đội trưởng đưa họ lên bố trí ở những ngôi nhà gác, trên sân thượng, có khi trên những mái nhà chung quanh khu vực ta đắp chiến lũy. Trước đây, Phong cứ tưởng bộ đội và tự vệ nấpngay đằng sau chiến lũy bắn ra, hoặc ném lựu đạn để ngăn cản quân địch tiến vào. Nhưng bây giờ anh đã biết phía sau chiến lũy thường chỉ có một người gác. Bản thân chiến lũy không phải là nơi chiến đấu. Chiến lũy chỉ là một vật cản ngăn không cho xe tăng và bộ binh địch vượt qua. Người bảo vệ chiến lũy nằm ở những nơi khác. Những nơi thật bất ngờ. Và những vị trí này cần phải thay đổi luôn.
Đã mấy ngày chiến đấu, tình hình khu vực này vẫn khá yên tĩnh. Thỉnh thoảng mới có một chiếc xe gíp, xe háp-tơ-rắc từ nhà Moóc-li-e ra hoặc từ nơi khác đến chạy ngang phố Nhà Thờ. Chúng phóng rất nhanh. Phải là những tay súng thiện xạ mới có thể hạ được một hai thằng ngồi trong xe. Thường thì họ chỉ nhắm đúng mục tiêu là chiếc xe. Bắn trúng một vậy đang chạy nhanh như vậy ở xa vài chục mét, không phải chuyện dễ dàng. Nếu gây thương vong được cho những tên địch đi trên xe là điều tốt nhất. Nếu chỉ xuyên thủng được vỏ thép của chúng hoặc làm viên đạn réo qua đầu chúng cũng đủ gây cho chúng sự kinh hoàng.
Nhã đã được phát một khẩu súng trường. Nhã và Phong chuyền tay nhau bắn. Họ đã dùng hết vài chục viên đạn nhưng vẫn chưa thấy được kết quả cụ thể trừ thái độ của địch hoảng hốt bắn trả hoặc lao xe thật nhanh.
Điều họ khó hiểu là không biết tại sao bọn địch cứ để cho họ nằm yên, ăn yên, ngủ yên tại khu phố bé nhỏ này. Tại sao chúng chưa đánh thẳng vào chiến lũy? Họ cũng muốn thử thách sức chịu đựng của nó. Tại sao Pháp không ném bom vào khu vực này? Tại sao chúng cũng không bắn đại bác?
Sang ngày thứ ba, có mấy viên đạn súng lớn rơi vào phố Huyện. Hai ngôi nhà bị sập mái. Một viên đạn khóet một lỗ bằng cái thau trên mặt đường. Cũng may chỉ có một con lợn chết. Mấy anh tự vệ bị tức ngực, phải đưa về trạm xá. Người ta nhặt được một viên đạn khổng nồ, và xác định đó là đạn moóc-chi-ê. Đạn moóc-chi-ê, cái chết từ trên trời rơi xuống, bắt đầu đe dọa sự yên lành của những người ở bên trong chiến lũy.
Không biết do đâu Tuyết Mai đã nghĩ ra một sáng kiến: làm cho bảo vệ chống sức ép của moóc-chi-ê. Cô lấy ở Hàng Bông về một số mền chăn và vải màn, cắt thành những mảnh nhỏ, khâu cho mỗi người trong tiểu đội một miếng để buộc trước ngực. Sáng kiến của Tuyết Mai được một số nơi bắt chước. Giữa mùa đông, quần áo nhiều người mỏng manh, có thêm chiếc mền bông đặt trước ngực cũng dễ chịu. Hơn nữa, tặng phẩm do chính bàn tay của cô gái ngoan ngoãn, dịu hiền này làm ra khiến cho mọi chàng trai không thể chối từ. Cả trung đội trưởng Tôn Chỉ vốn đã có áo trấn thủ cũng nhận một áo bảo vệ.
Họ không thấy bóng tiểu đội 1 phố Nhà Thờ lớn ở đâu. Họ không gặp cả những anh chàng trong tiểu đội của họ bị lạc khi từ Nhà Thờ rút sang bên này. Phong không hỏi được tin tức anh Năm, Hồng Kỳ và Tuyết Lan. Người ta nói địch đã bao vây chặt chẽ Liên khu I Hà Nội, nhưng vẫn còn một con đường từ đây rút ra ngoài, con đường đó nằm ở phía bờ sông.
Từ ngày nổ súng, Phong chưa hề nhìn thấy một đơn vị bộ đội nguyên vẹn. Dường như bộ đội ta chỉ có rất ít tại đây. Và họ đã chia ra thành những tổ nhỏ để chỉ huy những đơn vị tự vệ thành, những người dân như anh vừa tập hợp lại sau giờ nổ súng.
Ngày, đêm Hà Nội vẫn ran tiếng súng. Xe tăng, xe cơ giới của địch chạy mỗi ngày càng nhiều. Có lẽ quân Pháp đã giải tỏa được một số con đường và làm chủ thêm nhiều phố ở Hà Nội. Có lẽ chúng đang tỏa ra đánh nhau với ta ở các đầu ô. Tiếng súng nổ vọng về lúc gần, lúc xa.
Một tuần sắp qua.
Buổi sáng, cơm dọn ra có thịt lợn rang.
Nhã reo lên:
— Ăn mừng Thiên Chúa giáng sinh anh em ơi! Đêm qua mình chợt nhớ ra là Rê-vây-ông . Mình nằm mơ thấy được ăn một bữa thật ngon. Hôm nay được ăn thật.
Tuyết Mai liếc nhìn Nhã rồi nói:
— Em tưởng chỉ có em đêm qua nhớ Rê-vây-ông.
Nhã không nhìn Thuyết Mai, nói tiếp:
— Đáng lẽ đêm nay khai trương cái "bar" ở Hàng Trống. Phong nhớ không, hôm nọ mình đã mời cậu nếu không đánh nhau thì tối nay đến cửa hàng với mình... Hay là đêm nay ta tổ chức nhảy đi... Mình quên không ôm theo cây đàn. Mình lấy sáu tháng lương hợp đồng của "me" Nhật chỉ mua được hai thứ là khẩu Côn bát và chiếc ắc-coóc-đi-ông. Vứt mất một cái rồi!
Đồng chí đại đội trưởng đến khi họ vừa ăn sáng xong. Anh bảo Tôn Chỉ tập hợp cả trung đội. Mọi người đoán lại có chuyện gì.
Đại đội trưởng đứng chờ họ bên chiếc bảng đen trong căn buồng trước đây là phòng học. Trời rét nhưng anh chỉ mặc phong phanh một bộ quần áo xanh công nhân. Nếu không có chiếc ca lô với ngôi sao vành vàng lấp lánh, người ta sẽ không nghĩ anh là một cấp chỉ huy. Nước da anh đỏ như đồng hun. Bộ ngực nở nang căng tròn sau lần áo mỏng. Thân hình anh cân đối, đẹp như một pho tượng.
Phong đã nghe mấy anh bộ đội kháo nhau Trần Chương, đại đội trưởng của họ là tự vệ chiến đấu, lựclượng vũ trang của đoàn thể, mới chuyển qua Vệ quốc đoàn.
Chương chờ mọi người ngồi yên trên hàng ghế dài rồi mới bắt đầu nói. Giọng nói nhẹ nhàng của anh dần dần đanh lại.
— Hiện thời bốn phía chung quanh ta đều là quân địch. Có phải Bộ chỉ huy mặt trận đã vô tình để chúng ta lọt vào giữa vòng vây không?... Không phải như vậy. Đây là một chiến thuật. Đồng chí Trung Dũng, chỉ huy trưởng mặt trận gọi đó là chiến thuật "trùng độc chiến". Chúng mình sẽ làm con sâu độc phá từ trong ruột địch phá ra. Bộ đội lớn bao vây quanh Hà Nội, từd ngoài đánh vào, ta từ trong đánh ra, thằng địch ở giữa sẽ lúng túng. Nhưng con sâu độc này lại lành quá! Anh em ta chưa làm cho địch phải lên cơn, phải giãy giụa, mà chỉ gây cho nó vài cơn đau bụng xoàng. Vì vậy, nó còn đủ sức đánh ra ngoài. nếu nó thọc mạnh vào một vài nơi, mặt trận bao vây vỡ, nó sẽ quay lại để xoay ta, bấy giờ sẽ mệt với nó... Lệnh của trên: ở trong này phải đánh thật mạnh, kìm chặt địch lại.
Chương vung cườm tay chém vào không khí, nói tiếp:
— Đêm nay sẽ đánh hẳn vào nhà Moóc-li-e ở Hàng Trống.
Phong bật lên hỏi:
— Moóc-li-e còn ở đó không ạ?
— Nó còn đó hay chuồn vào thành, ta vẫn cứ đánh. Đánh vào đó địch mới rung động.
Chương cầm cục phấn vẽ lên bảng địa hình khu vực mục tiêu. Theo kế hoạch của anh, trung đội sẽ hành quân vòng ra Bờ Hồ, vào phố Bảo Khánh, qua vườn chuối, leo qua nhà viên tổng giám đốc Bưu điện rồi thọc vào phía sau nhà Moóc-li-e. Anh nói thêm:
— Đêm nay Nô-en, mình đánh, địch sẽ bất ngờ. Tiểu đội 2 mang theo một lá cờ, chiếm được nhà Moóc-li-e sẽ treo lên, để quân địch và cả thành phố ngày mai sẽ nhìn thấy... Tối nay tôi sẽ đi với các đồng chí...
Cả ngày, trung đội được nghỉ ngơi để chuẩn bị cho trận đánh. Ba cô cứu thương của đơn vị tìm nhau bàn cách buộc tóc, buộc ống quần, làm sao cho quai dép khỏi tụt. Phong mở súng trường ra lau và nghĩ thầm trận đánh thực sự của mình tối nay mới bắt đầu. Nhìn mấycô gái ríu rít chuẩn bị, anh bỗng thấy ái ngại. Giá anh là người chỉ huy ở đây thì anh sẽ bảo họ ở lại nhà.
Rời khỏi nhà được một lát, Phong hoàn toàn mất phương hướng. Đường đi nằm ngay trong nhà, xuyên qua những lỗ đục tường. Căn nhà nào cũng vắng lạnh, tối như hũ nút. Phải tập trung tinh lực nhìn về phía trước nhận cho ra cái khoảng trống vừa lọt người đã được mở giữa những bức tường. Có lúc phải giơ tay sờ lần. Không cẩn thận là đầu hoặc trán lại va vào gạch tóe đom đóm mắt. Thỉnh thoảng qua một sân con hoặc một khu vườn nhỏ, Phong ngước mắt nhìn những vì sao chi chít trên đầu, hít một hơi dài, rồi lại vội vã bám theo người trước.
Tiểu đội của Phong đi cuối hàng quân cùng với tốp ba cô cứu thương của trung đội. Nhã và Bỉnh được trao nhiệm vụ treo cờ. Phong chưa biết mình sẽ làm gì trong trận đánh này. Anh ở trong tổ của Nhã. Anh tự bảo mình sẽ bám Nhã không rời một bước, Nhã làm thế nào mình sẽ làm thế nấy.
Thỉnh thoảng họ dừng lại khá lâu. Có lúc họ tưởng như người ở đằng trước đã bỏ đi, quên gọi mình. Họ không hiểu có chuyện gì xảy ra. Người dẫn đường bị lạc? Hay một chiếc xe tăng địch đứng chặn trên đường họ đi...? Không một lời giải thích. Khi có lệnh tiếp tục đi, họ cảm thấy như vừa thoát nạn.
Một ý nghĩ nảy ra trong đầu Phong: bây giờ mình chỉ cần né sang bên vài bước, đứng thu mình tronb bóng tối kia, chờ mọingười đi qua, mai về nói là mình lạc đường thì cũng không ai có thể trách cứ. Anh sẽ tránh được sự hiểm nghèo, có thể là cái chết... Nhưng anh không thể làm việc đó. Một sức vô hình đã gắn chặt anh vào với đoàn quân. Anh đang bị cuốn theo như chiếc lá bị cuốn theo sức mạnh của một cơn lốc. Trận đánh không phải chỉ đem lại cho anh sự lo lắng mà có cả sức hấp dẫn của nó. Đêm nay, các anh sẽ làm một việc động trời trong thành phố bị bao vây: đánh vào dinh tên chỉ huy quân đội viễn chinh ở Bắc Bộ. Kẻ thù sẽ kinh hãi vì trận đánh táo bạo này. Toàn thành và cả nước sẽ biết đến chiến công của các anh. Nếu ngày mai, anh vẫn bình an trở về, anh sẽ ngẩng cao đầu và nhìn mọi người. Mọi người cũng sẽ nhìn anh với cặp mắt khác - với cặp mắt như cặp mắt anh vẫn nhìn những người đã tham dự chiến đấu. Phát súng đầu tiên của anh bắn ở Nhà Thờ cũng như những phát súng anh đã bắn mấy ngày nay từ những vị trí bắn, không đủ giúp anh giành được vinh dự đó. Phải là một trận đánh như trận đánh đêm nay. Nhưng cái anh nghĩ đến nhiều hơn vẫn là một khoảng không vô tận, màu xám mông lung, ở đó không còn yêu thương, lo lắng, không còn mối quan hệ với mọi người, không còn sự sống. Đó là cái mà một viên đạn đang chờ đem lại cho anh ở phía trước... Không biết những người khác cónghĩ như mình không. Phong tự hỏi. Có lẽ không. Nếu họ nghĩ như mình thì tội gì họ phải gắn bó với cuộc chiến đấu này? Họ cứ lẳng lặng ra đi. Không ai giữ họ lại được. Chắc không ai nghĩ như mình. Kể cả những cô gái yếu đuối kia. Chỉ riêng mình mới có ý nghĩ hèn nhát đó. Mình phải cố gắng che giấu nó đi nếu không muốn mọi người nhìn mình bằng cặp mắt khinh bỉ. Anh có thể chị đựng mọi sự thiếu thốn, khó khăn nhưng không thể chịu đựng sự khinh bỉ.
Phong lại cụng đầu vào một viên gạch. óc anh choáng lên. Đây là lần thứ ba anh va đầu vào gạch. Phong loạng choạng đứng lại.
— Lại đụng đầu rồi à? - Tiếng Nhã hỏi.
Phong không trả lời được vì đau.
— Nhanh lên! Đến nơi rồi!
Phong ôm đầu, cố nhịn đau gập người chui qua cái lỗ.
Anh lại nhìn thấy bầu trời chi chít những vì sao. Trước mắt anh là một đám đông, trong đó có dáng người cao lớn của Chương. Bên trái là những tàu lá chuối sum sê. Anh nhận ra đây là khu vườn chuối ở phố Bảo Khánh. Một luồng gió lạnh buốt từ Bờ Hồ thổi vào. Không biết sương đêm nay nước mưa đọng trên những tàu lá chuối rơi rào rào. Một giọt nước giá như băng lọt vào cổ anh.
Đại đội trưởng hỏi Tôn Chỉ:
— Trung đội đến đủ chưa?
Chỉ lại hỏi:
— Mấy cô cứu thương đến chưa?
Tiếng Tuyết Mai đáp:
— Cả ba chúng em đây rồi.
Tôn Chỉ nói với Chương:
— Báo cáo: đủ.
Chương vẫy tay bảo mọi người:
— Đứng gần cả lại đây.
Những bước chân rậm rịch: Súng đạn va vào nhau lách cách.
Chương nói:
— Anh chị em nghe tôi. Trước mặt chúng mình một trăm mét là tường của nhà tên giám đốc Bưu điện. Vượt qua bức tường đó, chúng mình sẽ nhìn thấy một dãy nhà ngang. Qua nhà này, qua một bãi cỏ sẽ đến dinh Moóc-li-e. Bên phải chúng mình là đường Hàng Trống chạy qua cửa trước nhà Moóc-li-e. Bên trái là đường Bờ Hồ chạy sau nhà Moóc-li-e, chỗ này Tây đặt một trạm gác. Nhiệm vụ của từng tổ, tôi đã phổ biến kỹ cho các đồng chí tổ trưởng rồi. Bây giờ: đánh! Tất cả mọi người phải xung phong quyết tử.
Về cuối, từng tiếng của đại đội trưởng như dao chém đá. Nó truyền đến cho mọi người một quyết tâm đồng thời với sự lo lắng.
Giọng nói của một cô cứu thương lanh lảnh vang lên:
— Bọn con gái chúng em làm cách nào trèo qua tường ạ?
Có những người phì cười.
Chương nói:
— Các đồng chí cứu thương không cần leo qua tường. Các đồng chí ở lại bên này. Có người bị thương chúng tôi sẽ khiêng ra. Rõ chưa?
— Rõ ạ.
— Tất cả vào việc đi! Tiểu đội 1 đi theo tôi.
Đoàn quân theo hàng một rầm rịch tiến về phía nhà viên tổng giám đốc Bưu điện . Bức tường màu trắng chạy dài trước mặt họ ngày càng rõ dầnĐã nhìn thấy đằng sau đó là một tòa nhà vuông vức, đồ sộ, màu trắng nhờ nhờ.
— Đi!
Tiếng người đi sau thúc người đi trước đang chần chừ.
Một con dế như vừa tỉnh giấc, rúc lên một hồi dài. Rồi cả đàn dế lên tiếng khi nỉ non, khi than vãn.
Thỉnh thoảng lại có tiếng hục hặc trong cổ họng. Một anh nào đó đang bịt mồm để khỏi phát thành tiếng ho.
Sao rất sáng. Nhìn rõ nét mặt nghiêm trọng, lo âu của từng người. Nhã đi phía trước lùi lại, ghé vào tai Phong:
— Đêm nay không run nữa, nhưng sao vẫn hồi họp như người đi thi?
Anh chàng này thực thà, Phong nghĩ. Anh ta dám nói ra vì anh ta không sợ quá như mình.
Nhã hỏi Bính, anh tự vệ được trao nhiệm vụ treo cờ:
— Cậu có sợ không?
Bính không đáp.
Nhã lại nói:
— Sợ thì hai thằng chúng mình cũng phải treo bằng được lá cờ. Cậu có nhìn mắt Tôn Chỉ không? Mình sợ cặp mắt ấy hơn sợ Tây đấy!
—Anh cứ trỏ chỗ cho tôi! Tôi sẽ treo được cho mà coi. Cần góc gì đời!
— Cần cóc gì đời! - Nhã nhắc lại.
Tôn Chỉ từ phía trên quay xuống:
— Gần đến rồi! chuyện lắm thế hả?
Cả hai vội vàng im bặt.
Đoàn người vẫn rậm rịch tiến lên. Đã gần đến bức tường, không ai bảo ai, mọi người đều rón rén như những con mèo.
Bỗng những tiếng chuông vang lên. Tiếng chuông như khuấy nát bầu thinh không yên tĩnh. Chuông Nhà Thờ lớn đang đổ hồi báo giờ Chúa ra chào đời.
Một vài tiếng ho bị cầm giữ từ lâu trong cổ họng nhân dịp đó bật lên.
Những người đi phía trên đãbắt đầu nằm xuống.
Họ bò nhích dần lên. Những ô cửa từ ngôi nhà Bưu điện sừng sững trên đầu họ như những cặp mắt mở to đang trừng trừng nhìn xuống. Trong nhà Bưu điện này không còn ai. Nhưng biết đâu bọn Pháp lại chẳng mới đưa ra đây một toán lính làm nhiệm vụ canh gác cho chúng trong đêm nay.
Cái lạnh lúc nửa đêm đến kinh người. Nhất là khi lại áp mình trên mặt đất. Đất như một khối băng phả hơi giá vào khắp người họ. Tiếng kèn hát từ đâu văng vẳng vọng lại. Nghe như có cả tiếng cười đùa. Những tiếng rày có thể từ nhà Moóc-li-e phát ra. Chúng nó đang vui chơi đêm Thiên chúa giáng sinh chăng?
Chúng mày cứ thả sức nhảy nhót, cười đùa đi! có những người đang mang "quà Nôen) đến mừng chúng mày đây!...
Tổ của Nhã đã bò đến chân tường.
Bính quá thấp nên không làm sao bám được thành tường. Nhã và Phong mấy lần nhảy lên lại tụt xuống.
Nhã càu nhàu:
— Ban chiều tớ đã bảo là tường cao quá không thể trèo qua được!
Nhã lại cố sức nhảy lên lần nữa. Anh bám được vào gờ tường. Anh cố đạp chân vào mặt tường để lấy thế leo lên. Nhưng lần này cả người anh rơi bịch xuống đất.
Gần đó, mấy người đi cùng Tôn Chỉ cũng đang loay hoay chưa biết làm cách nào vượt qua tường.
Nhã thì thầm với Phong:
— Tớ và cậu cao mà không qua được, thằng Bính xoay xở ra sao? Nó lại làm nhiệm vụ cắm cờ!
Ba người đang lo lắng không biết giải quyết cách nào thì nghe thấy bên kia tường có những tiếng rậm rịch. Địch hay ta? Chả lẽ đã có một số người qua được rồi? Họ qua bằng cách nào?
Phong bỗng nhìn thấy mấy bóng người đang bám vào cửa sổ nhà viên tổng giám đốc Bưu điện tìm cách leo lên tầng trên. Anh giựt áo Nhã, vừa trỏ vừa nói:
— Anh em mình vào kia rồi!
Nhã đứng bật dậy:
— Quay về đằng trước. Qua phía nhà mình mà đánh vào.
Nhã chạy dọc theo tường rồi rẽ sang phải. Phong và Bính chạy theo.
Có tiếng một người con gái:
— Ơ...! Các đồng chí chạy à! Dừng lại!
Nhã gắt:
— Chạy cái con khỉ!... Tiểu đội theo tôi, nhanh lên!
Họ ra tới con đường phố ngắn từ Hàng Trống đổ về Bờ Hồ. Phía sau lưng, Hồ Gươm tối đen. Trước mặt họ là đền Hàng Trống.
Nhã lại cắm đầu chạy. Tới phố Hàng Trống anh quay đầu lại chỉ thấy có Phong và Bính:
— Tiểu đội đâu cả rồi?... Mặc! Ba thằng mình cứ từ đằng trước đánh vào!
Trong khi Nhã chăm chú quan sát ngôi nhà của Moóc-li-e thì Phong đưa mắt nhìn về phố Nhà Thờ lớn. Lòng anh se lại khi nhìn thấy ngôi nhà của mình cửa vẫn đóng kín, mái ngói xiên xiên như một người khoanh tay cúi đầu trầm tư thế sự.
Nhã nói:
— Chúng nó không gác trước cửa!
Nhìn về phía nhà Moóc-li-e, Phong thấy cái chòi gác bằng gỗ không hiểu tại sao lại nằm kềnh trên vỉa hè.
Nhã bàn với họ bò dọc theo bờ tường đến nhà Moóc-li-e, diệt thằng gác, rồi bắn vào trong nhà, chờ một số người từ phía sau đã đột nhập được, họ sẽ trèo qua hàng rào nhảy vào.
Họ đang bờ thì nghe tiếng động cơ ô tô. Con đường Nhà Thờ lớn bỗng sáng rực ánh đèn pha. Một chiếc xe gíp lao ngang con đường Hàng Trống và dừng lại trước cổng nhà Moóc-li-e.
Có tiếng chân lạo xạo trên sỏi. Tiếng cửa sắt rít lên. Tên gác ra mở cửa.
Nhã giương khẩu súng trường nhắm vào chiếc xe, bắn một phát. Liền đó, nổi lên một tiếng kêu ghê rợn. ít nhất một tên ở trên xe đã trúng đạn. Tiếng động cơ rồ lên. Chiếc xe gíp vọt về phía sau như một mũi tên. Chiếc xe cứ chạy lùi như vậy đến Nhà Thờ lớn và quay đầu chạy về phía Tràng Thi mang theo tên địch bị trúng đạn.
Phong lao vọt lên. Bính chạy theo anh. Họ tới tấp ném hai quả lựu đạn về chỗ trạm gác. Lại nghe một tiếng rú, rồi những bước chân rời rạc lạo xạo trên mặt sỏi. Tên ra mở cửa cũng đã bị thương.
Ba người tiếp tục chạy đến nhà Moóc-li-e, nép mình ở chân hàng rào sắt trước cửa.
Ánh đèn trên nhà Moóc-li-e phụt tắt.
Một tràng súng liên thanh từ phía trong bắn đổ đạn ra cửa trước. Những viên đạn lửa vun vút như sao bay ngay trước mặt họ.
Nhã kề súng lên tường hoa, nhắm hỏa điểm địch bắn một phát. Tiếng súng địch im bặt. Nhưng sau đó khẩu liên thanh lại nổ. Nhã bắn tiếp phát thứ hai.
Đạn của địch cắm phầm phật vào chân tường hoa nơi họ đang nằm ẩn. Vôi vữa rơi rào rào xuống người. Phong cảm thấy thần chết đang đặt bàn tay lạnh buốt trên gáy mình:
— Bò lùi ại phía sau! - Nhã nói.
Ba người cùng bò thụt lùi.
Nhã lắp đạn rồi chuyển súng cho Phong.
— Cậu làm tiếp đi!
Lúc này, Phong thấy mình bình tĩnh. Nhìn những viên đạn lửa. Phong biết đường đạn rất gần nhưng không đi về phía mình. Mùi khói đạn làm cho người anh như say. Phong kề súng lên tường hoa, luồn đầu súng qua hàng rào sắt, nhắm vào hỏa điểm địch ở một ô cửa sổ, bóp cò. Anh bắn liền hai phát.
Khẩu liên thanh của địch chỉ ngừng giây lát rồi lại bắn xối xả.
Họ phải thụt lùi một quãng nữa vì biết cứ nằm tại chỗ sẽ rất nguy hiểm. Và họ nhận thấy cuộc đấu súng này về mọi mặt đều bất lợi cho họ. Họ không thể nào bắn trúng thằng địch nấp sau vị trí bắn chắc là được bố trí khá cẩn thận trên căn nhà gác cách họ vài chục mét. Nhưng họ rất dễ bị địch bắn trúng nếu cứ nằm mãi ở dãy tường hoa nàyChỉ cần lùi thêm về phía sau mấy bước, nép vào ngôi nhà ở dọc phố, họ sẽ được an toàn. Nhưng như vậy là kết thúc cuộc chiến đấu khi nó chỉ mới mang lại cho họ một kết quả nhỏ bé.
Chợt họ nghe trong nhà Moóc-li-e có nhiều tiếng nổ. Tiếng nổ của lựu đạn và súng trường. Những tiếng nổ kéo dài một lúc. Khẩu liên thanh của địch đã im bặt. Có nhiều tiếng hô "xung phong" vang dậy.
Một ánh lửa lóe lên phía sau nhà Moóc-li-e. R$ồi một cột lửa đỏ khé bùng bùng bốc lên cao. Anh em ta đã đốt nhà Bưu điện. Có những tiếng chân chạy rầm rầm trên mái tôn. Rồi tiếng người gọi nhaúi ới trong nhà Moóc-li-e. ánh lửa soi rõ những anh tự vệ chạy đi chạy lại trong sân. Có cậu chỉ mặc quần soóc.
Nhã nhảy lên:
— Vào cả rồi!
Ba người cùng chạy về phía nhà Moóc-li-e. Cánh cửa sắt vẫn để ngỏ một nửa. Phong nhìn thấy những vệt máu tím bầm đổ dài trên sỏi. Anh đoán đây là máu của tên lính gác ra mở cửa.
Người rất đông. Trên sân, trên gác, trên những mái nhà ngang, đâu đâu cũng có tự vệ. Họ đốt đuốc gọi nhau í ới đi tìm địch. Hai anh tự vệ đang dùng xà beng phá cửa giữa. Một anh quàng khăn đỏ quyết tử, môi ngậm thuốc lá, chõ súng lên giời bắn một phát để thị oai.
Thấy ba người từ phía cửa đi vào, đại đội trưởng Chương hỏi:
— Lúc nãy các cậu bắn xe gíp phải không?
— Vâng. - Nhã đáp - Buồn cười quá, nó chạy thụt lùi như chiếc pháo chuột.
— Các cậu bắn nhau với nó ở cửa trước à?
— Nó bắn là chính, chúng tôi chỉ bắn được mấy phát.
— Rất hay, có các cậu đánh nó ở phía này, bọn mình mới ập vào phía sau dễ dàng. Địch hoàn toàn bất ngờ. Tại sao các cậu nghĩ ra cách vòng ra phía trước nghi binh?
— Vì chúng tôi không trèo được qua tường phía sau nên phải vòng ra phía trước. Các anh làm cách nào mà trèo qua tường?
— Mình đã nói với các cậu lúc chiều, công kênh nhau., trèo lên vai nhau mà vào.
Ba thằng chúng tôi quên lú đi mất.
— Nhưng các cậu vòng ra đằng trước lại hay hơn...
Giữa lúc ấy, Tôn Chỉ quát to:
— Đồng chí nào giữ cờ của tiểu đội 2, treo lên ngay!
— Em đây! - Bính đáp - Treo ở chỗ nào?
Tôn Chỉ nhìn quanh rồi trỏ lên nóc nhà.
Chương quay sang nói với Nhã:
— Lần sau mình phải nghiên cứu cách cài vào lá cờ một quả lựu đạn. Thằng nào trèo lên hạ cờ xuống thì sẽ mất mạng.
Bính đi vòng quanh ngôi nhà một lát. Anh dừng lại bên đường ống máng, buộc lá cờ vào cổ, rồi bắt đầu leo lên thoăn thoắt.
Bính đã ở sát mái nhà. Anh tháo lá cờ quấn quanh cổ. Lá cờ tung bay phần phật trong tay anh. Bỗng một phát súng nổ. Bính rời tay khỏi ống máng rơi thẳng xuống đất như một con chim lửa. Nhiều người kêu thét lên.
Phong lao lại ôm lấy Bính. Thân hình Bính mềm nhũn. Anh đã hy sinh!
Chương quát to:
— Lùng nhanh xem thằng nào bắn!
Những toán người hò hét, chạy xô ra khắp nơi. Một số người chạy ra cổng, sang hẳn bê kia đường tìm kiếm. Họ không tìm thấy bóng thủ phạm. Có thể là một tên Pháp nào nấp ở "Hôtel des cdonies" hoặc ở Nhà Thờ bắn sang. Không có cách nào để tìm ra nó ngay lúc này.
Tôn Chỉ lầm lì đến nhặt lá cờ lên. Anh nhìn con đường ống máng. Anh rũ sạch bụi đất dính vào lá cờ, quàng vào cổ. Anh nói:
— Tôi mà ngã thì các đồng chí tiếp tục.
Anh chậm chạp leo lên ống máng. Đôi giày đinh làm cho chân anh bám khôn chắc những gờ ống. Anh phải dùng chủ yếu đôi tay để bám chặt lấy ống máng. Mọi cặp mắt không còn tập trung theo dõi người treo cờ như ban nãy. Nhiều người chĩa sẵn nòng súng về những ngôi nhà ở phía trước, sẵn sàng nhả đạn khi thấy xuất hiện một tia lửa.
Tôn Chỉ buộc xong lá cờ trên mái nhà. Lá cờ nhuốn ánh lửa hồng, đỏ tươi như máu. Động tác của anh rất chậm chạp. Anh từ từ tụt xuống cũng như khi leo lên. Khi anh xuống tới mặt đất, mọi người mới thở phào nhẹ nhõm. Mấy người cùng chạy ra ôm lấy anh.
Để trả thù cho Bính, họ ném lựu đạn vào mấy căn buồng tối om, nơi họ nghi có những tên địch ẩn nấp và đập một chai cháy đốt chiếc xe gíp nằm ở góc sân.
Phong và Nhã thay nhau cõng Bính về.
Không ai biết gia đình Bính. Bính cũng như nhiều thanh niên niên khác ở những khu phố chung quanh sau khi nổ súng đã kéo nhau vào bên trong chiến lũy và tự động đứng vào hàng ngũ tự vệ.
Về tới vườn chuối, một chiến sĩ quyết tử cởi lá cờ đỏ quàng trên cổ, khâm liệm cho Bính. Tuyết Mai vuốt mắt, vuốt tóc cho anh, rồi bỗng ôm chầm lấy thi hài anh khóc nức nở.
Nước mắt Phong ứa ra. Thế là anh đã mất đi một người bạn đồng đội. Bính chắc cũng có một người mẹ và những người em như anh đang mỏi mắt trông chờ. Anh đến tiểu đội và ra đi không để lại một dấu vết. Các anh đã có thêm một mối thù phải thanh toán với quân cướp nước.
Gió mùa đông lạnh lẽo ù ù như một bản nhạc Chiêu hồn tử sĩ. Tiểu đội bắn ba phát súng để vĩnh biệt người đồng đội.
Vừa chôn cất Bính xong thì nghe tiếng xe tăng địch ầm ầm. Rồi tiếng súng lớn, súng nhỏ của địch bắn như mưa như gió. Những luồng đạn như những sợi dây lửa đan nhau trên đầu họ. Mảnh đạn rơi lộp bộp trên những tàu lá chuối.
Họ rút nhanh theo con đường chạy luồn trong những ngôi nhà. Trận đánh thắng to. Ta diệt được một số địch, thu được một khẩu trung liên, hai khẩu tiểu liên và một số đạn, nhưng Phong cảm thấy lòng nặng trĩu.
Chiếc áo bảo vệ chống sức ép đạn moóc-chi-ê của Tuyết Mai bắt đầu gây phiền toái. Trời tuy đang mùa đông như các chiến sĩ luôn luôn phải vận động, nhiều úc ra mồ hôi. Nước đã mất cùng một lúc với điện thành phố. Nguồn nước chỉ còn trông vào một số bể chứa ở các gia đình và một số giếng nước rất hiếm hoi. Nước được dành ưu tiên để uống và nấu ăn, không phải cho tắm giặt. Mồ hôi thấm dần vào mền bông khiến nó trở nên chua lòm và làm cho họ ngứa ngáy. Một hôm, Phong tháo cái mền bông lót ngực ra xem. Anh giật mình nhận thấy những chú rận trắng to kềnh. Trứng rận lấm tấm đầy miếng vải màn. Chắc chắn là còn những con rận khác lẩn sau lớp bông dày. Tuyết Mai bàn ngâm vào nước sôi. Phong thấy tốt nhất là nên vứt nó đi. Vì trong hoàn cảnh hiện nay, họ không có cách nào giữ vệ sinh tốt. Nếu cứ áp tấm mền bông ở ngực thì tiêu diệt hết lớp rận này sẽ có tiếp lớp rận khác.
Cô y tá dịu dàng, chăm chỉ và ngây thơ đã gây cho Phong nhiều cảm tình. Trước kia ở cùng nhà, Phong ít khi chú ý đến cô gái. Cô âm thầm, mờ nhạt như một cái bóng, lặng lẽ bên cạnh người chị lúc nào cũng hoạt bát, sôi nổi. Không biết vì sao cô đã đi theo họ? Hành động này ở cô gái là một sự vùng dậy, một sự phản kháng. Lúc đầu, Phong ngờ cô có cảm tình với Nhã. Nhưng rồi saúit ngày cùng sống trong tiểu đội, nhất là từ lúc nhìn thấy cô vuốt mắt, vuốt tóc Bính và ôm chầm lấy xác Bính khóc nức nở, Phong không nghĩ như vậy nữa. Cô gái yêu thương tất cả mọi người. Ở trong tiểu đội, Tuyết Mai giống như một cô em gái ngoan, một người chị hiền. Mai sẵn sàng nhường phần cơm mình cho người khác khi cơm lĩnh về thiếu một suất. Mai ôm từng đống quần áo không biết của những ai thay ra, còn bỏ đó, đem đi giặt. Những bộ quần áo chẳng sạch sẽ gì. Mai biết tính nết của từng người, biết cả những thứ đồ dùng của những anh chàng hay lơ đãng và nhắc cho họ nó đang nằm ở xó xỉnh nào mỗi khi họ cuống quýt đi tìm. Mai không dám mạnh tay vì sợ làm cho họ đau khi chăm sóc vết thương. Mai không nề hà sự bẩn thỉu, hôi hám. Mỗi buổi họ đi chiến đấu về, Mai lo lắng trông chờ cho đến khi người cuối cùng trong tiểu đội đã có mặt. Căn phòng xa lạ ở trường học, có Mai, đã trở thành một nơi ấm cúng. Đi chiến đấu về gặp Mai, họ có cảm giác như gặp lại người trong gia đình.
Một buổi, Phong nói với Mai:
— Đi đâu tôi cũng để mắt tìm chị Lan và anh Năm cho cô, nhưng tìm mãi chẳng thấy đâu!
Mai ngước lên nhìn Phong, rồi chớp mắt cúi xuống và nói:
— Anh đừng tìm nữa!
— Tại sao vậy?
— Chị Lan và các anh ấy đã ra ngoài.
— Vì sao cô biết?
— Em biết...
Mai chỉ nói thế rồi im lặng.
Biết Mai không muốn nói thêm, Phong hỏi:
— Vì sao cô ở lại đây một mình?
— Gia đình em ở Sài Gòn tan nát cả rồi, tan nát vì giặc Pháp. Em không muốn đi theo anh Năm. Anh Năm đã có gia đình ở Hải Phòng. Em muốn sống một cuộc đời tự lập. Chị Lan ngăn không cho em tham gia công tác. Kháng chiến là một dịp để em sống theo ý muốn của mình.
Phong lại tò mò hỏi:
— Cô không sợ bom đạn à?
— Sợ... Sợ hay không sợ cũng chẳng được. Khắp Nam Bộ đâu đâu cũng là bom đạn. Khắp Bắc Bộ bây giờ cũng vậy. Trốn vào đâu? Cuối cùng, ai cũng phải chọn một chỗ. Em chọn chỗ... Ở với cácanh.
Sau trận đánh nhà Moóc-li-e, Chương được điều về tiểu đoàn. Trong những cuộc săn Tây hàng ngày, họ không đi cả tiểu đội nữa, mà đi từng tổ nhỏ. Nhã vẫn đi với Phong. Những lúc Nhã bận, trên thường giao cho Phong dẫn tổ đi.
Ngày hôm trước, Phong vừa lập được một chiến công mới. Tự vệ đã rút khỏi phố Nhà Thờ lớn nhưng địch không đóng quân ở đây. Đường phố này chiều dài không quá trăm mét. Hai vọng gác ở nhà Moóc-li-e và Nhà Thờ lớn đủ để kiểm soát chặt chẽ cả con đường. Biết tình hình như vậy, Phong và một người bạn đã đục tường mò ra ngôi nhà đầu phố, nằm bên ngoài chiến lũy. Anh leo lên gác, chõ nòng súng trường qua một khe cửa, ngồi chờ. Một chiếc xe gíp từ nhà Moóc-li-e chạy ra, trên chở hai viên sĩ quan. Tên lính Pháp đứng gác ở Nhà Thờ cẩn thận bắn một loạt tiểu liên lên những chỗ hàng ngày hắn vẫn thấy hỏa điểm của ta xuất hiệnChờ chiếc xe rẽ ngoặt về phía phố Nhà Chung, Phong nổ súng liền hai phát. Mục tiêu của anh lần này rút ngắn được gần một nửa. Anh giương to mắt chờ kết quả. Chiếc xe đang chạy thẳng bắt đầu chạy ngoằn ngoèo rồi đâm lên hè và dừng lại. Một thằng Tây, chỉ còn một thằng nhảy vội từ xe xuống, lao đầu vào trong một căn nhà để tránh đạn của ta bắn tiếp theo. Địch nã súng sang như mưa. Nhưng chúng không hề bắn vào ngôi nhà mà Phong đang ẩn nấp.
Sáng nay, Phong và Nhã lại kéo nhau ra ngôi nhà này. Họ chờ mỏi mắt vẫn không có chiếc xe nào chạy qua.
Buổi trưa, họ nghe tiếng súng lớn, nhỏ nổ dữ dội phía cuối Hàng Bông. Súng nổ kéo dài đến qua hai giờ chiều. Những triệu chứng khác thường làm cho họ sốt ruột. Trường Gia Long, nơi họ ở, cũng nằm kề Hàng Bông. Họ định chờ thêm lát nữa, nếu không có địch, sẽ quay về nhà. Phong cảm thấy bồn chồn, bảo Nhã:
— Cậu nằm đây, mình quay vào hỏi thăm xem tình hình ra sao.
Vừa tới đầu Ngõ Huyện, Phong gặp một anh mặc quần áo công an, nét mặt nhớn nhác:
— Đồng chí có đóng ở trường Gia Long không?
— Có.
— ở đây còn ai nữa không?
— Còn.
— Gọi tất cả anh em về ngay. Tây đang đánh vào trường.
Phong hớt hải quay ra gọi Nhã. Hai người cùng lật đật quay về. Phong nghĩ đến Mai. Thường thường những buổi trưa, trung đội chỉ còn mấy cô cứu thương ở lại nhà trường.
Tới đầu Ngõ Huyện, họ gặp một đám người, tự vệ, công an, bộ đội từ phía phố Hàng Bông ùn ùn kéo về.
Nhã hỏi một anh bộ đội đeo phù hiệu sao vàng vành trắng:
— Đánh nhau ở trường phải không đồng chí?
— Địch chiếm trường Gia Long rồi. Đồng chí ở đơn vị nào?
— Trung đội chúng tôi đóng ở trường Gia Long.
— Không đến đó được nữa! Bố trí giữ lấy Ngõ Huyện. Mẹ cha mấy thằng ở phố Hàng Bông, đánh đấm thế nào để vỡ mặt trận! Xe tăng của nó thọc ngay vào nách mình.
Đám người lũ lượt kéo qua. Còn lại hai người đứng nhìn đường phố Phủ Doãn vắng tanh.
Một anh tự vệ đầu không mũ, chân đi đất, ống quần rách bươm, cầm trong tay một quả lựu đạn, lần theo mép đường, tập tễnh đi lại.
Phong chạy đến hỏi:
— Đồng chí làm sao thế?
— Mình nhảy từ ban công xuống, bị trẹo chân. Việt gian đưa Tây mũ đỏ thọc vào sân sau, chẳng còn cách nào.
— Trường Gia Long còn không?
— Tây mũ đỏ đóng đầy rồi. Xe tăng nó đang kéo đến ùn ùn. Vào Ngõ Huyện đi thôi. Nó ập đến bây giờ!
Họ chỉ có hai người với hai khẩu súng trường làm sao đối chọi được với xe tăng và rất đông Tây mũ đỏ? Nhã và Phong cùng với anh tự vệ đi vào Ngõ Huyện.
Bộ đội, tự vệ đang chiếm lĩnh những vị trí bắn trên những ngôi nhà ở đầu ngõ. Lực lượng của ta dồn lại khu vực này khá đông. Nhã và Phong đi quanh quẩn trên những con đường ngang, dọc trong ngõ, xem có gặp người nào trong tiểu đội. Họ mong nhất là gặp lại Mai. Họ đi mãi vẫn không thấy bóng dáng một ai. Cả tiểu đội, trung đội của họ đã biến đi không còn dấu vết. Phong nghĩ đến cặp mắt Đức Bà dịu hiền của cô gái. Nếu bây giờ nhìn thấy cô, Phong sẽ ôm chầm lấy cô mà hôn lên vầng trán.
Anh bàn với Nhã:
— Tìm nhà nào cao, leo lên quan sát xem sao!
— Sáng kiến hay.
Họ nhìn quanh quẩn thấy gần đó một ngôi nhà hai tầng, có sân thượng.
Cánh cửa sát vẫn để ngỏ. Nhà không có người. Mọi căn buồng đều khóa ngoài. Chủ nhà chắc đã tản cư từ lâu. Đường cầu thang từ nhà dưới lên gác thượng vẫn thông. Chắc đây cũng là một đài quan sát của tự vệ phố.
Hai người trèo lên sân thượng. Nhã bật tiếng kêu:
— Trời ơi!
Trước mặt họ là phố Chân Cầm, một phố ngắn ở giáp Ngõ Huyện. Xe bọc thép, xe tăng và binh lính địch rải đầy suốt dọc phố. Một chiếc xe bọc thép của địch không hiểu vì sao đã đâm đầu xuống hố. Cái làm cho họ kinh ngạc và lo lắng không phải là quân địch mà là đám người đông như kiến đang tụ đầy trong sân sau của một ngôi nhà nằm giữa phố này. Chắc là dân từ phố Hàng Bông dồn về. Phần lớn là những người đứng tuổi, cả đàn ông, đàn bà. Nhiều em nhỏ. Có cả những anh tự vệ, những chiến sĩ Vệ quốc quân. Dân ngồi ken nhau trên sân. Bộ đội và tự vệ cầm súng đi chung quanh.
Số người này chỉ cách quân địch một gian nhà, có thể chỉ là sau một cánh cửa. Nếu bây giờ một tên địch nào đứng trên đường kia tò mò nhìn qua khe cửa...? Bộ đội và tự vệ sẽ chiến đấu để bảo vệ dân. Nhưng chắc chắn sau đó là một cuộc thảm sát. Họ không có hầm hố hoặc công sự che chở. Một số Vệ quốc quân và tự vệ thành không thể nào đương đầu với xe bọc thép, xe tăng! Một viên đạn có thể xuyên táo qua mấy người.
Từ đây, với hai khẩu súng trường và vài chục viên đạn, họ có thể làm gì, nếu chuyện đó xảy ra? Và chuyện đó dường như chắc chắn sắp xảy ra. Địch không thể không nghe thấy những tiếng động của gần một ngàn con gnười chỉ ở cách chúng không quá chục mét. Có thể báo tin cho bộ đội và tự vệ trong Ngõ Huyện biết tình hình này để giải cứu cho họ không? Các anh đã biết rõ khả năng của những đơn vị ở đây. Các đơn vị đó cũng giống như trung đội anh, hầu hết là những người dân vừa tập hợp lại, người có súng, người không có súng. Không thể tổ chức dàn trận đánh với một đoàn quân địch đông đảo như thế kia, lại có cả xe tăng, xe bọc thép, ban ngày trên đường phố. Một vài phát súng nổ lẻ tẻ lúc này chỉ làm kích động bọn lính Pháp. Chúng sẽ chú ý và phát hiện ra đám người nằm lọt trong vòng vây của chúng... Họ sẽ phải khoanh tay chứng kiến cảnh thảm sát. Họ sẽ phải nhìn một biển máu, máu đồng bào, đồng chí của mình.
Bây giờ chỉ còn cách nín thở chờ cho những giờ phút nguy hiểm nay qua đi.
Trên đường phố Chân Cầm, một chiếc xe bọc thép của địch đang tìm cách kéo chiếc xe bọc thép bị sa hố lên. Một chiếc xe tăng trấn giữ đầu phố, vươn nòng pháo kiểm soát dọc con đường Phủ Doãn. Bọn lính địch dàn ra canh gác hai bên đường. Những tốp lính địch không biết làm gì, chạy ngược chạy xuôi.
Khu phố Ngõ Huyện nhỏ bé đã bị cắt khỏi Liên khu I.
Chỉ có bóng đêm sẽ cứu thoát những người ngồi kia. Kinh nghiệm cho biết là quân địch thường không dám ở lại ban đêm tại những phố chúng vừa chiếm được.
Nắng chiều vẫn điểm vàng pho tượng Đức Mẹ bồng Chúa Hài đồng đứng trước Nhà Thờ lớn. Phong hết nhìn đám người ngồi ở phố Chân Cầm lại nhìn pho tượng Đức Mẹ. Anh chỉ còn có một mong ước: ánh sáng vàng trên pho tượng chóng nhạt dần và tắt đi, màn đêm buông xuống.
Quân địch đã trục được chiếc xe bọc thép sa hố, kéo đi. Nhưng binh lính của chúng và xe tăng vẫn chưa rời phố Chân Cầm.
Trái đất như ngừng quay.
Cuối cùng, pho tượng Đức Mẹ đã trở thành một bóng đen đứng chơ vơ trên sân Nhà Thờ lớn màu chì.
Những tên địch rút đi vội vã như chạy trốn bóng đêm.
Nhã và Phong rời ngôi nhà gác.
Theo lệnh của khu, toàn bộ các đơn vị vũ trang và nhân dân ở Ngõ Huyện phải chuyển về bên kia phố Hàng Bông, tiếp tục chiến đấu bên trong những chiến lũy còn chưa bị địch phá vỡ.
Phong lầm lũi đi giữa đoàn người dài dằng dặc, số đông và dân chúng. Phía trước anh, một cặp vợ chồng lớn tuổi cùng khiêng một chiếc va li khá nặng. Người chồng đội mũ phớt, đeo kính trắng, lộp cộp đôi giày da, ăn mặc rất sạch sẽ. Người vợ đầu trùm khăn nhung đen có tua, áo len dài tay mặc ngoài áo dài, vừa đi vừa luôn mồm than vãn: "Người ăn người làm, toàn những quân phản chủ!... Đối xử với chúng nó như thế mà đến lúc này chúng nó bỏ mình...", "Không biết còn kéo đến bao giờ!... Hôm nay bảo sắp xong, ngày mai lại bảo sắp xong...", "Con giai đi! Con gái đi!... Bỏ mặc cha, mặc mẹ như thế này đây!...". Ông chồng im lặng, hình như đang nghiến chặt răng để dồn sức khiêng một đầu va li. Hai vợ chồngnày cũng giống như khá đông dân phố, tin rằng cuộc xung đột quá lắm chỉ kéo dài vài ngày, Cụ Hồ sẽ điều đình, thành phố sẽ yên hàn hoặc nhì nhằng như trước kia. Họ không tin hoặc không muốn tin vào lời kêu gọi cả nước kháng chiến của Cụ Hồ mà các đội tuyên truyền đã đọc ra rả nhiều lần trong khu phố. Họ cho rằng đây là ta làm găng với quân địch, cho nó sợ, nó phải điều đình với ta. Những anh tự vệ như Phong cũng góp phần củng cố sự lạc quan của họ. Hàng ngày, các anh nói với họ toàn tin chiến thắng: Xanh-tơ-ny suýt bị bắt, Moóc-li-e suýt chết, hàng trăm Tây mũ đỏ bị tiêu diệt trong một chiếc hầm ngầm, diệt năm xe tăng, ba xe tăng ở chỗ này, chỗ nọ và rất đong bộ đội ở các tỉnh đang lũ lượt kéo về Hà Nội, vv Ngay bản thân Phong cũng tin là cuộc chiến đấu này sẽ chấm dứt nay mai, ta đánh địch chỉ để bày tỏ quyết tâm kháng chiến, địch đánhta không lấy gì làm quyết liệt lắm, hơn mười ngày rồi chúng vẫn chưa đụng đến cái chiến lũy không lấy gì làm vững chắc của các anh ở phố Lý Quốc Sư...
Phong thấy thương cặp vợ chồng già đi phía trước. Đây là hình ảnh của mẹ anh, cha anh, nếu cha anh còn sống. Cả gia tài của gia đình này còn dồn lại trong một chiếc va li. Nhà Phong cũng nuôi một người ở gái. Khi gia đình Phong tản cư thì người ở bỏ đi. Anh cũng giống như con cái ông bà đứng tuổi này, đã để mẹ, cha ở lại, đi theo kháng chiến. Nếu gia đình anh còn ở Hà Nội thì đêm nay, cái cảnh này cũng diễn ra với mẹ và các em anh. Khi phải chui qua những lỗ đục tường, Phong và Nhã giúp cặp vợ chồng già chuyển chiếc va li qua. Mỗi lần như vậy, ông chồng lại cười như mếu, lắp bắp: "Méc-xi... Méc-xi biêng" .
Lần thứ hai, Phong tham dự một cuộc rút lui. Từ ngày nổ súng, Phong đã nghe nói tới nhiều cuộc rút lui. Bộ đội, tự vệ những khu phố khác đã rút ra các cửa ô. Bộ đội, công an, tự vệ ở Bắc Bộ Phủ, Tòa Thị chính, Nhà đèn, Nhà Bưu điện Bờ Hồ rút cả về Liên khu I. Rồi chính các anh ở Liên khu I cũng đang rút sâu vào bên trong. Cuộc rút lui này còn kéo dài đến bao giờ? Họ còn bao nhiêu đường đất để rút lui?...
Một đường phố nằm ngang trước mặt. Phong tưởng đã tới phố Hàng bông nhưng nhận ra đó mới là phố Chân Cầm, nơi đã diễn ra cái quang cảnh làm cho tim anh thắt lại suốt buổi chiều. Đường phố ngắn, hiền lành, hai dãy nhà cửa đóng kín, chẳng ghi lại chút gì của cơn biến cố chiều nay. Thực ra, ngoài chiếc xe bọc thép địch bị sa hố, chẳng có chuyện gì ghê gớm đã diễn ra ở đây! Chắc anh sẽ còn gặp lại những cảnh này, những cảnh bình thường trong một cuộc chiến không được sử sách nào ghi lại. Những cảnh có thể làm người đứng tuổi bạc đầu. Hình ảnh ghê gớm chiều nay tan đi như một cơn ác mộng.
Một bóng người nhỏ bé đứng bên hè, lao tới bíu lấy hai vai Phong. Người bé nhỏ đó gục đầu vào gnực anh. Một tiếng reo nghẹn ngào đầy nước mắt:
— Anh Phong!
Phong đã nhận ra tiếng nói của Tuyết Mai. Phong buông rơi cây súng trường, ôm lấy cô. Hai bàn tay anh đặt lên một chiếc ba lô căng phồng trên vai Mai. Phong áp môi trên mái tóc ướt nước mưa của cô gái, và thấy những hạt nước mắt ấm nóng của cô đang nhỏ xuống cổ mình.
Nhã từ trong nhà bước ra sau Phong, kêu lên:
— Cô Mai!
Tuyết Mai rời Phong, rồi lại lao đến ôm lấy Nhã.
Phong hỏi:
— Sao Mai lại đứng một mình ở đây?
— Em đứng chờ các anh.
— Từ bao giờ?
— Từ lúc những người trong Ngõ Huyện rút ra.
— Sao cô lại ở đây?
— Tây đánh vào trường. Chỉ còn ba đứa con gái chúng em ở nhà, mỗi đứa chạy mỗi nơi. Em ra đường gặp những người ở Hàng Bông đổ về. Em theo họ chạy về đây.
Như vậy là Mai cũng ở trong đám người Phong nhìn thấy tập trung trong sân sau ngôi nhà ở phố này chiều nay.
— Em có biết Tây qua lại phía ngoài không?
— Biết...
Phong hiểu là cô gái đã trải qua những giờ phút khủng khiếp như thế nào.
Nhã nhìn Mai đeo các thứ đầy người như một con ngựa thồ: ba lô, túi du lịch, xắc cứu thương, nói:
— Cô đưa cái ba lô cho tôi và cái túi du lịch cho anh Phong... Từ đây đi là phải chui suốt.
Tuyết Mai chần chừ rồi tháo chiếc ba lô đưa Nhã, Nhã đón chiếc ba lô kêu lên:
— Trời! Những gì mà nặng thế này?
— Quần áo các anh để lại. Có cả quần áo của anh và anh Phong. Em vơ nhét vội cả vào chiếc ba lô này... Các anh kia đâu?
Những người dân đang tiếp tục kéo qua, vượt sang bên kia đường. Đến lượt họ ngạc nhiên. Phong hỏi:
— Cô chưa gặp ai à?
— Chưa thấy một ai trong tiểu đội mình.
Sau cuộc rút lui lần trước, tiểu đội của họ vắng gần một nửa. Chả lẽ đến cuộc rút lui lần này, tiểu đội lại chỉ còn có ba người?
Nhã nói:
— Đi thôi! Sang bên kia rồi lại gặp nhau tất cả.
Phong nhặt khẩu súng rơi trên vỉa hè. Một lần nữa anh muốn ôm hôn cô gái.
Bên kia đường phố, có tiếng nói của một người phụ nữ:
— Mấy đồng chí bộ đội mau chân lên! Đến Hàng Bông phải vượt nhanh qua đường. Giữ bí mật! Không ai ở lại lâu trên đường phố.
Giọng nói nhẹ nhàng nhưng vẫn ra giọng nói của một người chỉ huy. Giọng nói này quen quen. Phong có nhớ xem người vừa nói đó là ai.
Nhã giục:
— Đi!... Bà "déc xê" đến kia rồi!
Phong đã nhớ ra, đó là chị khu phó của khu này mà anh đã gặp tối hôm trước.
Một câu hỏi từ chiều đến giờ thỉnh thoảng lại vấn vương trong đầu anh: Có phải là do việc làm của anh ngày hôm qua, bắn trúng chiếc xe gíp chở mấy tên sĩ quan từ Nhà Moóc-li-e chạy ra, mà bọn địch đã tổ chức một cuộc đánh lớn vào khu vực này?... Anh không dám trao đổi với Nhã điều băn khoăn đó. Nếu đúng như vậy, anh sẽ chịu trách nhiệm về chuyện ta phải rời bỏ khu Ngõ Huyện tối nay. Và nêu lên câu hỏi đó có khác nào đề cao việc làm của mình, một việc đã gây kinh động cho quân địch đến nỗi chúng phải tổ chức cả một cuộc hành binh lớn để đối phó. Vả lại, anh cũng chỉ mới biết có hành động của riêng mình. Trong một ngày, có biết bao nhiêu cây súng ở khu vực này đã nhắm vào những chiếc xe, những tên địch! Biết đâu họ đã chẳng làm nên những việc to tát hơn anh rất nhiều...