Sau ngày ngừng bắn, tình hình tại Liên khu I lắng dịu.
Có lẽ địch chưa biết gần một nửa lực lượng vũ trang của ta đã rút ra khỏi thành phố. Chúng phải chuẩn bị thêm cho đòn tối hậu giáng vào đội quân mà chúng đánh giá là đã lâm vào tình trạng tuyệt vọng nhưng vẫn chiến đấu như những con sư tử. Thêm nữa, bộ đội ta ở các đầu ô đánh mạnh để hỗ trợ cho những người còn chiến đấu trong vòng vây, khiến cho địch không rảnh tay. Mặt khác viện binh của địch chưa sang thêm được bao nhiêu, chúng chưa củng cố xong con đường huyết mạch nối liền Hà Nội với Hải Phòng, chúng chưa giải vây được cho toán quân Pháp từ ngày nổ súng đến giờ vẫn bị vây hãm tại thành phố Nam Định, những lực lượng còn còn hạn chế của địch đang phải căng ra khá nhiều nơi.
Những người chiến đấu ở Liên khu I cảm thấy trống trếnh hơnVì số người rút bớt nên phạm vi bảo vệ của mỗi đơn vị thêm rộng ra. Dân chúng trước kia tuy không trực tiếp chiến đấu nhưng là tai mắt của họ ở khắp nơi, khuôn luôn thông báo kịp thời sự xuất hiện hoặc những triệu trứng khác thường của quân địch. Và dân chúng chính là chỗ dựa về tinh thần, về tình cảm của họ. Liên khu I không còn là một khu dân cư ở Hà Nội mà đã trở thành một đồn binh bị bao vây bốn bề.
Phố Hàng Thiếc, đơn vị Phong phụ trách, chỉ cách thành Hà Nội, nơi có hàng ngàn quân Pháp đóng, không đầy hai trăm mét. Phố Hàng Bút và phố Hàng Cót ở tiếp giáp, cách họ vài chục mét, gần như đã bị quân Pháp chiếm giữ. Đại đội từ trước vốn chỉ có hai trung đội, sau ngày rút quân, còn bốn tiểu đội, chia nhau đóng trên những ngôi nhà gác án ngữ những con đường địch có thể đánh tới, tạo thành một tuyến ngăn chặn. Cũng từ những ngôi nhà này, họ nhắm bắn quân địch di chuyển dọc đường Hàng Bút, Hàng Cót.
Trưa hôm đó, Phong và Mai ngồi nói chuyện với chính trị viên ở dãy nhà phía sau được bố trí cho những người không trực tiếp chiến đấu. Chính trị viên hay tâm sự với mọi người về chuyện gia đình. Gần đây, Phong bắt đầu tò mò muốn tìm hiểu xem người cán bộ này đã đi theo con đường nào đến với cách mạng, để trở thành một cấp chỉ huy trong quân đội. Anh rất ngạc nhiên vì Linh, người chỉ huy có bộ mặt sáng sủa, trắng trẻo này lại là người nông thôn và mới chỉ học hết lớp nhì. Linh nói gia đình mình có hơn một mẫu ruộng, trước kia cũng tạm đủ sống, nhưng từ ngày bọn Nhật bắt trồng đay thì hai anh em anh đều phải thôi học, rời bỏ làng ra đi. Một người bác họ đã kiếm được cho hai anh em ở một xưởng thuốc lá mang tên Tây nhưng do người Việt làm chủ. Lương tháng mỗi người sáu đồng. Hai anh em mùa đông cũng như mùa hè mặc chung ba bộ quần áo. Họ chỉ thuê được hai phần ba cái giường trong một căn nhà ở phố Nhà Thương chórộng mười mét vuông mà có tới bốn chủ ở. Làm việc hơn một năm, thấy không thể sống nổi, người anh bỏ ra mỏ. Linh ở lại Hà Nội, định chuyển sang nghề khác là đi lính cho Nhật. Dạo đó, quân đội Nhật đang tuyển người Việt vào lính. Linh đem ý định này nói với bác công nhân già, người đã có lòng tốt nhường lại cho anh em Linh hai chỗ nằm trên chiếc giường bác đã thuê được trong ngôi nhà. Bác khuyên Linh dù có khổ cực đến đâu cũng không nên đi lính cho Nhật, cuộc sống nay mai sắp đổi thay. Sau đó bác tuyên truyền cho Linh về Việt Minh. Việt Minh là những người đang đánh Pháp đuổi Nhật để mang lại độc lập cho đất nước. Linh nghe chuyện rất thích vì bác là người đầu tiên mang đến cho anh niềm hy vọng về một cuộc đời tốt đẹp trong tương lai. Bác hỏi Linh có muốn theo Việt Minh không. Linh trả lời rất muốn. Một buổi, bác hẹn Linh đến đê La Thành gặp một người mặc quần xanh, sơ mi trắng, cầm trng tay một tờ báo, người này sẽ giao công tác cho anh.
Công tác đầu tiên của Linh là rải truyền đơn trong nhà máy, dán báo Cứu quốc ở nơi đông người qua lại. Sau đó, Linh được trao những nhiệm vụ khó khăn hơn, là bảo vệ cho các đội tuyên truyền xung phong diễn thuyết. Linh đã nhiều lần cầm súng đứng chặn ở cửa rạp Quảng Lạctrong khi các bạn anh đeo mặt nạ, chiếm sân khấu, giới thiệu với người xem về điều lệ Việt Minh. Linh là người đã cõng một em thiếu niên giơ cao lá cờ đỏ sao vàng, chạy khắp quảng trường Nhà hát lớn trong lúc những viên chức của chính quyền thân Nhật Trần Trọng Kim tổ chức mít tinh ngày 17 tháng Tám năm 1945. Bác thợ già tuyên truyền giác ngộ cho Linh về Việt Minh chính là người đã cắm lá cờ đỏ sao vàng trên dinh Bắc Bộ phủngày Hà Nội khởi nghĩa cướp chính quyền...
Qua những câu chuyện của Linh, Phong thấy những người cách mạng mà trước kia anh chỉ mới nhìn từ xa với cặp mắt kính trọng, nay trở nên gần gũi. Anh đã có mặt trong khi Việt Minh tuyên tryền ở rạp Quảng Lạc. Anh đã có mặt trong cuộc mít tinh ngày 17 của những viên chức Trần Trọng Kim; hôm đó anh đã rất ngạc nhiên, không hiểu vì sao những lá cờ Việt Minh có thể bay lượn giữa biển người. Anh cũng đã nhìn thấy bác công nhân già mảnh dẻ, mặc quần áo xanh, leo lên nóc dinh Bắc Bộ phủ cắm lá cờ đỏ sao vàng trong lúc những anh tự vệ nhảy qua rào, tay không chạy tới đoạt súng của những tên lính bảo an...
Những con người đó hiện đang có mặt bên anh trong cuộc chiến đấu bảo vệ Hà Nội. Thì ra họ là những người đã giành thành phố này từ trong tay quân Nhật và hôm nay đang chiến đấu dể bảo vệ thành phố.
Bữa nay Linh yêu cầu Phong kể chuyện gia đình mình. Phong cảm thấy kho nói. Gia đình anh không sung túc gì trong cuộc sống. Nhưng riêng anh thì gặp nhiều may mắn hơn Linh. Phong được học hết trung học. Phong không đến nỗi thiếu ăn, thiếu mặc. Và điều đáng xấu hổ là khi những người như Linh làm việc cho dân cho nước thì Phong sống một cuộc sống bàng quan, và nếu không vì những sự tình cờ run rủi, ngày hôm nay Phong đã không có mặt trong cuộc chiến đấu này. Phong thèm một cuộc đời như Nhã. Nếu được như vậy, chắc anh sẽ rất hào hứng kể lại cho chính trị viên nghe. Và ngay từ ngày nổ súng đến giờ, cũng đã có khá nhiều chuyện anh có thể kể cho những người như Lượng, như Nhã, kể cả Tuyết Mai, cô con gái có cặp mắt Đức Mẹ đang chăm chú nhìn anh, nhưng anh vẫn không thể kể cho Linh.
Phong biết Linh, với cương vị một chính trị viên, phải tìm hiểu về cuộc sống trước đây của đội viên. Anh đang gắng gượng nói với Linh một cách nhạt nhẽo về gia đình mình thì nghe tiếng súng nổ lẻ tẻCó thể là những cây súng bắn tỉa của đại đội đang hoạt động vì thấy một tốp lính địch đi tuần dọc phố Hàng Bút.
Những chuyện đó vẫn xảy ra thường ngày.
Có tiếng chân người chạy huỳnh huỵch từ nhà trên xuống.
Một người như con lợn vừa sổng chuồng lao vào chỗ họ ngồi. Đại đội trưởng Vĩnh không hiểu sao tóc ướt đẫm, người trần như nhộng. Người anh béo và thô, ở vào tình trạng này trông vừa khó coi vừa buồn cười.
Vĩnh la:
— Tây đến rồi! Làm ăn như cái cứt! Báo động! Chuyển đại đội bộ ngay!
Mọi người bật đứng dậy. Không biết bọn Tây làm cách nào vào lọt chỗ họ.
Vĩnh lại la:
— Tây chiếm nhà 17 rồi!
Nhà 17 ở giáp đầu phố Hàng Chỉ là nơi các nhân viên đại đội bộ chọn làm ổ tác chiến. Ban chỉ huy đại đội ở phía sau ngôi nhà này.
Tuyết Mai chạy vào buồng, ném ra cho Vĩnh một chiếc quần lót. Về đây, cô vẫn giữ thói quen giặt giũ quần áo giúp những người quá bận bịu.
Vĩnh xỏ vội chiếc quần vào người. Cái quần quá chật, không che được chiếc bụng to của đại đội trưởng.
Linh ra lệnh:
— Chỉ mang theo vũ khí... Thuốc men, gạo nước, những thứ khác tạm để đó. Anh em trinh sát, liên lạc ở đại với tôi chặn quân địch. Đại đội bộ di chuyển sang vị trí của trung đội 2...
Bọn Pháp không đuổi theo họ. Chúng chỉ chiếm ngôi nhà số 17. Chúng đặt một khẩu súng máy trên bao lơn bắn ra vùng chung quanh.
Linh ra lệnh cho những người ở lại bố trí chặn địch với anh rút về vị trí mới. Trên đường về, Linh quay lại hỏi Min Tu:
— Thế nào mà ông Vĩnh lại chẳng có quần có áo gì vậy?
Min Tu trả lời lễ phép:
— Báo cáo anh, anh ấy đang tắm thì nghe nó xì xồ ở nhà ngoài.
Mấy anh trinh sát nhìn nhau, giờ phút căng thẳng đã qua, nhớ lại hình ảnh ban nãy không ai bảo ai bỗng phá lên cười. Linh cũng tủm tỉm.
Một cậu trinh sát nói:
—Thương hại cô Mai, nhìn thấy đại đội trưởng, cô phát khiếp, nhảy vào buồng ném ra cho đại đội trưởng cái quần, lại lấy nhầm quần thằng Min, mặc vào như da nhái che thân ếch.
Tất cả đều phì cười.
Mấy cậu trinh sát khác:
— Giá còn bà đô Thành ở đây, bà ấy không cần chạy!
—Cũng phải chạy.
— Lạ gì mà phải chạy?
— Lúc khác thì không lạ nhưng lúc ấy, cũng phải lạ.
Họ ám chỉ mối quan hệ giữa đại đội trưởng với cô cứu thương có dáng người to lớn, đã chuyển ra ngoài trong đợt vừa rồi.
Linh cố nhịn cười, làm mặt nghiêm:
— Đừng tán tếu nữa!
Mọi người vừa về đến nhà, đã nghe tiếng đại đội trưởng:
— Tập hợp toàn thể đại đội bộ!
Mấy anh trinh sát, liên lạc, văn thư, cứu thương, nấu cơm ngồi im thin thít chờ đợi cơn lôi đình. Phong cũng cảm thấy run trước bộ mặt giận dữ, nặng nề của đại đội trưởng, nhưng thỉnh thoảng anh vẫn phải nghiến răng cố tránh bật ra tiếng cười khi chợt nhớ những lời họ đã tán với nhau trên đường về.
Vĩnh quát phủ đầu:
— Mấy thằng trinh sát, tại sao không bố trí trên nhà 17? Nó vào lối nào mà cả trinh sát, liên lạc đều không nhìn thấy? Mất dáyphô Hàng Thiếc là tại chúng mày!
Thực ra, ngôi nhà số 17 nằm hơi xa chiến lũy đã cónhững lực lượng ở phía ngoài bảo vệ, các chiến sĩ trinh sát chỉ biến ngôi nhà thành một vị trí bắn để thỉnh thoảng mò lên săn Tây. Họ không đủ người để canh gác thường xuyên trên vị trí này. Việc ngăn chặn địch vào đây không phải là nhiệm vụ của họ.
— Tại sao không gác hả? - Vĩnh lại hỏi với giọng nạt nộ.
Không ai dám cãi.
— Tôi ra lệnh cho các anh, làm cách nào thì làm, nội nhật đêm nay, cùng lắm là đêm mai, phải lấy lại. Không lấy lại được thì các anh sẽ mất đầu.
Nghe câu này, mấy anh trinh sát đều xanh mắt.
Chính trị viên Linh ngồi theo dõi cuộc họp vơi vẻ chăm chú nhưng bình tĩnh. Thấy đại đội trưởng đã trút hết cơn giận xuống đầu mấy chiến sĩ trinh sát rồi, anh mới lên tiếng:
— Từ giờ đến chiều, nếu địch không rút, nó sẽ củng cố xong vị trí nàyTôi đề nghị đêm nay ta tổ chức đánh. Nhưng sử dụng lực lượng đại đội bộ thì không đủTa sẽ dùng lực lượng trung đội 2. Tối nay, tôi đi với trung đội 2.
Đại đội trưởng ngồi im. Như vậy là anh đã chấp thuận ý kiến của chính trị viên. Từ sau trận đánh nhà Chí Lợi, đại đội trưởng đã nhìn người cán bộ trẻ chỉ đáng tuổi con mình bằng cặp mắt vị nể.
Tối hôm đó, trung đội 2 không giành lại được ngôi nhà. Mìn và choòng của các chiến sĩ trung đội 2 không phá vỡ nổi cánh cửa quá chắc chắn. Họ đã không giữ được bí mật khi tiến vào. Địch từ trên gác ném lựu đạn xuống làm một chiến sĩ hy sinh và hai người khác bị thương.
Không khí bi quan tràn lan cả đại đội.
Sáng sớm đã có người trên ban chỉ huy tiểu đoàn xuống.
Đại đội trưởng Vĩnh ngồi báo cáo tình hình trận đánh đêm trước với vẻ bối rối. Anh không có mặt trong trận đánh, nhưng lại không muốn nói điều đó. Anh biết tính đồng chí tiểu đoàn phó này luôn luôn hỏi mọi vấn đề một cách rất cụ thể.
Phong khoác khẩu súng trường đi qua sân.
Đồng chí tiểu đoàn phó giơ tay ra hiệu cho Vĩnh ngừng nói, đứng lên gọi:
— Này, đồng chí...
Phong quay lại, reo lên:
— Anh chương!
Từ sau trận đánh nhà Moóc-li-e, đến hôm nay, Phong mới gặp lại người trung đội trưởng cũ của mình. Phong vẫn nhớ người cán bộ có thân hình đẹp, tác phong dễ gần này. Anh vẫn mặc bộ quần áo xanh công nhân.
— Sao đồng chí lại ở đây? - Chương hỏi.
— Tôi chuyển về đại đội này hai tuần rồi.
— Làm gì?
— Báo cáo anh: trinh sát.
— Trinh sát à... Vào đây.
Chương quay lại Vĩnh:
— Cho đồng chí này ngồi đây, cần gì tôi hỏi luôn.
Chương lại hỏi Phong:
— Còn một đồng chí vẫn đi với đồng chí đâu? Cậu Nhã thì phải?
— Đồng chí Nhã cũng ở đại đội này, nhưng ở dưới trung đội.
Chương gật gù rồi nói với Vĩnh:
— Mấy cậu này rất có sáng kiến về chiến thuật... Đồng chí báo cáo tiếp đi.
Vĩnh khôn khéo:
— Tôi đã trình bày xong, anh cần hỏi gì các đồng chí đây bổ sung thêm. Các đồng chí ấy đều trực tiếp
đánh đêm qua.
Chương nhận xét:
— Nó mà cứ ngồi ở đấy thì trước mắt, phố Hàng Thiếc bị bịt một đầu. Sau đó, sẽ mất cả dãy phố. Cả phố này chỉ còn mấy đường hào, không có chiếc "then cài" nào, địch rất dễ tỏa sang hai bên, các đồng chí muốn giữ cũng khó. Tôi hỏi đồng chí đại đội trưởng: hôm qua đánh thất bại, nguyên nhân chính là do đâu?
Vĩnh ngập ngừng rồi đáp:
— Sử dụng ít lực lượng quá. Ba người vừa hy sinh vừa bị thương, bộ đội phải quay ra khiêng nhau về, bỏ dở trận đánh. Hôm đánh nhà Chí Lợi, chúng tôi dùng cả hai trung đội, hai cánh cùng đánh vào nên kết quả tốt hơn.
— Nhưng cuối cùng, các đồng chí vẫn không tiêu diệt được vị trí.
— Tôi chỉ nói là kết quả khá hơn trận đêm qua.
— Nếu đêm nay, sử dụng cả hai trung đội thì có thắng không, tôi muốn nói có tiêu diệt được vị trí địch không.
— Cũng có thể... - Vĩnh nói ngập ngừng.
Chương không gặng thêm, quay sang phía Linh:
— Đó là ý kiến của đại đội trưởng, còn ý kiến của đồng chí?
Linh đáp:
— Ngoài vấn đề lực lượng, còn phải giải quyết vấn đề phá cửa bằng cách nào? Đêm qua ta gay vì không mở được cửa. Mìn gômđánh vào rất ít tác dụng. Dùng xà beng, dùng choòng thúc vào, nó vẫn trơ trơ. Anh em thương vong chính là ở đây. Càng xúm đông lại phá cửa càng thương vong nhiều.
— Như vậy thì dùng nhiều người chưa chắc đã là hay, dễ lộ bí mật. - Chương nhận xét.
Đại đội trưởng và chính trị viên ngồi lặng thinh.
Chương lại nói:
— Nếu bây giờ tiểu đoàn cấp phương tiện phá cửa cho các đòng chí, đại đội có giải quyết được không? Sẽ cấp cho các đồng chí một phương tiện thật mạnh.
— Bom ạ? - Linh hỏi.
— Không phải bom... Nhưng đủ sức cho các đồng chí phá mấy cánh cửa gỗ. Tạm coi nó là một quả bom nhỏ.
Đại đội trưởng nói:
— Nếu có phương tiện phá cửa thì chúng tôi sẽ giải quyết được, nhưng phải có thương vong vì địch cứ từ trên gác giã lựu đạn xuống.
— Thương vong bao nhiêu?
— ít ra là một tiểu đội.
— Một phần tư lực lượng của các đồng chí... Vậy lấy gì mà chiến đấu lâu dài?...
Phong đã có mặt bên cạnh chính trị viên trong trận đánh tối qua. Anh thấy đại đội trưởng nhận xét đúng. Nếu muốn chiếm được ngôi nhà theo kiểu đánh vào nhà Chí Lợi, dù có phương tiện phá cửa tốt, cũng phải hy sinh một tiểu đội hoặc hơn. Những người đã xuống đêm nay sẽ là Nhã, là anh và nhiều người khác.
Chương lẩm bẩm:
— Phải tính cách khác, không thể để mất nhiều người như vậy trong tình hình hiện nay. Mất một người là mất một lực lượng.
Bỗng anh quay lại nhìn Phong:
— Còn ý kiến của đồng chí trinh sát?
Phong lúng túng. Không ngờ đồng chí đó lại hỏi cả mình.
Chương khuyến khích:
— Có ý kiến gì cứ nói. Chúng ta đều mới chiến đấu cả, ai nghĩ được gì thì góp vào, ta cùng bàn xem.
Phong ngẫm nghĩ một lát rồi nói:
— Theo tôi nghĩ: không nên dùng đông người. Trận đánh nhà Chí Lợi, ta rất đông người nhưng không chiếm được vị trí. Mỗi ngôi nhà như vậy, Tây chỉ đóng vài thằng, mang cả đại đội tới đánh, hy sinh nhiều, có thắng cũng chẳng bố! Tôi thấy chỉ cần ba người.
— Ba người? - Cặp mắt tiểu đoàn phó xoáy vào Phong - Đánh cách nào?
Phong bình tĩnh:
— Hai đầu nhà số 17, cách không xa, đều có nhà gác. Sẽ cho hai người mang súng trường, mỗi người leo lên một căn nhà gác, chọn chỗ ẩn nấp thật chắc chắn rồi từ hai phía bắn mạnh vào nhà 17. Bắn trúng cũng được, bắn không trúng cũng không sao, kể cả bắn lên trời, chỉ cốt làm sao cho địch chú ý, bắn trả ta thật nhiều...
— Như vậy là hai mũi nghi binh... Còn đồng chí thứ ba?
— Người thứ ba đem theo quả bom của anh Chương và một thùng dầu. Trong khi địch mải đánh nhau với hai đồng chí kia, đồng chí này lẻn và, đặt bom phá vỡ cửa. Cửa vỡ, xông ngay vào nhà, đốt luôn thùng dầu. Nhà này chúng tôi ra vào mãi, đã biết cầu thang và sàn gác đều bằng gỗ, lại không có lối thoát sang những nhà chung quanh. Nếu ta đốt cầu thang là bọn Tây ở trên gác phải chết bằng hết.
Nét mặt của đồng chí tiểu đoàn phó rạng rỡ hẳn lên. Anh nhoẻn miệng cười, đôi hàm răng đều và trắng bóng. Rồi anh hỏi Phong:
—Theo đồng chí, ở đại đội này, ai làm được công việc của người thứ ba?
— Ai cũng làm được. Chỉ cần thuộc đường, đi cho nhẹ bước, giật một cái kíp, đốt một thùng xăng đâu có khó khăn!... Nếu đại đội bảo tôi làm, tôi sẽ làm.
Chương quay về phía ban chỉ huy đại đội:
—Các đồng chí thấy ý kiến của đồng chí trinh sát thế nào?... Tôi đã giới thiệu với các đồng chí là mấy cậu này có rất nhiều sáng kiến... Đánh như vậy cũng được chứ?
Họ hiểu là cấp trên đã lựa chọn cách đánh của người trinh sát. Linh nói:
— Tôi thấy ý kiến vừa rồi của đồng chí Phong rất hay.
Tiểu đoàn phó lại nhoẻn miệng cười:
— Mình bất lịch sự quá, bây giờ có người nhắc mới nhớ tên. Đồng chí Phong, ban chỉ huy đại đội đồng ý trao cho đồng chí nhiệm vụ này, vì người đánh cần có ba điểm: một là thuộc đường, hai là có sáng kiến, ba là bình tĩnh. Đồng chí là trinh sát của đại đội, đã ở ngôi nhà ấy, chính đồng chí đã nghĩ ra cách đánh này, còn điều kiện thứ ba thì tôi chắc là đồng chí cũng có... Riêng tôi, tôi sẽ cung cấp cho đồng chí một trái bom nhỏ do chính tôi vừa chế tạo. Đồng chí không cần phải giật kíp, chỉ cần đánh một que diêm, đốt xong chạy ra tìm chỗ ẩn náu tốt chờ bom nổ. bom đã nổ, cửa nào cũng phải bay để đồng chí xông vào. Đánh được như đồng chí nói thì mới hả dạ! Chúng ta có nhiệm vụ phải trả thù cho những đồng chí hy sinh và bị thương ngày hôm qua. Cho mình gửi lời thăm cậu Nhã. Liên khu là cái túi, bỏ vào đâu, xóc đi xóc lại vài lần, anh em mình lại gặp nhau... Các đồng chí trong ban chỉ huy đại đội cho đồng chí Phong hai chiến sĩ tốt, nếu đồng chí ấy thích thì để cho đồng chí ấy tự chọn lấy... Bây giờ mình về tiểu đoàn, buổi trưa mình sẽ quay lại. Sẽ có cả bom và dầu cho cậu...
Chương siết tay Phong trước khi ra về. Bàn tay anh rắn chắc và ấm áp.
Mọi người ăn cơm trưa xong thì Chương quay lại. Tay anh cầm một trái đạn moóc-chi-ê, những trái đạn Pháp bắn vào không nổ, thường vẫn nằm lăn lóc trên đường phố. Vai anh đeo một thùng dầu.
Anh nhảy lên mấy cái trước mặt Phong, rồi bảo:
— Mình làm cho cậu hai cái quai này, đeo vào chắc chắn như đeo quai ba lô.
Chương cho Phong xem quả đạn cối. Một lỗ nhỏ đã được khoan ở vỏ quả đạn. Anh móc túi lấy một sợi dây cháy chậm, cắm vào.
— Mình cắt dây cháy chậm dài một chút cho an toàn. Xòe một cái, thấy xì khói, cậu chạy ra tìm chỗ núp cho kỹ. ầm! Thế là cậu đeo bình xăng xông vào. Mình đặt sẵn ở thùng xăng một cái bấc. Xòe thêm một cái, bấc cháy! Nhanh chân lùi ra xa, chỉ còn đứng mà xem.
Anh lại móc túi rút ra một bao diêm, dưa Phong.
— Không thiếu một thứ gì nhé! Phần mình thế là xong. Phần còn lại là của đại đội, của đồng chí...
Sáng nay, Phong đoán Chương là phái viên của ban chỉ huy tiểu đoàn. Lúc này, anh lại cho rằng Chương là cán bộ phụ trách quân khí. Khi Chương ra về, Phong hỏi Linh mới biết Chương là tiểu đoàn phó từ trước ngày trung đoàn thành lập.
Anh không ngờ một ý kiến bất thần nảy ra lại được đại đội và tiểu đoàn tiếp nhận một cách sốt sắng, đồng chí tiểu đoàn phó đã đích thân chuẩn bị cho trận đánh của mình.
Buổi chiều, chính trị viên Linh tổ chức lễ trao khăn quàng "Quân quyết tử" ở đại đội bộ. Theo quyết định chính thức của Liên khu, tất cả những người tình nguyện ở lại chiến đấu sau ngày ngừng bắn đều là Chiến sĩ Quyết tử. Dấu hiệu của những Chiến sĩ Quyết tử là một lá cờ đỏ sao vàng, gập gọn thành chiếc khăn quàng trên cổ. Lá cờ này cũng là vật dùng để khâm liệm khi người đó hy sinh. Đại đội đã được phát đủ vải đỏ, vải vàng để may cờ, nhưng Tyết Mai, cô gái độc nhất còn lại ở đơn vị, may mãi suốt ngày đêm chưa xong. Nhân có trận đánh đêm nay, ban chỉ huy đại đội chủ trương: đại đội bộ làm lễ phát khăn quàng "Quân quyết tử" cho đại đội bộ trước.
Bàn thờ Tổ quốc được dựng lên đơn sơ. Một lá cờ. Một bức ảnh chân dung Bác Hồ. Một chiếc lư đồng. Nhưng không khí hết sức trang nghiêm vì vài giờ nữa họ sẽ lao vào trận đánh. Mọi người hướng về lá cờ và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh thét vang lời thề quyết tử chiến đấu để bảo vệ Thủ đô.
Ba người đi chiến đấu đêm nay được quàng khăn trước. Phong cực kỳ súc động khi thấy chính trị viên nhấc lá cờ đầu tiên trên bàn thờ Tổ quốc, quàng vào cổ mình. Anh tự bảo thầm nhất định phải xứng đáng với vinh dự này.
Niềm hưng phấn bừng bừng mãnh liệt trong anh suốt cả buổi chiều. Nhưng khi nắng chiều vừa tắt, thành phố chìm dần trong bóng đêm thì một ý nghĩ đập vào óc anh như một cơn gió lạnh bất thần: linh tính báo trước đêm nay anh sẽ gặp chuyện không may.
Anh đi tìm Tuyết Mai. Cổ Tuyết Mai cũng quàng một lá cờ đỏ thắm. Anh ngập ngừng rồi nói:
— Tối nay cô chú ý đến tôi một chút, tôi linh cảm sẽ có chuyện đấy.
Vẻ lo âu hiện lên trong ánh mắt hiền dịu của cô gái. Cô vào chuẩn bị thuốc men và bông băng cấp cứu. Tay cô run lên khi xếp mọi thứ vào chiếc túi cứu thương. Linh tính từ Phong đã chuyển sang cô như một luồng điện: đêm nay anh ấy sẽ gặp chuyện chẳng lành.
Những vầng hồng lại hiện dần lên trong bóng đêm. Những đám cháy hàng đêm bao quanh đoàn quân bị vây hãm có lúc tạo cho họ cảm giác mình đang ở trong một lò lửa hoặc ở trên giàn hỏa thiêu, lửa đã bắt đầu nổi bốn bề.
Hồi đầu người ta tưởng những đám cháy do đạn lửa bắn lạc gây nên. Gần đây họ mới biết đó là những "bó đuốc" do địch đốt lên để soi sáng từng khu vực trú quân, đề phòng người kháng chiến đột nhập. Mỗi bó đuốc là một ngôi nhà!
Đêm nay, ánh lửa quá gần.
Cùng đi chiến đấu với Phong là hai người mà anh rất tin cậy.
Người sẽ chiếm căn gác thượng của ngôi nhà nằm bên trái vị trí địch là Minh Tú, cậu liên lạc có bộ mặt rỗ hoa. Anh đã biết Tú từ trận đánh nhà Chí Lợi. Nếu không phải Tú đi với đại đội trưởng tối hôm đó, Vĩnh đã gặp nguy hiểm. Vĩnh bị thương từ trái lựu đạn địch ném xuống đầu tiên khi anh hô xung phong. Mặc lựu đạn địch tiếp tục rơi, Tú vẫn cố dìu đại đội trưởng ra khỏi khu vực nguy hiểm sau khi chính anh cũng bị thương.
Minh Tú là tên chính trị viên mới đặt cho anh. Trước ngày ngừng bắn, những người tình nguyện ở lại phải khai tên tuổi để nộp lên trên. Tú khai tên thực của mình là Nguyễn Văn Nhỏ. Cái tên cha mẹ vô tình đặt cho anh đã phù hợp với thân phận tôi đòi. Anh muốn bỏ tên đó để đoạn tuyệt với cuộc đời cũ, cuộc đời "thằng nhỏ". Anh xin nhận cái tên Min Tu mà mọi người thường gọi, mặc dù đã biết hai tiếng này nhằm chế giễu những di chứng của bệnh đậu mùa còn lưu lại trên bộ mặt đáng lẽ ra cũng dễ thương của anh. Linh đã sửa hai chữ "Min Tu" thành Minh Tú. Từ đó, mọi người gọi anh theo tên mới.
Người sẽ trèo lên mái ngôi nhà bên phải, bắn vào vị trí địch là Lâm Khàn. Lâm Khàn là con một gia đình gốc đạo. Trước mỗi bữa ăn, anh vẫn kín đáo làm dấu Thánh giá. Ngày thứ sáu Lâm Khàn không đụng miếng thịt nào nếu hôm đó có thịt. Đặc điểm của Lâm Khàn là giọng nói vịt đực và bộ mặt phớt đời. Từ ngày đánh nhau, Lâm Khàn không rời bộ com-lê với hai ve áo cài bắt chéo và chiếc mũ phớt cùng màu. Khác với những người có đạo, anh hay hài hước và châm biếm. Nhưng khi đánh nhau anh rất gan và có những hành động táo bạo.
Trang bị chiến đấu của Phong đêm nay khá kềnh càng. Anh đeo trên lưng chiế bình đựng xăng. Tay phải giữ khẩu súng trường khoác trên vai. Tay trái ôm quả đạn cối. Mấy trái lựu đạn lủng lẳng ở thắt lưng. Chưa kể trong túi còn cuộn dây cháy chậm và bao diêm trước khi đi đã được sấy nóng gần bếp lửa. Phải khéo léo lắm anh mới luồn qua được những lỗ đục tường mà không gây nên tiếng động.
Sắp đến mục tiêu. Anh rời con đường chạy xuyên qua các ngôi nhà, trèo lên một căn gác, ra bao lơn, nhìn về phía vị trí địch. Anh chợt hận thấy một đám cháy gần ngôi nhà 17. Thì ra cái vầng lửa xuất hiện rất gần trước mặthọ từ lúc ra đi chính là ở đây. Đêm qua nhà 17 bị ta đánh, nên tối nay địch đốt một ngôi nhà gần đó để đề phòng. Đám cháy soi rõ mặt trước nhà 17, nhìn phân biệt được cả từng viên ngói xanh rêu. Phong nghĩ: nhiệm vụ của mình đêm nay sẽ khó khăn hơn.
Phong quay xuống nhà dưới, tiếp tục luồn qua những lỗ đục tường tiến đến gần ngôi nhà 17. Anh dừng lại trong một căn nhà hoang khi vị trí địch đã hiện ra ngay xế bên kia đường.
Phong ngồi nép mình bên cửa ra vào, đặt bình xăng trên hậu cửa cho đỡ nặng, rồi rút cuộn dây cháy chậm tra vào cái lỗ đã đục sẵn trên quả đạn. Phong vừa nhìn đôi cánh cửa im lìm, có vẻ rất vững chãi ở ngôi nhà 17, vừa mân mê quả đạn cối trong tay - Niềm hy vọng của anh đêm nay. Nếu nó phá bung được đôi cánh cửa kia, anh tin mình sẽ thành công. Anh nhắm trước một đoạn đường không có những đồ đạc rơi vãi. Phải vượt qua đường thật nhanh và không gây tiếng động.
Phong không phải đợi lâu. Có tiếng súng nổ từ dãy nhà một tầng phía bên phải vị trí địch. Lâm đã nổ súng. Phong nhìn thấy những ô kính cửa sổ ở ngôi nhà 17 vỡ tung. Lâm không chịu bắn chỉ để gây tiếng động. Anh đã nhắm rất trúng mục tiêu.
Gần một phút sau, địch mới bắn trả bằng trung liênChắc chúng phải mất thời gian để quan sát xem đối phương từ nơi nào bắn tới. Đạn địch cũng nhắm vào những ô cửa của ngôi nhà một tầng. Theo kế hoạch, Lâm sẽ nằm trên nóc nhà này. Lâm lại nổ súng. Phong lo cho anh bị địch phát hiện. Nếu bị thương trên nóc nhà sẽ rất nguy hiểm. Nhưng anh cũng tin vào sự tinh khôn của Lâm.
Lát sau mới thấy phía gác thượng ngôi nhà phía trái vị trí địch phát hỏa. Theo lời Phong dặn, Minh Tú đã bắn trếch về phía trong. Tiểu liên của địch bắn trả ngay tức khắc. Chúng nhắm đúng gác thượng.
Một cuộc đấu súng đang diễn ra. Phong không muốn có cuộc đấu súng thực sự này vì nó có thể gây nguy hiểm cho các bạn anhAnh chỉ cần họ gây tiếng động, thu hút sự chú ý của địch về các hướng đó.
Phong quan sát lại vị trí địch một lần nữa. Không thấy tên địch nào ngoài bao lơn. Anh quyết định vượt sang bên kia đường.
Mặc dù anh cố gắng đi nhẹ nhàng nhưng vẫn thấy tiếng chân mình toquá và xăng đựng trong bình cứ óc ách trên lưng. Anh đã đến giáp đôi cánh cửa ngôi nhà 17 một cách êm ả. Phong thầm cảm ơn hai bạn đã chiến đấu một cách thực sự. Địch không nghi ngờ gì ở phía trước.
Phong đặt quả đạn vào giáp cánh cửa. Que diêm xòe lửa trong tay anh. Anh cham ngọn lửa vào đầu dây cháy chậm thấy tay mình không run. Dây cháy chậm bắt đầu đỏ và xì khói. Phong rời sang phía bên phải ngôi nhà. Anh cần lợi dụng bức tường để tránh những mảnh đạn cối và hơi nổ.
Thời gian trôi đi một cách vô cùng chậm chạp. Phong đứng chơ vơ giữa nền nhà đổ nát, thấy lửa in bóng mình trên mặt đường. Anh cảm thấy Lâm Khàn nằm trên mái dãy nhà một tầng đang nhìn mình.
Tại sao quảđạn vẫn chưa nổ? Tiểu đoàn phó Chương nói lúc ban chiều anh đã thử rất cẩn thận khi cải tạo loại đạn này. Hay là dây cháy chậm bị tắt nửa chừng? Cần kiểm tra lại. Nhưng nếu anh vừa ra tới nơi thì quả đạn nổ...?
Cuộc đấu súng trên đầu anh vẫn tiếp tục. Chắc Lâm và Tú cũng đang sốt ruột vì chờ mãi chưa thấy mình hành động. Phong quyết định quay lại.
Quả đạn vẫn nằm nguyên bên cửa ra vào. Đúng như Phong dự đoán, sợi dây cháy chậm chỉ mới cháy được một nửa. Phong đánh diêm đốt dây cháy chậm lần thứ hai. Khói xanh tuôn ra. Đốm lửa đỏ nghiến ngấu rất nhanh đoạn dây còn lại. Phong lao đầu chạy về chỗ ẩn nấp cũ quên cả là mình cần tránh gây tiếng động. Anh sợ mình không còn đủ thời gian lánh sang bên kia tường.
Một tiếng nổ dậy đất. Gạch đá rơi rào rào sau lưng Phong. Xong rồi! Anh Chương đã nói quả đạn này nổ thì cái gì cũng bay.
Phong chạy trở lại phía cửa. Khói thuốc còn đang bốc lên mù mịt. Phải lao qua tấm màn khói này thì mới kịp, Phongtự bảo. Anh chợt đứng sững. Anh vừa thoáng nhìn thấy hình như cánh cửa không bị đổ. Anh không tin ở mắt mình, dấn bước qua đám khói, đặt tay vào cái vật đứng sừng sững giữa hai bức tường. Người anh lạnh toát. Quả đạn đã nổ nhưng đôi cánh cửa ngôi nhà vẫn còn nguyên vẹn. Tại sao lại có chuyện kỳ lạ này...?
Bây giờ thì làm gì?... Chạy nhanh sang bên kia đường để rút về nhà ư?... Nếu không rút ngay, lát nữa sẽ không kịp. Nhưng phải tìm xem vì sao quả đạn cối không phá được cánh cửa gỗ này. Phong sờ lần xuống chân cánh cửa. Khói thuốc lùa vào mắt anh cay sè. Anh chạm vào một bao cát. Anh đã hiểu vì sao... Cánh cửa được chẹn phía trong bằng rất nhiều bao cát.
Vừa lúc đó, Phong nghe súng nổ ran ngay trên đầu mình. Bọn địch đã thấy động ở phía cửa ra vàoCó lẽ chúng biết là bị lừa. Chúng bắn như đổ đạn sang ngôi nhà trước mặt. Đường về của anh đã bị cắt đứt. Chúng ném lựu đạn xuống ngay bây giờ! Phong vội đặt bình xăng xuống đất. Nhưng nếu cứ đứng đây, không trúng mảnh lựu đạn thì mình cũng biến thành một cây đuốc lửa! Bây giờ chỉ còn cách lánh ra đầu nhà để tránh cái cửa rất nguy hiểm này. Phong nhanh nhẹn chuyển sang sang đầu nhà bên trái. Vừa rồi, anh đã đứng quá lâu ở đầu nhà bên phải. Vả lại, từ đây sang xế bên kia đường là phố Hàng Chỉ. Phong đã hẹn với các bạn sau trận đánh gặp nhau ở đó. Chỉ cần qua đường, chui vào một ngôi nhà, bọn địch sẽ không còn làm gì được anh.
Phía bên trái cũng là một nền nhà đổ nát, nhưng không quá trống trếnh vì còn sót lại một vài mảnh tường.
ở cả hai đầu, tiếng súng của Lâm và Tú đã ngừng. Theo đúng kế hoạch, khi có tiếng đạn cối nổ, nhiệm vụ của họ đã hoàn thành. Họ không thể biết Phong bị mắc nghẽn ở đây. Nếu bây giờ họ vẫn tiếp tục bắn, tác dụng lôi kéo địch cũng chẳng còn bao nhiêu. Tiếng nổ lớn ngay trước cửa đã báo cho địch biết nguy hiểm ở phía này.
Phong nằm áp mình trên nền nhà, đề phòng địch ném lựu đạn xuống cửa trước, những mảnh có thể bay tới chỗ anh. Thỉnh thoảng lại một loạt tiểu liên nổ trên gác. Đạn cắm vào ô cửa những ngôi nhà bên kia đường. Chúng bắn vu vơ. Ngọn lửa từ ngôi nhà địch đốt mỗi lúc một to. Những tàn tro bay đến chỗ anh nằm. Phong nhìn rõ từng cục đất nhỏ, từng chiếc lá trên mặt đường. Nếu bây giờ liều lĩnh băng qua, anh khó thoát khỏi những viên đạn. Chỉ còn cách nằm chờ tiếng súng im hẳn. Khi địch tưởng bộ đội ta đã rút lui, chỉ cần một phút chúng lơi lỏng, Phong đủ thời gian lao qua mặt đường, lọt vào ngôi nhà đầu tiên ở phố Hàng Chỉ.
Chợt Phong nghe tiếng người rầm sau bức tường. Ở sâu bên trong, Phong đã biết còn một số căn nhà nguyên vẹn. Tiếng Pháp xen với tiếng Việt.
— Chúng nó ở đây!
— ở đâu?
— Đằng sau bức tường.
— Lục soát xem... Bắt sống!
— Nó chạy rồi...
— Nó vẫn ở đấy!
Phong đứng phắt dậy, kẹp khẩu súng trường bên nách, đặt ngón tay vào cò. Một viên đạn đã nằm sẵn ở nòng súng. Nếu cánh cửa bật ra, anh sẽ bắn liền mấy phát vào bọn địch định xông lại bắt mình, rồi lập tức lao chạy sang bên kia đường.
Anh bỗng nghe tiếng lựu đạn rơi lịch bịch. Khói lựu đạn làm cho không gian tối sầm. Có một vật gì đập mạnh vào chân anh. Hình như những gạch đá bắn đầy vào người anh. Phía nhà trong lại vang ra tiếng người:
— Nó bị rồi!
— Thế là xong...
Phong thấy mỏi ở chân trái. Anh ngồi xuống, cảm thấy người lao đao chực ngã.
Tiếng giày đinh lạo xạo. Những bước chân xa dần.
Phong vẫn chưa biết mình đã bị thương. Anh chỉ cảm thấy hai chân bại dần. Anh thử sờ tay vào chân, giật mình nhận thấy nó nhớp nháp một thứ nước âm ấm. Lúc bấy giờ anh mới biết đau và máu từ những vết thương đang ào ạt tuôn ra. Người anh bắt đẩu rét. Một thứ rét kinh khủng anh chưa từng biết bao giờ. Rét từ trong ruột rét ra. Anh hiểu rằng nằm lại đây thêm một lát nữa thì mình sẽ kiệt lực và chỉ còn chờ địch đến bắt sống.
Phong quyết định bò sang bên kia đường. Và cũng chỉ còn có cách này. Đó là con đường thoát duy nhất của anh, con đường quay về với đồng đội.
Phong cố lết mình bò đi. Đôi chân không còn tuân theo ý muốn của anh. Chúng tê bại hẳn rồiGiống như một con sâu đo, anh tiến về phía trước bằng hai cẳng tay và hai đầu gối. Cái rét làm cho hai hàm răng anh đánh vào nhau cầm cập. Không biết Lâm và Tú ở đâu lúc này? Đã có quy ước sau trận đánh họ sẽ gặp lại nhau ở đầu phố Hàng Chỉ. Họ đã ở đó chưa? Nếu anh bò thoát về tới đó mà không gặp họ, thì anh vẫn phải nằm lại. Anh nghĩ đến Tuyết Mai. Anh hy vọng cô gái sẽ đi tìm anh nếu không thấy anh trở về.
Con đường sao mà rộng kinh khủng! Anh đã nhìn thấy đầu phố Hàng Chỉ có một cái xe bán kem. Chiếc xe nằm quay mặt ra đường, giáp với bức tường ngôi nhà đầu tiên. Tới được chiếc xe đó, anh sẽ bám được sự sống. Chiếc xe có thể giúp anh chắn những viên đạn từ trên gác bắn theo. Trước mắt anh, trong tâm trí anh, chỉ còn có chiếc xe. Đó là ranh giới giữa cái sống và cái chết. Từ đây tới chiếc xe là con đường chết. Bên kia chiếc xe là con đường sống. Con đường chết vẫn dài dằng dặc. Máu lửa chan hòa trên mặt đường. Anh còn đủ sức để bám lấy cuộc sống không?... Khẩu súng trong tay anh như một khối thép nặng ngàn cân. Anh không nghĩ đến chuyện bỏ nó. Nó đã gắn bó với anh trong suốt cuộc chiến đấu. Lúc này nó đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong cơ thể của anh. Anh không biết là nó đã ngốn đi một phần quan trọng sức lực trong người. Vì nó anh có thể nằm lại đây mãi mãi.
Phong đã bò tới vỉa hè bên kia đường. Anh chỉ còn cách chiếc xe kem chừng ba, bốn bước chân. Nhưng cái bờ hè cao hơn một gang tay đã trở thành một bức tường thành cao vời vợi mà anh khó lòng vượt qua. Quáng đường từ đây tới chiếc xe kem, tới cuộc sống, vẫn còn xa lắc. Cơn rét trong người đã lên tới mức không còn chịu được. Toàn thân đau đớn như có hàng trăm mũ dao đang chích vào da thịt. Hay là nằm ở đây thôi?... Con đường trở về với cuộc sống khắc nghiệt quá. Nếu anh từ bỏ nó, tất cả sẽ trở nên thư thái nhẹ nhàng. Hay là nằm lại đây thôi?... Có thể vẫn còn đau đớn, nhưng không còn phải cố gắng. Và sau đó, đúng là sự thư thái, nhẹ nhàng. Nằm lại đây thôi...
Một loạt súng nổ xé màng tai. Đất cày lên bên người anh. Những ánh sao bay lên từ mặt đất? Cái chết tìm đến với anh rồi! Anh bỗng cảm thấy những người đồng đội đang ở ngay đằng sau chiếc xe kem. Anh phải gọi họ tới để lôi mình về với cuộc sống. Anh gào lên:
— Tú ơi...! Lâm ơi...!
Không có tiếng trả lời.
Anh tiếp tục gào lên:
— Lâm ơi...! Tú ơi...!
Vẫn không ai đáp lại. Anh không biết rằng cổ họng anh không còn phát được thành tiếng. Và nếu nó tuân theo ý muốn của anh thì một loạt đạn thứ hai đã kết liễu đời anh.
Một tiếng nổ phát ra từ ngôi nhà trước mặt. Các đồng chí tới cứu mình đây rồi! Tiếp theo, một loạt tiểu liên thứ hai từ phía sau anh bắn tới. Những viên đạn lửa bay trên đầu anh và tuôn vào ô cửa ngôi nhà vừa phát ra tiếng súng.
Một nguồn sinh lực không biết từ đâu trào lên trong người. Phong cố gắng đứng dậy. Đôi chân khó điều khiển quá. Anh chống vội cây súng xuống mặt hè. Nó đã giúp anh đứng vững. Anh loạng choạng bước đi. Anh cố lao người về sau chiếc xe kem. Nhưng mới chỉ tới gần chiếc xe, người anh đã ngã chúi về phía trước. Anh biết rằng nếu mình nằm lại đây thì những viên đạn từ trên gác sẽ lập tức tìm đến. Chắc chắn đó là cái chết. Anh không thể gặp may lần thứ hai. Vừa lúc đó, hai cánh tay rắn chắc đón lấy người anh và kéo vội anh vào nhà.
Một loạt đạn cắm vào chiếc xe kem.
Anh nhận ra chiếc mũ phớt của Lâm Khàn.
Một bóng người bé nhỏ khác chạy tới.
— Thoát rồi!
Anh nghe rõ tiếng Tú.
Tiếng súng vẫn tiếp tục nổ ran. Đạn cắm phầm phập phía ngoài tường vàlàm vỡ những viên gạch trên mái ngói.
Tú và Lâm dìu anh, đỡ anh chui qua những lỗ đục tường.
Họ tới một căn phòng có ánh sáng. Mai đang ngồi với túi cứu thương và cặp mắt lo lắng trước một ngọn đèn dầu.
Mai hốt hoảng đứng dậy:
— Trời ơi, anh Phong! Khổ quá, em chờ anh mãi.
Ba người đỡ anh nằm xuống bên ngọn đèn dầu.
Phong không còn biết gì nữa.