***

Đất Nước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
4

❊ ❊ ❊

Nước các triền sông ở Bắc Bộ lên cao cản trở những cuộc hành binh lớn của địch. Những tin đồn về một cuộc điều đình đã nhường cho những tin khác không vui: viện binh Pháp sắp tới thêm, mùa thu này Pháp sẽ mở một cuộc tiến công lớn để quyết định số phận chiến tranh.

Ở hàng ông Mô-ka, người ta kháo nhau một chuyện không rõ thực, hư. Hồi giữa tháng Nam, cao ủy mới của Pháp tại Đông Dương, Bô-la-e, đã cử người lên Việt Bắc gặp Hồ Chủ tịch. Sứ giả của Bô-la-e nêu lên mấy đề nghị ngừng bắn, trong đó có những điều khoản: phía Việt Nam sẽ trao cho Pháp một bộ phận quan trọng vũ khí, sẽ để quân đội Pháp được tự do đi lại trên khắp lãnh thổ của ta... Hồ Chủ tịch hỏi lại viên sứ giả:

— Nếu ở vào cương vị của tôi thì ông sẽ trả lời như thế nào?

Sứ giả ngập ngừng rồi đáp:

— Thưa Chủ tịch, có những điều không thể chấp nhận được".

Bác đã khước từ những đề nghị phi lý này...

Suốt mùa hè, Phong không tìm được nơi nào cho gia đình tới sinh sống lâu dài mà anh cảm thấy an tâm.

Đợt tiến công của Pháp hồi cuối tháng Ba để lại cho Phong nhiều ấn tượng mạnh. Bữa đó, chỉ chậm chân vài bước, anh sẽ sa vào tay quân địch. Ở đồng bằng, địch có thể ập tới rất nhanh bất cứ đâu.

Gia đình anh bắt đầu gặp khó khăn về sinh kế. Khách hàng không biết đi đâu vãn. Bánh trái mẹ anh làm, đặt tại cửa hàng, có ngày ế một nửaMẹ Phong đã phải tiêu vào vốn, số vốn rất ít ỏi của bà.

Một buổi chiều, đứa em gái nhỏ của Phong chạy từ bên nhà hàng xóm về, khoe với anh:

— Bên nhà ông phó có đoàn cán bộ tới nghỉ nhờ, đi toàn xe đạp mới. Có một chi rất đẹp, chị ấy cho em cái này.

Thúy chìa cho Phong xem một thỏi sáp môi dùng đã sắp hết.

— Em xin chị ấy để bôi má khi nào biểu diễn văn nghệ.

Thỏi sáp môi bốc lên một mùi thơm nhè nhẹ, gợi Phong nghĩ đến một cô gái khuê các.

Lát sau, Thúy đang đứng chơi ngoài sân thì một cô gái mặc bộ đồ đen, thân hình thon thả từ nhà bên đi sang. Phong bàng hoàng nhận thấy đó là Kiều Oanh. Cô cầm trong tay một chiếc chậu thau, bảo Thúy:

— Em đưa chị ra giếng nào! Cái giếng em nói nước rất mát ấy mà...

Chờ Thúy dẫn Kiều Oanh đi rồi, Phong ra cửa nhìn sang nhà ông phó. Một người đàn ông mập mạp, dáng điệu đường bệ, khoảng bốn chục tuổi, đứng hút thuốc lá trên sân. Ông ta mặc tiện y, kiểu quần áo mới xuất hiện trong kháng chiến, nhưng không phải may bằng vải thô mà bằng lụa nâu. Ở góc sân, một chiến sĩ trẻ đang lau mấy chiếc xe đạp bụi bám đầy.

Phong không tin hẳn người đàn ông này là chồng hay người yêu của Kiều Oanh. Nhưng anh quyết định tránhmặt cô. Lòng anh buồn tê tái. Lại vẫn cái vòng luẩn quẩn đó ư? Ngày xưa anh không dám đến nhà cô vì cô thuộc một gia đình quyền quý mà anh chỉ là một cậu giáo nghèo. Nhưng rồi cậu giáo nghèo đã xuất hiện trước người thiếu phụ khuê các như một nhà hiệp sĩ quý tộc đầy tình cảm cao thượng. Bây giờ anh lại trở thành kẻ khốn khó ở bên lề cuộc kháng chiến, hàng ngày sống dựa vào đôi tay của ba mẹ nghèo và mấy đứa em. Còn cô đã trở thành một mệnh phụ mới, vẫn dùng sáp môi, vẫn đi xe đạp, có cả người hầu, không phải chỉ anh chiến sĩ trẻ ngồi lau xe đạp mà ông già béo tốt kia chắc cũng là người nô lệ của cô!...

Sáng hôm sau họ đi sớm. Sự xuất hiện của Kiều Oanh như cánh chim trời bay qua cửa sổ khiến Phong buồn suốt mấy ngày. Nỗi buồn đó sẽ kéo dài không biết tới khi nào nếu không có một dịp may bỗng đến với gia đình anh...

Trưa hôm đó Phong đang ngồi giết thì giờ ở nhà ông Mô-ka, chợ nhìn thấy một người bạn cũ đi ngang. Họ đã học với nhau mấy năm ở trường Đỗ Hữu Vị , và cùng chơi trong đội bóng của nhà trường. Sau ngày cách mạng thành công ít lâu, Phong đã thấy cậu ta mặc quần áo Giải phóng, cầm súng trường đứng gác trước trại bảo an binh cũ. Phong nhận được ra bạn qua cái dáng đi rất đặc biệt, đã có từ ngày xưa, với cái đầu nghênh nghênh, hai tay vung quá cao. Người cậu ta gầy và xanh. Cặp mắt vốn trước đã to, giờ trở thành to một cách quá đáng. Phong gọi to:

— Phú! Phú!

Phú quay lại nhìn anh, nhận ra Phong ngay, gật đầu và đi vào. Phú không có thái độ vồn vã kiểu xã giao, anh hỏi gọn lỏn:

— Ra đây hồi nào?

— Mình ở Hà Nội ra với trung đoàn. Mới về đây vài tháng.

— Sai lại về đây?

— Mình bị thương, nằm mãi ở viện, khi đơn vị di chuyển, người ta bảo quay tạm về gia đình, bao giờ khỏe sẽ trở lại.

Phú gật đầu như đã hiểu. Phong hỏi:

— Cậu có biết trung đoàn Thủ đô hiện giờ ở đâu không?

Phú nhìn quanh, rồi nói nhỏ:

— Trên ấy cả... Việt Bắc, quanh Bộ Tổng.

— Mình muốn trở về đơn vị.

— Có dại mới đâm đầu vào "U Tì quốc". Ở đây đời tươi như thế này!... Mình đi bộ đội sau Cách mạng tháng tám, ở Tây Bắc hơn một năm, rồi lại về Việt Bắc, ngán núi rừng lắm rồi. Không nói phố xá như đây, chỉ thèm về xuôi để nhìn lại cái chân trời.

— Mình lại chán ở đây quá! Nếu tìm được chỗ yên ổn cho gia đình thì mình trở lại đơn vị lâu rồi.

— Nghĩ vậy cũng tốt thôi... - Phú nhận xét.

Anh nhìn Phong rồi đột ngột hỏi:

— Gia đình cậu có bao nhiêu người?

— Mẹ mình và hai em gái.

— Muốn yên thì lên chỗ tớ. Có thể ngủ ngon cho đến ngày kháng chiến thành công.

— Cậu ở đơn vị nào?

— Đại đội 200, trực thuộc binh đoàn chủ lực của Bộ. Thực tế, nó là một đơn vị chuyên làm ruộng. Đàn bà, trẻ con vào đấy đều có việc. Mình đánh nhau mãi, chán rồi, chui về đó nghỉ ngơi. Cậu về đó cũng tốt. Ta lại tổ chức một đội bóng đá, cậu chạy bên trái, mình chạy bên phảiCũng cho nó qua ngày... Nhưng nếu cậu muốn kiếm chỗ cho gia đình yên thân thì đó là chỗ rất tốt. Cũng như mình, bao giờ thích đánh nhau, thì lại đi.

Phong ngỡ ngàng vì không ngờ bỗng chốc lại tìm được một lối thoát lý tưởng cho cả gia đình.

Mười ngày sau, Phú quay lại Vân Đình. Đi theo Phú có sáu, bảy người, vừa đàn ông, đàn bà. Phú giới thiệu với Phong nhà văn Trường Xuân cùng đi với vợ và các con. Anh nói riêng với Phong, đại đội trưởng đại đội 200 muốn dùng nhà văn có tên tuổi này để làm cho toàn quốc và năm châu biết đến cái nông trường của mình. Ngoài gia đình nhà văn Trường Xuân, còn có một thanh niên ôm theo cây đàn. Trên đường về đón nhà văn, Phú đã gặp anh trong một quán giải khát ở Đống Năm. Qua câu chuyện của Phú, anh hình dung Việt Bắc là Thủ đô mới, rộng lớn của kháng chiến, có những thị xã chưa tàn phá, êm đềm, những thị trấn miền biên giới với những đàn ngựa thồ, những cô gái miền núi má hồng như hoa đào, những chàng trai thổi khèn, ngồi giữa chợ uống rượu bằng bắt... Anh đã lập tức rời bỏ đội văn nghệ thị trấn Đống Năm, tình nguyện tòng quân, đi theo Phú.

Mẹ Phong và các em vui hẳn lên khi có thêm một gia đình nữa cùng đi trên chặng đường dài. Ngay từ ngày gặp gỡ đầu tiên, hai gia đình đã gắn bó như người một nhà.

Phú hối thúc mọi người tiếp tục lên đường. Anh đảo qua hầu hết những thị trấn mới nổi tiếng ở đồng bằng: Vân Đình, Đồng Quan, Công Thần, Chợ Đại, Đống Năm... nên đi đã quá lâu. Đường còn xa. Với một nửa đơn vị hành quân là phụ nữ, chắc cuộc hành trình sẽ phải kéo dài.

Tháng Bảy, gia đình Phong tham gia vào cuộc hành hương của đoàn người từ vùng xuôi lên Việt Bắc. Họ chưa phải là những người cuối cùng.

Giờ phút cảm động nhất đối với Phong, anh tin ngoài anh không một ai nghĩ tới, cái buổi đầu tiên khi Phú trao cho mẹ anh một món tiền nhỏ, gọi là sinh hoạt phí của mười hai người trên đường hành quân, để bà chi tiêu vào việc ăn uống hàng ngày.

Như vậy, không phải riêng anh, mà cả gia đình anh trong một lúc đã trở thành người kháng chiến thực sự, người đứng đầu trong guồng máy kháng chiến. Bố mẹ anh đã khổ cả cuộc đời vì miếng cơm, manh áo của mình và của đàn con. Tương lai chưa bao giờ mở ra sáng sủa với gia đình anh. Nó là một cái gì rất bấp bênh, khiến người ta chỉ còn tin vào sự may rủi. Phong còn nhớ mãi những lần bố anh đi xin việc làm. Mẹ anh đã phải nhờ người chọn ngày, chọn giờ. Bà bảo anh chạy ra ngoài nhà trước, nhìn xem bố anh ra đường gặp trai hay gặp gái. Một thằng bạn anh, nhà ở bên hàng xóm, nổi tiếng gan lỳ, đã bị mẹ anh rủa thầm nhiều lần, vì hễ ra cửa gặp nó, bố anh lại đi không về rồi. Mỗi lần bố anh quần áo tề chỉnh ra đi, cả gia đình lại nuôi một hy vọng, và hy vọng đó thường chỉ kéo dài tới lúc bố anh trở về. ngay những thời gian bố anh có công ăn việc làm, gia đình sống tạm đủ hai bữa cơm, Phong tuy còn nhỏ nhưng vẫn luôn luôn nghĩ đến lúc bố mẹ mất việc. Và anh không phải chờ lâu, chuyện đó đã nhanh chóng xảy ra. Phong tin rằng xã hội này sẽ không bao giờ bảo đảm cho gia đình mình một cuộc sống chắc chắn, nghĩa là tạm no đủ, yên lành. Bây giờ điều đó bỗng chốc đã đến với họ.

Họ qua sông Đà, sông Hồng tới thị xã Phú Thọ, Thị xã này cũng chỉ còn là đống gạch vụn. Giữa mùa hè, giặc Pháp đã bất thần dùng tàu chiến, ca nô ngược sông Hồng đổ bộ vào đây. Đây chỉ là một đòn tập kích thăm dò. Trước đó, người dân Phú Thọ đã phá hoại thị xã của mình. Trên những bức tường còn sót lại, người ta kẻ la liệt những khẩu hiệu bằng tiếng Pháp, tiếng Đức kêu gọi binh lính viễn chinh đòi về nước, phản đối chiến tranh, hoặc chạy sang hàng ngũ ta. Những hàng cọc tre vót nhọn cắm tua tủa trên sân vận động, trên những đồi trọc và bãi bồi ven sông để chống quân nhảy dù. Ở cái thị trấn miền ngược, khá xa Hà Nội, lại có nhiều không khí chiến tranh hơn những thị trấn miền xuôi chung quanh Hà Nội. Qua sự chuẩn bị này, họ có ý nghĩ: đòn tiến công nay mai của kẻ địch sẽ hướng về phía bắc.

Những rừng cọ và những đồi chè bắt đầu xuất hiện.

Từ đây trở đi, con đườngmỗi ngày càng hoang vắng. Núi chưa cao lắm nhưng rậm rạp, từng từng lớp lớp. Lau lách um tùm phủ kín hai ven đường. Người ta nghĩ đến những thú dữ đang rình mò, nhìn họ bằng cặp mắt rực lửa từ sau những bụi rậm.

Nhà văn Trường Xuân với những câu chuyện phong phú của ông trở thành một nhân vật trung tâm trên dọc đường.

Phong đã đọc vài cuốn sách và một số bài tiểu luận của ông. Anh tò mò nhìn ngắm ông, nhà văn đầu tiên mà anh có dịp ở gần trong cuộc đời. Ông chưa đầy bốn mươi tuổi, người dỏng cao, mái tóc quăn, vừng trán rộng, đôi mắt tươi cười. Dọc đường, ông chỉ uống trà. Mỗi lần dừng lại ở qán, trong lúc mọi người uống nước chanh hay nước chè tươi, ông móc từ trong ba lô ra một chiếc ấm màu gan gà nhỏ xíu và một chiếc chén hạt mít. Ông xin nhà hàng ít nước sôi, tráng ấm chén cho nóng, rồi bỏ vào một nhúm trà. Ông đặt bàn tay lên ấm như để giữ hơi nóng cho nó. Lát sau, ông rót ra chén một thứ nước vàng sánh và bắt đầu uống từng ngụm nhỏ như người nhấp giọng. Ông nói với họ: "Trà là một thứ thuốc!".

Mọi người gọi ông bằng "anh", tuy họ chỉ hơn cô con gái lớn của ông, cùng đi trong đoàn, có vài tuổi. Họ bắt chước cách xưng hô của Phú. Phú gọi như vậy, vì ông là bạn của đại đội trưởngVả lại, ông đã là bộ đội, mà trong bộ đội người ta không dùng tiếng "ông" hoặc tiếng "bác". Ông không tỏ ra phật ý vì cách xưng hô này. Trái lại, ông còn vui vẻ vì cảm thấy mình trẻ lại.

Phong rất thích nghe ông kể chuyện về những nhà văn đương thời, những người anh thường đọc sách nhưng chưa bao giờ gặp mặt. Trường Xuân có những nhận xét độc đáo về họ, mà Phong không biết là có nên tin hay không. Ông đánh giá tập thơ "Đồ Bàn" của nhà thơ Chế Viết Lâm, làm năm mươi bảy tuổi, là một kiệt tác. Ông nói khi anh viết tập thơ thứ hai "Mỵ ê Nương", ông không đọc, vì biết anh không thể nào làm hay hơn tập thơ trước. Theo ông, Chế Viết Lâm không nên làm thơ nữa... Ông đã dùng những từ quân sự để nhận xét đặc điểm con người nhà văn Nguyễn Thanh: "Lúc mọi người "nghiêm" thì Nguyễn Thanh "nghỉ"; lúc mọi người "nghỉ" thì Nguyễn Thanh "nghiêm". Ông hay châm biếm các bạn đồng nghiệp của mình, vì tính thích châm biếm chứ không phải do ác ý.

Trường Xuân không chỉ nói những chuyện liên quan đến văn, thơ. Ông kể với họ những chuyện về Nguyễn ái Quốc. về Cụ Hồ mà họ chỉ nghe thấy lần đầu. Ông nói: "Thiên tài của Cụ quá lớn mà đất nước mình thì quá nhỏ hẹp. Nếu Cụ sinh ra ở một nước đất rộng, dân đông thì sự nghiệp của Cụ còn hiển hách hơn nhiều. Thật tội cho Cụ, khi chỉ có trong tay gậy tầm vông, mã tấu, lựu đạn lọ mực mà phải đương đầu với Xpít-phai, Háp-tơ-rắc, Tôm-xơn vùa Đờ Gôn, Lơ-cléc, Va-luy... Nhưng cuối cùng Cụ sẽ thắng".

Phong cảm thấy Trường Xuân thực thà. Ông nói đại đội trưởng Khải đã chọn lầm người khi cử Phú về Khu Ba đón mình lên để viết về nông binh. Ông không hiểu biết gì về nông dân, và từ trước đến nay chưa có một nhân vật nông dân nào trong tác phẩm của ông. Tuy vậy, ông sẽ cố gắng đem hết sức mình để đáp lại thịnh tình của người bạn trẻ...

Từ Phú Thọ đi thêm hai ngày đường, họ dừng chân trước một dòng sông nước xanh biếc. Bên kia bờ sông, núi rừng chất ngất, phủ kín cả vòm trời.

Phú trỏ con đường đất đỏ nằm giữa những vách núi bên kia bờ sông:

— Đây kia là bến Bình Ca, cửa ngõ của Việt Bắc. Qua sông Lô, sẽ nghỉ lại sáng mai đi sớm.

Họ qua sông trên một chiếc phà lớn. Mặt trời đã khuất sau đỉnh núi cao ở phía tây. Khí núi bốc lên nghi ngút phủ mờ những rừng cây. Đất Thánhđã ở trước mặt họ, trên bờ con sông xanh, với núi non hùng vĩ. Núi như những người khổng lồ nghiêm nghị, có sức mạnh chế ngự, đứng canh phòng con đường độc đạo chạy vào khu căn cứ.

Chiếc phà lao mình gối đầu lên bờ sông lạo xạo sỏi và cát vàng.

Họ rời phà, đặt chân lên con đường đất đỏ, một bên là rừng cây um tùm, một bên là vách núi. Con đường chạy dần lên cao, mất hút trong khe núi. Cách bến đò không xa, ở một khúc ngoặt, họ nhìn thấy một dãy lều xinh xắn nằm bên đường, náu mình dưới những tán cây rừng. Đến gần đó là những hàng quán, bên trong khá đông khách. Những chiếc xe đạp dựng trước cửa, bụi đường màu đỏ phủ dày trên vành bánh và những nan hoa. Một con ngựa buộc cương ở thân cây ven đường, không hiểu tại sao bỗng nhiên nghển cổ hí ầm ĩ.

Mọi vật trong nhà trọ từ nhà cửa đến giường bàn, ghế ngồi đều làm bằng bương, nứa, và những cành cây. Tất cả đều nhẹ nhõm và thô sơ như bản thân chúng cũng là một bộ phận của rừngnúi, là sản phẩm của thiên nhiên.

Hai đầu nhà có hai chiếc sạp nứa dành cho khách nghỉ trọ.

Nhà văn Trường Xuân giở bộ đồ trà nhỏ xíu ra, ngồi một mình bên chiếc bàn nứa, chân bàn làm bằng những cành cây cắm thẳng xuống đất, nhấm nháp thứ nước sánh như mật, nhìn ra phố như muốn ghi lại tất cả vào ký ức.

— Độc ẩm à?

ông khách ngồi ở bàn phía bên kia hỏi sang.

Trường Xuân đáp hóm hỉnh:

— Các bạn của tôi ưa uống trà bằng chén tống, kèm they mấy thanh kẹo lạc. Nếu được cốc bột đậu thì họ càng thích hơn. Đành phải uống một mình.

— Có cần người bồi tiếp không?

— Còn gì bằng!Nếu đồng chí không chê trà nhạt, mời đồng chí sang uống cho vui.

ông khách đứng dậy đi lại:

— Sợ không xứng là người tri kỷ.

Từ lúc vào, Phong đã chú ý đến ông khách. Một người đứng tuổi có nước da nâu, có bộ ria mép đen nhánh và cặp mắt rất sáng. Ông mặc quần áo nâu bằng vải thô, kiểu nông dân như những người cùng nhóm. Nhưng ai cũng có thể phân biệt được ông là một cán bộ cấp cao đi với những người bảo vệ. Ông ngồi một mình hút thuốc lá liên tục, loại thuốc lá đắt tiền tỏa ra thứ hương thơm mùi nho chín. Mỗi lần ông đưa điếu thuốc lên miệng, chiếc đồng hồ vàng, to mặt và rất mỏng, lại lộ ra ở cườm tay. Chiếc bao da đựng khẩu súng ngắn thỉnh thoảng thòi ra dưới tà áo cộc. Phong cảm thấy, dưới mắt của ông, anh và những người bạn trẻ của mình là những cậu bé. Có lẽ ông đã nhận thấy chỉ có Trường Xuân là người bằng vai phải lứa.

ông khách đứng lên, rời khỏi bàn. Thân hình ông khá cao lớn, rắn chắc như một cây lim già. Dáng đi của ông mềm mại như một con báo. Ông có dáng dấp một nhà quân sự hơn tất cả những cán bộ quân sự mà anh đã gặp.

Trường Xuân quay lại sạp, lấy từ trong ba lô ra, chiếc chén hạt mít thứ hai, rồi trở về bàn, rót nước mời khách. Khách cũng móc túi, bỏ bao thuốc Phi-líp ra mời.

— Anh mới ở chiến khu ra? - Trường Xuân hỏi.

— Cả nước bây giờ đâu chẳng là chiến khu! Đây cũng là chiến khu.

Trường Xuân cười gượng:

— Chắc anh ở cơ quan Bộ Tổng?

— Không. Mình ở nơi khác tới. Anh mới lên Việt Bắc lần đầu?

— Vâng. Trăm nghe không bằng một thấy...

— Anh ở bên dân chính à?

— Tôi là quân nhân từ khi bắt đầu đi lên đây. Một quân nhân chưa được học "nghiêm, nghỉ"...

— Chẳng cần học những thứ đó làm gì! Bộ đội mình bây giờ là bộ đội du kích. Chỉ cần học bắn súng, ném lựu đạn, đâm lê...

Ông quay sang Phú. Ông đã nhận ra trong số người ngồi đây, Phú có dáng bộ đội nhiều hơn cả. Ông hỏi:

— Đơn vị đồng chí còn học nghiêm, nghỉ và đi đều không?

Phú đáp một cách lễ phép:

— Báo cáo, có ạ.

ông lắc đầu:

— Đã nói rồi, người ta vẫn không nghe!... Nhà dân sự này cũng thuộc đơn vị đồng chí?

— Báo cáo anh, đó là nhà văn Trường Xuân. Cả gia đình nhà văn Trường Xuân vừa mới tòng quân.

Ông khách nhìn Trường Xuân, mắt hơi nheo lại như cười. Rồi ông chìa tay về phía Trường Xuân, chiếc đồng hồ lấp lánh lộ hẳn ra ở cổ tay.

— Hân hạnh làm quen với nhà văn. Mình làm công tác quân sự... Anh có biết Chu Minh, Hoài Giang, Nguyễn Duy, Đỗ Tùng...không? Các anh ấy ở chỗ tôi cả.

Trường Xuân gật đầu. Đó là tên những nhà văn, nhạc sĩ và họa sĩ rất quen biết. Khách hỏi tiếp:

— Lần đầu lên khu căn cứ, đã có cảm xúc gì chưa?

Trường Xuân đã biết mình đang ngồi trước một nhân vật quán trọng, đắn đo rồi đáp:

— Tôi thấy ngợp trước khung cảnh hùng vĩ... Đúng là Thánh địa của kháng chiến, bất khả xâm phạm.

Khách nhè nhẹ lắc đầu:

— Trong cuộc chiến tranh này, không có nơi nào là Thánh địa, không có nơi nào là bất khả xâm phạm. Đế quốc Pháp có những mũi dùi mạnh, chúng có thể xuyên qua hết... Vừa rồi tôi gặp ông như tư lệnh Khu Việt Bắc, ông ấybảo tôi: "Các anh phải đề phòng, khu Ba, khu Tư là đồng bằng đông người, nhiều của, thu đông này, quân Pháp sẽ đánh vào chỗ các anh". Tôi nói: "Không phải đâu, nó sẽ nhảy dù xuống đầu các anh cho mà xem!". Đất mình hẹp quá, khó bề xoay xở. Người ta dùng du kích chiến, mình cũng dùng du kcíh chiến. Người ta đánh du kích với từng tiểu đoàn, binh đoàn. "Du" của người ta là từ biển lên rừng, từ rừng xuống biển. "Du" của mình là mấy anh dân quân chạy từ xóm này, qua xóm khác. Đất chật, người thưa, đó là cái khó của ta!... Cán bộ quân sự của mình lại ít quá...

Mọi người lắng tai nghe khách nói. Khách đã quên đây là một quán trọ. Ông biết không ai có thể bắt bẻ được mình. Thực ra trong quán ngoài mấy chiến sĩ đi theo ông, chỉ còn có nhóm Trường Xuân. Chủ quán và những người trong gia đình vẫn lúi lúi đun nấu dưới bếp. Nếu họ có nghe lõm bõm những điều này, họ cũng chẳng hiểu khách đang nói gì...

Khách bỗng hỏi:

— Các đồng chí ở đơn vị nào nhỉ?

Phú đáp:

— Báo cáo anh: đại đội 200, binh đoàn của Bộ.

— Đại đội vệ binh à?

— Không phải ạ. Đại đội nông binh.

— Có đại đội nông binh?

— Chúng tôi mới tổ chức nông trường.

— Lại có cả nông trường nữa ư...? Cũng hay! "Làm cách mạng mà không biết đến kinh tế là "cách" cái "mạng" của mình. Làm được bao lâu rồi?

— Chúng tôi mới cấy lúa vụ đầu.

— Quan trọng chưa phải là làm nông trường, mà phải làm cách mạng điền địa...

Rồi như chợt nhớ ra những người ngồi đây không hiểu biết bao nhiêu về vấn đề mình đang nói, ông quay sang bảo Trường Xuân:

— Anh đi sâu vào nông binh là rất tốt. Nhà văn các anh cần phải hiểu kỹ về nông dân. Trước khi tôi đi đây, Đỗ Tùng có đưa tôi xem bài thơ "Tống quân hành" anh ấy mới làm. Xem xong, tôi hỏi:"Anh viết cho ai đọc đây? Nếu anh viết cho các chiến sĩ của tôi đọc, thì họ không hiểu. Còn nếu anh viết riêng cho tôi, thì tôi thích bài thơ của Đỗ Phủ hơn. Tôi không so sánh anh với nhà thi bá đời Đường, nhưng xin lỗi anh, đứng về phương diện cách mạng thì Đỗ Phủ sinh ra trước ta một ngàn hai trăm năm, còn cách mạng hơn anh trong bài thơ này. Chúng ta được phép thua Đỗ Phủ về mặt thơ, phú nhưng không được phép thua về tình cảm cách mạng". Anh ấy nói: "Đồng chí yêu cầu tôi cao quá, tôi mới đi kháng chiến hơn nửa năm, đồng chí đã bắt tôi phải có được những tình cảm của người cách mạng... Tôi biết làm thế nào bây giờ!". Tôi nói: "Vấn đề là anh phải cải tạo tình cảm, phải đi sâu vào nông dân"...

Trường Xuân nói:

— Tôi rất yêu thơ Đỗ Tùng... Tôi đã nói với mấy anh bạn trẻ, các anh chọn tôi vào bộ đội để viết về nông dân là các anh chọn lầm người, tôi chưa bao giờ viết về nông dân cả...

Hình như Trường Xuân không sợ làm phật lòng người đối thoại. Khách lại nói:

— Cái bình cũ cứ dùng, nhưng phải đưa vào đó một thứ rượu mới. Điều quan trọng là làm sao có rượu mới...

Một anh bộ đội lớn tuổi cưỡi con ngựa ô ướt đẫm mồ hôi từ bến đò phóng lên làm ngừng câu chuyện văn chương.

Ông khách quay ra cửa gọi giật giọng:

— ông đi ngựa ơi!... Vào đây cái đã!

Cách gọi nửa thân mật, nửa bề trên, vừa như trêu đùa, vừa như để giữ bí mật danh tính người được gọi.

Phong nhận ra người cưỡi ngựa chính là anh cán bộ lớn tuổi đã cùng Trần Chương và anh phóng viên tới thăm mình ở bệnh xá khi trung đoàn mới từ Hà Nội rút ra. Cuộc nói chuyện với nhà báo kết thúc kém vui vẻ làm Phong quên bẵng không hỏi Chiến Trường tên và chức vụ của người cán bộ. Vừa lúc đó, Phú thúc nhẹ khuỷu tay vào người Phong. Phong quay sang. Phú vẫn giương cặp mắt thô lố nhìn anh cán bộ vừa nhảy xuống ngựa, nói khẽ:

— Binh đoàn trưởng của chúng mình, đồng chí Trung Dũng.

Phong nhớ có lần Trần Chương đã nói tới cái tên này khi nhắc lại lời đồng chí chỉ huy trưởng của Mặt trận Hà Nội. Vậy binh đoàn trưởng của anh cũng chính là người đã chỉ huy ở mặt trận Hà Nội.

Trung Dũng buộc ngựa ở gốc cây rồi đi vào trong quán.

Anh giơ tay lên vành mũ chào ông khách rồi nở một nụ cười cởi mở, hỏi với giọng lễ phép:

— Anh mới ra?

— Vừa tới chiều nay, mai vào Bộ. Đi đâu mà một người một ngựa?

— Tôi vừa đi thăm anh em.

— Quân của anh ở chật quán này... Lính nông binh.

Ông khách hất cầm về phía Phong và Phú. Trung Dũng quay đầu nhìn họ. Cặp mắt anh hơi dừng lại ở Phong. Anh mỉm cười gật đầu đáp lại khi thấy hai người đứng dậy. Phong đoán anh không nhớ ra mình.

ông khách lại hỏi:

— Chỗ anh mới tổ chức nông trường à?

— Theo chỉ thị của trên, làm thí nghiệm.

— Cũng hay... - ông khách nhận xét lửng lơ.

— Nghe nói quân khu ta làm Đại Hội Tập kết quả lắm.

— Chưa biết kết quả hay không, phải chờ đánh đã. Thắng to thì kết quả to, thắng nhỏ hay không thắng thì không kết quả. Lâu ngày mới gặp, tôi có một chuyện muốn hỏi anh... Chung quanh đây toàn anh em ta cả, không ngại gì... Anh uống nước, nếm trà của nhà văn.

Trường Xuân đã tráng nước sôi vào chiếc chén của mình và rót trà mời người khác mới tới. Trung Dũng nhìn cái chén hạt mít hơi mỉm cười. Anh tháo dây quai, bỏ chiếc mũ xuống ghế, cầm chiếc chén nhỏ uống một hơi. Có lẽ đi đường xa về, anh đang khát. Bỗng anh nhăn mặt kêu lên:

— Chà!... Tê cả lưỡi. Tôi chưa uống trà đặc thế này bao giờ!

— Phải uống như vậy, uống từ từ mới đã khát.

Trung Dũng ngồi nghiêm trang. Bộ tóc đen và dày cắt rất ngăn dựng đứng trên đầu anh một cách bướng bỉnh, thách thức. Có vẻ anh đang chờ đợi những câu hỏi của ông khách.

ông khách mấp máy hàng râu đen nhánh, hơi mỉm cười:

— Những ngày đánh nhau ở Hà Nội, tôi rất lo cho anh. Nghe nói anh dùng chiến thuật "trung độc chiến" à? Anh kiếm nó ở sách nào vậy?

— Có sách vở nào đâu!... Túng thì phải tính. Và có sự chỉ đạo của trên.

— Anh để lại Liên khu I một đại đội à?

— Lúc đầu là hai đại đội. Nổ súng xong, hai đại đội này bị cắt làm đôi. Bên trong còn một đại đội.

— Thằng địch gian mà không ngoan... Suýt nữa thì anh nướng hết. Đáng lẽ phải rút ra từ sớm.

— Không rút được. Phải ghìm chân quân địch để các cơ quan lãnh đạo di chuyển. Rút thì vỡ mặt trận ngay vì mất cái thế trong đánh ra ngoài đánh vào.

— Anh cho rằng nó không thể diệt được một nhúm bộ đội của anh à?

— Còn cả hàng ngàn tự vệ. Lực lượng chủ yếu ở Hà Nội là tự vệ.

— Đó chính là cái nguy cho anh. Tự vệ chỉ là những người dân không được huấn luyện quân sự, không biết về chiến kỹ thuật. Vấn đề này đã tổng kết rồi. Những nhà mác-xít kinh điển nói từ lâu: khi địch đã có pháo binh, những người khởi nghĩa rất khó đương đầu trong những trận đánh ở thành phố. Lịch sử đã chứng minh nhiều rồi. Ở Pháp là Pa-ri. Ở áo và Viên. Ở Phổlà Đrét-xden... Dùng vật chướng ngại để đánh với quân của bọn thống trị đều thất bại. Ngày nay không phải địch chỉ có đại bác, chúng còn cả xe bọc thép, xe tăng, máy bay... - ông nhấn mạnh - Không thể dùng tự vệ chiến đấu ở thành phố được!

Trung Dũng đáp lại với vẻ tự tin:

— Nhưng trong thực tế ở Hà Nội, ta đã thử cho anh em đánh một tháng, thấy được, ta để anh em đánh tháng nữa. Khi rút ra rồi, nhiềuanh em nói, nếu được tiếp tế thêm đạn và gạo, ở nữa cũng không sao. Tôi cũng cho rằng địch không thể tiêu diệt được ta.

— Vì sao? - ông khách hỏi với giọng hơi sẵng - Tự vệ không sợ đạn ư?

— Anh em có sợ. Có người rất sợVì sợ đạn nên họ phải làm cách nào cho địch không bắn trúng. Họ phải tìm mọi cách làm cho mất mục tiêu. Trước kia những người khởi nghĩa nằm ở ngay sau chiến lũy để chống quận địch, địch đánh tan chiến lũy thì lực lượng khởi nghĩa cũng tan... Ở Hà Nội, tự vệ không nằm ở chiến lũy. Anh em không nằm cố định ở bất cứ chỗ nào: bao lơn, cửa sổ, mái nhà, cột điện, gốc bàng, gốc sấu... hoặc bất cứ ngõ ngách nào mà chúng không ngờ tới. Chiến lũy vỡ cũng không sao. Vỡ lớp này, còn lớp khác. Ta làm rất nhiều "then cài". Mất nhà này, còn nhà khác. Mẫy dãy phố này, còn dãy phố khác... Còn khi nào nguy ngập thì ta vẫn có đường rút ra. Đánh kiểu ấy chả cần phải huấn luyện nhiều. Ném một quả lựu đạn, bắn vài phát súng rồi di chuyển, đó là chuyện phụ nữ, em nhỏ đều làm được.

— Nếu hay như vậy sao không để tất cả tự vệ ở trong Hà Nội?

— Cũng không thể biết hết mọi chuyện ngay từ đầu... Như tinh thần chiến đấu của dân ta chẳng hạn, chỉ có đánh nhau rồi thì mới thấy hết... Riêng tôi vẫn cho rằng trong đánh, ngoài vây tốt hơn. Buộc quân địch lúc nào cũng phải lúng túng đối phó ở cả hai mặt. Sớm muộn ta cũng rút. Đưa một số quân nhỏ trong thành phố ra êm hơn là cùng một lúc rút quân ở cả thành phố. Nhưng mai sau có dịp đánh ở thành phố nữa, ta sẽ rút kinh nghiệm lần này, và sẽ đánh khác. Lực ta còn nhỏ phải đánh nhỏ, ăn chắc.

— Vậy ai đã tập trung cả trung đoàn đánh vào thị xã Hà Đông?

Cặp mắt sắc sảo của ông khách đăm đăm nhìn Trung Dũng. Mặt anh đỏ lên. Anh ngập ngừng rồi nói:

— Tôi chịu trách nhiệm về trận đó. Chưa đánh giặc thì phải vừa đánh vừa học. Có thành công, có thất bại. Thành công, thất bại đều có bài học.

— Anh định sẽ đem kinh nghiệm ở Hà Nội để đánh địch ở Việt Bắc?

— Có rút kinh nghiệm ở Hà Nội, nhưng ở Việt Bắc lại phải có cách đánh ở Việt Bắc.

— Nếu vậy thì ông nên viết sách đi! Những điều ông vừa nói toàn lá vấn đề mới cả. Trong chiến tranh kháng Nhật ở Trung Quốc, Mao Trạch Đông đã cấm không cho bộ đội du kích vào sâu những vùng thành thị lớn, ga xe lửa, sân bay... tức là những nơi địch tập trung lực lượng mạnh.

— Tôi không dám nghĩ đến chuyện viết sách. Nhưng trong thực tế gần đây ta vẫn đánh vào Hải Phòng, vào sân bay Cát Bi, sân bay Gia Lâm, và đánh có kết quả. Ở Hà Nội, ta để lại một đại đội, nhưng khi rút ra ta có cả một trung đoàn.

Ông khách ngồi im. Dường như mọi câu hỏi ông nêu ra đều được Trung Dũng trả lời khá rõ ràng. Đôi ria mép đen nhánh lại mấp máy. Giọng nói của ông bắt đầu dịu lại:

— Theo tôi thì anh chuẩn bị mà đối phó với quân địch trong mùa thu - đông này, ngay ở đây.

— Báo cáo anh, Việt Bắc đã bắt đầu phá hoại đường sá. Anh lên đây bằng xe đạp?

— Xe đạp.

— Anh để xe đạp lại đây, dùng tạm con ngựa của tôi.

— Cảm ơn... Còn mấy anh em đi cùng mình. Mình đã quen đạp xe theo hình chữ chi.

— Xin phép anh tôi trở về đơn vị. Nếu có dịp mời anh ghé qua Binh đoàn bộ.

— Cám ơn... Rất cám ơn.

Khi Trung Dũng lên ngựa đi rồi, ông khách ngồi lặng một lúc. Ông cầm bao thuốc lá mời Trường Xuân, rồi rút một điếu châm lửa. Từ nãy đến giờ mải tranh luận, ông đã quên không hút thuốc.

Mùi nho chín lại phảng phất trong căn nhà.

Ông khách bỗng hỏi Trường Xuân:

— Anh đã đọc Clao-dơ-vít chưa?

Trường Xuân lắc đầu.

— Clao-dơ-vít nói: "chiến tranh là một canh bạc". Được một canh, chớ nghĩ là mình giỏi...! Nói chuyện với mấy anh chàng chưa hiểu về nguyên tắc, lý luận, thật khó!... Ta lại tiếp tục câu chuyện "bình cũ rượu mới" nhé...

Trời tối, các quán đều chật ních. Đến đây không còn thấy những người buôn bán như ở vùng xuôi. Khách hàng là những anh bộ đội từ khu căn cứ ra hoặc ở bên kia sông mới sang dò. Những người đến muộn nằm ken nhau, hai người chung một chiếu nhỏ, trên sạp nứa.

Cái nắng ngột ngạt ban ngày đã nhường chỗ cho hơi lạnh ban đêm của rừng núi, một thứ hơi lạnh ẩm ướt như luồn qua da thịt, thấm vào những ấm xương.

Chiều nay, Phong đã lắng nghe không sót một lời cuộc trao đổi giữa những người khách. Nếu còn ở Vân Đình chắc không bao giờ anh được gặp họ trong trường hợp như thế này. Anh nhận thấy Trung Dũng, người chỉ huy của anh trước kia cũng như bây giờ có lý hơn. Trung Dũng đã giúp anh hiểu được cuộc chiến đấu mà bản thân anh đã trải qua ở Hà Nội. Đó cũng chính là những điều mà anh không giải thích được khi kể chuyện về Hà Nội cho Chiến Trường. Nhưng anh cũng rất thích kiến thức rộng của ông khách có bộ ria đen nhánh kia. Nhận xét của ông về bài thơ của Đỗ Tùng làm cho anh thấm thía. Nếu ông đọc những bài thơ của anh trước đây, chắc ông sẽ nặng lời hơn. Khi làm bài thơ đó, ít nhất Đỗ Tùng cũng nghĩ đến những người chiến sĩ ra trận, chứ còn trong những bài thơ của anh, anh chỉ nghĩ đến mình, đến một tình yêu vô vọng, đến một nỗi buồn vu vơ. Lúc đó, anh đã nhớ tới bài thơ về người chiến sĩ vô danh. Anh nảy ra ý nghĩ muốn đọc cho ông nghe để nhận những lời chỉ giáo chắc rất bổ ích của ông, nhưng anh không dám, vì thấy đó là một sự quấy rầy.

Khi mọi người đã nằm yên trên sạp, có tiếng nói từ ngoài cửa vọng vào:

— ông Quán ơi! Cho ghé một chỗ nào!

— Sao bây giờ mới đến? Chật ních rồi! - Chủ quán từ nhà trong đáp ra.

— Không còn chỗ nằm thì cho chỗ ngồi... Nhưng mà... có biết ai đây không?

— Biết...

— ông biết tính tôi, ngồi suốt đêm được mà!

Chủ quán từ trong nhà đi ra.

— Còn gì nhắm đâu mà ngồi suốt đêm1

— Quả ớt, nhúm muối cũng không còn ư?

— Hết tất... - Chủ quán nhìn quanh lẩm bẩm - Nằm vào đâu bây giờ hở ông Nho già!

Phong bật người ngồi dậy,ló đầu ra khỏi màn:

— Anh Nho đấy à?

— Ai đó?

Nho dướn cổ, nhìn, rồi kêu lên:

— Trời! Cậu Phong. Nghe cô Mai nói cậu bị thương nặng lắm kia mà!

— Tôi khỏi rồi!

Phong nhảy xuống giường, ôm choàng lấy Nho. Anh đầu bếp của hiệu cao lâu Đông Hưng Viên khi ra đi để lại cho Phong một ấn tượng không hay, nhưng lúc này, anh chỉ nghĩ mình gặp lại một người đồng chí cũ, gặp lại một người đã chung sống với anh trong những ngày không thể nào quên ở Liên khu I. Người anh Nho ướt đẫm mồ hôi. Trong mùi mồ hôi của anh dường như có lẫn mùi rượu.

Anh Nho rên rỉ:

— Trời ơi! Cậu Phong! Cậu Phong...

Mắt Phong mờ đi, anh chớp vội, hai giọt nước mắt âm ấm lăn trên gò má.

— Cô Mai vẫn ở cùng anh à?

— Không, cô Mai đi cùng trung đoàn về Thái Nguyên.

— Vậy anh ở đâu?

— Tôi ở với tiểu đoàn 2. Tiểu đoàn 2 là bộ phận trung đoàn ra trong ngày ngừng bắn. Hôm đó, tôi kiếm mãi mà không thấyanh. Khi gặp cô Mai lên đây với anh Nhã tôi mới biết anh và côMai đều trốn ở lại và anh bị lựu đạn suýt chết ở phố Hàng Thiếc. Tôi tưởng anh giã từ bộ đội rồi, ai ngờ hôm nay lại gặp anh ở đây... Trời ơi! Cậu Phong... Tôi rất quý cậu. Hồi ấy, cái con Nguyệt nó lắm lời quá, thành ra tôi phải bỏ đơn vị sang khu Đông Kinh Nghĩa Thục, ở với anh Tôn Chỉ...

— Đồng chí Tôn Chỉ hy sinh rồi!

— Tôi biết rồi. Tôi đã hỏi thăm không thiếu một anh nào... Tôi biết cả chuyện hai thằng nó ném cậu ở gầm cầu Long Biên, tôi mà gặp thì tôi cho chúng nó mấy gậy...

Anh Nho quay về phía chủ quán:

— Thôi mời ông Quán đi ngủ đi. Không phải lo chỗ nằm cho tôi nữa. Anh em cùng chiến đấu ở Thủ đô gặp lại nhau... Cậu có chê tôi hôi hám, tối nay tôi cũng phải nằm với cậu một đêm.

— Đêm nay, anh ngủ chung với tôi. - Phong nói.

ông chủ quán định đi vào thì anh Nho níu tay lại:

— Chết cha! Suýt nữa thì quên... Tôi chưa ăn uống gì. Cho tôi cơm ăn với gì cũng được, nhưng cần nhất là... cái kia. Sinh tử mới gặp lại nhau, phải có cái gì mừng chứ cậu Phong nhỉ? Cậu có nhớ hôm đánh nhà Chí Lợi không? Bữa ấy, tôi làm hai con gà quay và mời cả tiểu đội mỗi người một chén rượu. Tôi thật không ngờ gặp lại cậu. Cậu đi vào phải không?

Phong gật đầu.

— Thế thì cậu sẽ gặp tất cả anh em ta. Tiếc quá! Ngài may tôi lại raTôi đi chợ Đoan Hùng mua thức ăn cho đơn vị. Nếu không, tôi phải đưa cậu vào đơn vị chơi một buổi.

— Đơn vị ở gần đây.

Anh Nho gật đầu. Anh ghé tai Phong nói nhỏ:

— Sống chết với con đường này, bến đò này. Cửa ngõ của Việt Bắc...

Nhấm nháp từng ngụm nhỏ, cuối cùng Phong đã uống cạn cả chén rượu anh Nho rót cho mình. Người anh lâng lâng. Anh đang sống lại những ngày chiến đấu hào hùng ở Liên khu I. Miền đất này đối với anh không còn xa lạ nữa. Từ ngày ra đi, anh vẫn ngong ngóng chờ gặp lại một người của đơn vị. Anh đã gặp lại họ ngay ở cửa ngõ Việt Bắc. Anh đã trở về với cái gia đình lớn của mình. Anh đã nhìn thấy bóng dáng Thủ đô. Thủ đô đã chuyển lên giữa rừng già Việt Bắc. Những nhân vật của Liên khu I, của Hà Nội lần lượt hiện ra trong óc anh. Anh nhìn rõ nét mặt từng người và nghe thấy cả tiếng nói, tiếng cười của họ. Không ngờ cái anh Nho ngày trước đã gây cho anh sự bực bội, mà không bao giờ Phong nhớ tới, lại vẫn nghĩ tới mình! Không nogừ cái anh Nho này lại đáng yêu đến thế! Mình quả thực còn nông nổi trong việc xét đoán con người.

Chắc cũng còn nhiều người nữa vẫn nghĩ tới mình cũng như mình luôn luôn nghĩ tới họ. Anh bỗng nhớ tới người con gái, gần đây nhất, đã gắn bó với anh, và đã đem lại cho đời anh những giây phút xốn xang. Ngôi nhà ông bà Toàn Thịnh tại Hà Nội, nơi Dung đang ở hiện ra trong óc anh. Những hình ảnh đó phút chốc đã mờ tịt đi trong đám mây màu xám dày đặc của quá khứ. Thủ đô không còn ở đó. Một đám mây đen đã bao phủ cái thành phố đổ nát bên bờ sông Hồng, Thủ đô ngày nay ở đây, giữa núi cao rừng cả, giữa màn sương lạnh bao phủ khắp nơi, giữa tiếng mang tác và tiếng chim tử quy khắc khoải, với những con người đầy sức sống, đầy tình thương, đầy sức mạnh sẽ xoay vần thế cuộc nay mai...

h, chuyện trinh thám cũng như chuyện vui. Không biết cậu ta sưu tầm đâu được nhiều chuyện đến thế? Lẫm kể chuyện như người đóng kịch làm cho các em cảm thấy câu chuyện đang diễn ra ngay trước mắt. Lẫm lại có tài bắt chước các loại âm thanh
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.