Khi hoạch định kế hoạch chiến dịch tiến công Việt Bắc, tướng Xa-lăng đã từng là đồn trưởng một đồn binh Pháp đóng ở miền thượng du Bắc Kỳ thời Pháp thuộc, cho rằng: Sự trỗi dậy ở Việt Nam là do người Kinh ở vùng châu thổ, còn người thiểu số ở các miền thượng du thì vẫn trung thành với Pháp. Đó là cơ sở thuận lợi để giành chiến thắng trong cuộc tiến công nhằm bắt chính phủ kháng chiến và tiêu diệt lực lượng vũ trang kháng chiến.
Nhưng nhiều điều những tướng lĩnh Pháp hy vọng đã không diễn ra.
Không có những quan lang, phìa, tạo đưa dân chúng ra đón rước những sứ giả từ "nước mẹ" tới. Tất nhiên, không có rượu cần và gái đẹp. Lính nhảy dù nhanh chân cũng chỉ vớ được một ít trâu, bò, lợn, gà trong buổi đầu tiên. Những người dân trung thành với các quan cai trị thời Pháp thuộc đâu rồi? Họ đã lẩn trốn chúng như tránh những kẻ mắc bệnh dịch hạch. Vậy làm sao kiếm ra được bọn tay sai để chỉ điểm cho quân viễn chinh, cơ quan Chính phủ, kho tàng, bộ đội chủ lực của đối phương ở chỗ nào, mặc dù nhiều lúc những gì chúng đang tìm kiếm đã ở ngay trước mắt.
Một điều kẻ địch hết sức mong muốn là những đội quân của đối phương sẽ dàn trận ra chiến đấu với chúng. Có lẽ nào họ lại không đánh đến cùng để bảo vệ khu căn cứ của kháng chiến? Nhưng chúng đã không hề gặp một đoàn quân lớn nào. Cái chúng gặp là một đạo quân vô hình, là cái chết rình rập ở khắp nơi. Chúng luôn luôn cảm thấy bị bao vây bốn phía... Đi ra ngoài một bước lập tức bị đạn bắn tỉa từ trên núi cao. Trong tập hồi ký của mình sau này, Xa-lăng viết: "Họ còn đánh những trận phục kích lớn hàng mấy trăm người, bằng những quả mìn điều khiển từ xa kết hợp với súng máy trên những đoạn đường dài khiến cho quân Pháp bị tổn thất nặng nề". Đó là trận địa lôi táo bạo của mười chiến sĩ tự vệ và công an tại cây số 7 đường Tuyên Quang - Hà Giang, diệt một đại đội địch, làm một cuộc hành binh phải bỏ dở. Đó là trận đánh của một tiểu đoàn thuộc trung đoàn Lạng Sơn tại Bông Lau, trên đường số 4, từ Thất Khê đi Cao Bằng, diệt cả đoàn xe gần ba chục chiếc, tiêu diệt hai trăm rưởi tên địch, máu nhuộm đỏ cả rừng cây. Đó là trận đánh của pháo binh Khu Mười trên sông Lô. Bộ đội đặt pháo ngay bên bờ sông, nhắm những tàu chiến, ca nô địch qua nòng pháo, bắn không trật phát nào. Một tàu chiến và bốn ca nô địch chìm xuống dòng sông kéo theo ba trăm tên địch.
Sự mất an ninh kéo dài suốt dọc đường hành binh trên sông Lô, sông Gâm, đường số 3, đường số 4. Kẻ địch buộc phải đóng thành đồn bốt để tự bảo vệ. Mỗi vị trí như vậy ngốn của chúng không ít quân. Binh lính đồn trú hàng ngày phải ra sức kiến thiết những công trình phòng thủ. Chúng còn phải đi càn quét vùng chung quanh để tìm kiếm lương thực và đẩy sự nguy hiểm ra xa. Việc chúng làm được là đốt phá thêm một số bản, làng không có người ở. Việc chúng không làm được là không sao tìm kiếm được lương thực và nhất là không có cách nào diệt trừ những cây súng bắn tỉa. Mỗi cuộc lùng càn lại chuốc lấy những tổn thất mới. Nguồn lương thực hàng ngày chỉ còn trông vào máy bay thả dù tiếp tế và những đoàn xe vận tải. Muốn bảo vệ cho những đoàn xe này, chúng lại buộc phải rải quân trên những tuyến đường giao thông huyết mạch: đường số 3 và đường số 4. Khi binh đoàn phía đông của Bô-phrê tới được Bắc Cạn thì binh lực của hắn cũng vừa cạn.
Thêm vào đó, khí hậu và muỗi rừng Việt Bắc, như một thứ nước cường toan, góp phần gặm mòn nhanh chóng các đơn vị quân viễn chinh. Nhiều lính Pháp mắc bệnh sốt rét và kiết lỵ.
Những nhát búa của cuộc tiến công đã giáng vào chân không. Những mục tiêu chính của chiến dịch: bắt Chính phủ kháng chiến, tiêu diệt bộ đội chủ lực đều không đạt được, và ròang là sẽ không bao giờ đạt được. Thời hạn "hai tuần" đã qua từ lâu.
Trung tuần tháng Mười Một, địch phải colại ở một số nơi. Ở hướng tây, Com-muy-nan bỏ Đầm Hồng, Chiêm Hóa, thị xã Tuyên Quang, rút về Bình Ca trong một đêm tối trời. Tại đây, chúng chia làm hai bộ phậnBộ phận nhỏ theo dòng sông Lô về xuôi. Bộ phận lớn tiến vào châu Tự do.
Ở hướng đông, Bô-phrơ bỏ Nguyên Bình, Ngân Sơn, Chợ Đồn, Chợ Rã rồi kéo về Chợ Mới.
Những ngày cuối tháng Mười Một, cả hai cánh quân cùng kéo về Quán Vuông, kẹp khu căn cứ có nhiều cơ quan lãnh đạo cuộc kháng chiến vào một góc hẹp.
Quân địch nhảy dù đồng thời trên nhiều điểm chung quanh khu căn cứ: Cù Vân, Đại Từ, Vũ Nhai, Tràng Xá. Cùng lúc, ở phía xuôi, quân địch từ Hà Nội tiến lên Vĩnh Yên, và từ Phả Lại tiến lên Bắc Giang.
Đầy trời quân dù. Các con đường chính ở khu căn cứ nơi nào cũng dày đặc quân địch. Những cuộc điều quân phức tạp của địch, giống như một trận càn quét lớn nhắm vào giữa lòng căn cứ Việt Bắc.
Sau khi rời tiểu đoàn 1 ở Bắc Cạn, Nhã cùng Hội và Mai quàyvê với tiểu đoàn 3 đang nằm phục tại Quán Vuông, trên đường số 3B, chờ quân địch sớm muộn cũng đẩy sâu mũi dùi tiến công vào khu căn cứ.
Tiểu đoàn trưởng của đơn vị này chính là anh cán bộ người bé nhỏ, có cặp mắt sắc, Nhã đã gặp ở Ngõ Gạch trước khi nổ ra trận đánh chợ Đồng Xuân. Trông anh vẫn y như hôm đó. Vẫn chiếc mũ bê rê đội lệch trên đầu, hàm râu quai nón được cạo kỹ lưỡng để lại một vòng xanh xanh ôm lấy hai bên má, nối iền đôi mái tóc mai. Nhã vẫn chưa quên bộ mặt khó dăm đăm đăm, nhất là cái vẻ hoài nghi hiện lên ở đôi mắt hơi dữ của anh, khi nghe Chương giới thiệu Nhã là một người có nhiều sáng kiến về chiến thuật.
Nhưng lần này, Hồng Đăng, tên đồng chí tiểu đoàn trưởng, đã có một thái độ khác hẳn đối với Nhã và những người cùng đi. Anh hoàn toàn không coi họ như những chiến sĩ hoặc cán bộ cấp dưới. Anh gọi Tyết Mai bằng "chị". Cô gái bối rối trước cãchưng hô này. Từ ngày vào bộ đội, lần đầu cô được một cán bộ cấp trên gọi mình như vậy. Hồng Đăng nói năng với họ nhẹ nhàng, thỉnh thảong lại điểm một nụ cười. Nụ cười àm cho bộ mặt anh mất hẳn cái vẻ khó gần, và trở nên dễ thương. Nhã đoán anh không quên buổi gặp mình ở Ngõ Gạch, vì mình có những nét hơi khác người. Nhã cũng hiểu, nếu mình và các bạn có giữ một chức vụ như Chương, cũng đừng mong được đồng chí tiểu đoàn trưởng này đối xử một cách lịch sự như vậy. Đây là thái độ của anh dành riêng cho những người nghệ sĩ. Anh muốn tỏ ra biết tôn trọng họ. Họ được chăm sóc chu đáo: ở cùng dãy lán với ban chỉ huy tiểu đoàn, ăn cơm với ban chỉ huy do người chiến sĩ liên lạc đem tới, và được ngồi nghe cả những buổi bàn bạc về nhiệm vụ chiến đấu. Tuy vậy, họ cảm thấy không được tự nhiên như khi ở tiểu đoàn Chương. Sự tôn trọng cộng với vẻ sắc sảo của chủ nhân buộc họ phải có thái độ thận trọng, giữ gìn.
Họ đã được dự một số trận đánh của tiểu đoàn đọc đường số 3B và ở Đại Từ. Những trận đánh diễn ra sôi nổi và hào hứng.
Cũng giống như tiểu đoàn 1, sau mấy tuần nằm rừng chờ địch, tiểu đoàn 3 chỉ còn trên một trăm chiến sĩ khỏe mạnh khi quân địch xuất hiện. Hơn một trăm chiến sĩ này phải đương đầu với cả một đám quân địch đông nhưng nhúc. Chúng từ Bắc Cạn đổ về, từ Tuyên Quang kéo sang và từ trên trời ập xuống. Chúng đi chật đường cáiCó cả những toán quân nhỏ, nghe nói là bọn lính lê dương chuyên đánh rừng, luồn theo những con đường tắt, hy vọng chộp bắt một cơ quan đầu não nào đó của ta. Chúng di chuyển không vội vàng trên những chặng đường ngắn. Chúng tàn phá tất cả những gì chúng gặp trên đường. Chúng đóng lại ở từng chặng và lùng sục những vùng chung quanh. Đó là những bước đi của một đàn voi rừng đông đảo, in dấu chân trên mặt đường bằng bom đạn, như muốn nhắc nhở với mọi người: khôn ngoan nhất là nên lánh xa chúng.
Nhưng Bộ Tổng chỉ huy đã khẳng định với họ là kẻ địch đang rút chạy.
Tiểu đoàn trưởng Hồng Đăng hoàn toàn tin vào nhận định của cấp trên. Anh điều động hơn một trăm chiến sĩ của mình suốt ngày đêm vào cuộc truy kích địch như chỉ lo chúng tuột khỏi tay mình. Tất nhiên, họ không nghễu nghện kéo cả ra mặt đường cái, đuổi theo quân địch để làm mồi cho bom đạn. Họ luồn rừng, chạy men theo đường địch di chuyển, vượt lên trên, tìm một địa điểm thuận lợi đón đợi chúng. Trận đánh diễn ra chớp nhoáng, khi quân địch kịp thời dồn lên để đối phó thì họ đã biến vào rừng, tiếp tục vọt lên phía trước và tổ chức một trận đánh mới. Chỉ sau vài lần như vậy, các chiến sĩ của ta đã hiểu rằng, mình đang chiến đấu với một tên địch khổng lồ, nhưng đúng là nó đang ở trên đường rút chạy, phải nhanh chóng và quả cảm lao vào chúng để gây cho chúng thêm nhiều thương tích. Và trong nhiều trận đánh, họ đã gặp những chuyện không may. Lần thì địch dồn đúng vào nơi họ chôn bom, nhưng khi giật, bom không nổ. Lần thì chúng vừa tới trận địa phục kích, đã nghe thấy những tiếng ho không thể kìm được, bật lên từ đám cây xanh ven đường, chúng vội báo cho bọn đi sau dừng lại, và nã súng vào đó như mưa. Những chuyện địa lôi không nổ, những tiếng ho làm lộ trận địa không phải chỉ diễn ra một lần. Tuy vậy, tiểu đoàn 3 vẫn làm chết và bị thương vài trăm tên địch trên đường rút chạy. Nhiều lần, Nhã xuýt oa tiếc rẻ giá họ có thêm vài khẩu trung liên, hoặcmôt hai khẩu súng cối, giá họ có đủ đạn được thì kết quả tiêu diệt địch còn lớn hơn nhiều.
Mai đã trở về ban chính trị trung đoàn ngay từ ngày đầu cuộc truy kích. Nhã và Hội bám sát tiểu đoàn, họ gắng làm mọi việc như một người lính.
Trong những ngày truy kích địch, Nhã đã có một cuộc gặp gỡ khá thú vị:
Chiều hôm đó, tiểu đoàn trưởng Hồng Đăng kéo quân đi dọc ven núi Tam Đảo để vòng ra tìm một chỗ chặn đánh địch trên con đường từ Đại Từ về thị xã Thái Nguyên. Họ không ngờ ở quãng này lại có đông cơ quan sơ tán như vậy. Những chàng trai Hà Nội, tênh tênh trên lưng, ống quần xắn cao, biết mình đang bước đi trước những cặp mắt thán phục. Những người này vào đây để lánh địch. đánh địch, đuổi chúng ra khỏi căn cứ địa thần thánh của kháng chiến, phục hồi lại cuộc sống bình thường trước kia. Họ đang là đối tượng được chiêm ngưỡng. Và trong trường hợp này, tốt nhất là cứ nhìn thẳng phía trước mà đi với một thái độ thanh thản. Họ cũng ước ao có một người quen đứng bên đường lên tiếng gọi tên mình. Tiếng gọi đó sẽ làm cho anh chiến sĩ đi trong đoàn quân ra trận trở thành một con người cụ thể, một cái tên được những người đang ngưỡng mộ này biết đến. Cuộc chiến đấu đêm nay hoặc ngày mai sẽ có ý nghĩa hơn nếu ta biết rằng có người đang nghĩ đến mình...
Nhã cũng nằm trong tâm trạng chung đó. Anh bỗng thấy hối hận vì trước khi ra đi mình đã khoác lên vai cây đàn ghi ta. Mọi ngày Hội vẫn đeo cây đàn, vì nó là của Hội. Nhã không thể mang theo chiếc phong cầm nặng nề, nên vẫn dùng chung với Hội cây ghi ta. Nhã muốn đeo giúp Hội một buổi. Không ngờ lại đúng vào dịp có cuộc "diễu binh" này. Trước cặp mắt những người ngưỡng mộ đứng kia, trong đoàn quân đi chiến đấu với mỗi chiến sĩ một cây súng, anh rõ ràng trở thành một người đitheo. Anh không coi rẻ nghề nghiệp của mình. Nhưng vào giờ phút này anh muốn xuất hiện trước mặt mọi người đúng như một chiến sĩ...
Nhã chợt chú ý đến một cô gái đứng với một nhóm không biết là bộ đội hay dân quân, họ chỉ đeo toàn lựu đạn, bên bờ suối. Cô gái nổi bật lên giữa những người khác, giữa núi rừng, vì cô mặc một bộ quần áo tuyền đen. bộ quần áo màu đen làm tôn cái cơ thể mảnh dẻ với nước da trắng ngà của cô, và nhất là nó làm tôn cặp mắt đen huyền, tưởng như trên thế gian này không có màu đen nào thắm thiết, sâu thẳm và quyến rũ đến như thế. Bộ quần áo màu đen không chỉ làm tôn mà lại như muốn che giấu nhan sắc của cô gái, và chính vì sự che giấu này lại làm cho giá trị của nó tăng lên gấp bội.
Cô gái đang mải nói chuyện với một anh bộ đội đứng như thu mình lại bên cô, không để ý đến đoàn quân đang diễu qua ngay trước mặt mình. Ngược lại, cả đoàn quân đang bị hút cả vào cô. Người thì lộ liễu, người kín đáo đưa mắt nhìn cô. Khi đi ngang chỗ cô đứng, mọi người đều như muốn dềnh dàng.
Chưa bao giờ Nhã gặp một người gây ấn tượng cho mình mạnh đến như thế. Có lẽ là tại tương quan. Cô không thể đẹp đến như vậy. Giữa những giờ phút chiến tranh, giữa cảnh rừng núi hoang vu, giữa đám người phần lớn là đàn ông, là lính tráng... nên mình đã nhìn lầm thôi, Nhã nghĩ vậy. Đôi mắt anh vẫn không rời cô. Và khi tới gần, Nhã vẫn phải chịu là cô đẹp. Một cái đẹp mảnh mai, như một cánh hoa, khiến cho người ta cảm thấy cần phải nâng niu, giữ gìn. Sao một nhan sắc như vậy lại xuất hiện giữa rừng núi hoang vu này...?
Nhã đi ngang chỗ cô gái, tự bảo mình phải chú ý đến những hòn đá cuội dưới lòng suối để không trở thành lố bịch trước mắt cô bằng mộ cái trượt ngã có thể làm vỡ cả cây đàn.
Chợt anh nghe một tiếng gọi, như có ai ghé vào tai mình mà nói:
— Nhã!
Nhã dường như chỉ chờ có thế để tránh vào bên bờ suối, nhường đường cho những người đi sau vượt lên, rồi mới quay đầu nhìn người vừa gọi. Anh buột miệng kêu lên:
— Trời! Phong...! Mình tưởng cậu biến đâu rồi!
Người đang đứng nói chuyện với cô gái chính là Phong, người bạn chiến đấu hơi khó hiểu trong những ngày ở Liên khu I, mà Nhã vẫn luôn luôn nghĩ tới. Trông cậu ta đã già dặn hơn trong bộ quần áo bộ đội màu nâu, với mấy quả lựu đạn buộc ở thắt lưng, và nhất là với nước da tai tái và hàng ria mép xanh xanh.
Phong hơi mỉm cười, nói với giọng bình tĩnh, như anh đã biết trước là sẽ có cuộc gặp gỡ này:
— Mình đã tìm cậu, nhưng tìm không ra. Cậu đang đi với trung đoàn đấy à?
— Một tiểu đoàn thôi. Tiểu đoàn Hồng Đăng.
— Giờ mới nhìn thấy một bạn đồng đội là cậu. Bữa trước mình đến một đại đội ở Đại Từ hỏi thăm, nhưng không ai nhận mình!
— Cậu tìm chưa đúng chỗ. Anh Chương, anh Linh, Minh Tú, Mai... còn cả. Có về với chúng mình không?... Mình phải đi đây. Cậu ở đâu?
— Ở đại đội 200, binh đoàn của Bộ. Đến nông trường ở xã Hồng Thái tìm mình. Đây là anh em ở đơn vị mình.
Phong đưa mắt, trỏ những chiến sĩ đứng chung quanh. Họ đều mặc quần áo nâu, đeo lựu đạn, có vẻ là những thanh niên nông thôn mới nhập ngũ.
— Cậu đi đâu bây giờ mà lại đứng đây?
Nhã vừa hỏi Phong vừa nhìn cô gái như có ý hỏi: ai đó? Trong khi hai người nói chuyện, cô gái lơ đãng nhìn đi chỗ khác, như muốn để cho họ được tự nhiên hoặc không muốn họ chú ý đến mình.
— Đứng lại đây để nhường đường cho các bạn. Các bạn đi làm nhiệm vụ quan trọng hơn. Còn bọn mình từ hôm địch đến Đại Từ đến giờ, đêm nào cũng mang mấy quả lựu đạn đi quấy rối.
— Súng đâu? - Nhã hỏi.
— Lính nông binh làm gì có súng!
Nhã lại đưa mắt nhìn cô gái. Phong có vẻ đã hiểu ý anh, nhưng chỉ nói:
— Thế nào cậu cũng tìm đến mình. Chúng mình làm ruộng nên ở cố định một chỗ. Có nhiều chuyện cần tâm sự với cậu. Cho mình gửi lời hỏi thăm tất cả những ai ở đại đội ta.
Bộ đội đã đi sắp hết. Nhã chìa tay bắt tay Phong.
— Mình sẽ tìm đến cậu.
Nhã nhìn cô gái một lần nữa và nói:
— Chào chị.
Cô gái như đang mê mải suy nghĩ chuyện gì, quay vội lại, nhìn Nhã, nở một nụ cười giống như một lời xin lỗi.
Cô nói lễ phép:
— Chào anh ạ...
Nhã tự bảo thể nào mình cũng phải tìm đến anh chàng Phong này. Và anh chợt nhớ đến câu chuyện Phong đã tâm sự với mình ngày ở Liên khu I. Có phải cô gái này là Kiều Oanh không? Nhã biết Kiều Oanh là hoa hậu của trường Đồng Khánh , nhưng anh chưa có dịp gặp cô. chả lẽ họ lại cùng rủ nhau lên Việt Bắc? Và nếu đúng cô gái này là Kiều Oanh thì anh chàng Phong sẽ khó lòng rời khỏi cô ta để trở lại trung đoàn...
Anh bỗng cảm thấy ghen thầm với hạnh phúc của bạn. Cặp mắt huyền hoặc của cô gái cùng với hình ảnh của người bạn cũ cứ lởn vởn trong đầu anh...
Nhã và Hội đang ở tiểu đoàn 3 thì được lệnh của ban chính trị trung đoàn chuyển về tiểu đoàn 2, đang đóng tại Bình Ca, để làm một bài hát về chiến công diệt tàu chiến địch trên sông Lô. Ban chính trị cho họ biết, đó là một yêu cầu của phòng chính trị binh đoàn của Bộ. Từ ngày lên Việt Bắc, họ đã nghe nhiều tin đồn binh đoàn chủ lực của Bộ sắp được tổ chức thành đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta, trung đoàn Thủ đô sẽ nằm trong đội hình của đại đoàn. Tiểu đoàn 2, hồi tác chiến ở Liên khu I, đã là một đơn vị của trung đoàn Thủ đô, nay đang nằm trong binh đoàn của Bộ. Chưa có quyết định chính thức nào về mối quan hệ giữa hai đơn vị, nhưng ban chính trị trung đoàn đã chấp hành đề nghị của phòng chính trị binh đoàn Bộ, coi đó như một chỉ thị của cấp trên.
Tháng Mười Hai, Nhã và Hội làm một cuộc chu du suốt dọc hai bờ sông Lô từ Tuyên Quang đến Việt Trì. Họ đã gặp tiểu đoàn 2, hỏi về những trận đánh địch trên dọc đường Bình Ca, Đa Năng. Tại đây, họ biết rõ chiến công trên sông Lô là của các đơn vị pháo binh Khu Mười. Họ đã gặp các đại đội pháo binh tham gia vào những trận đánh tàu chiến địch ở Đoan Hùng, Khoan bộ. Họ đến thăm những trận địa dã chiến của pháo binh bên bờ sông Lô và những con đường chuyển pháo. Họ đã đi xuôi thuyền trên sông Lô từ thị xã Tuyên Quang qua các bến Bình Ca, Đoan Hùng, Tràng São, Phan Lương, Bến Then... và thăm một số làng xóm hai bên bờ.
Sông Lô với dòng nước xanh như ngọc, nằm giữa núi rừng Việt Bắc, là một con sông tuyệt đẹp. Nó không dữ dội như những con sông khác: sông Hồng, sông Bạch Đằng, sông Đà... Nó rất xa với hình ảnh chiến tranh. Con sông mang vẻ đẹp gấm vóc của đất nước, một vẻ đẹp kỳ khu nhưng thanh bình. Dòng sông đã xóa nhanh mọi vết tích của những cuộc giao tranh. Hai bên bờ con sông xanh ngoài lau lách, những rừng núi ngút ngàn, mờ sương là những xóm làng bình dị, thưa thớt. âm thanh họ nghe được ở đây là nước nguồn róc rách đổ về, reo vang ở những ghềnh đá, dạt dào lên khi về tới ngã ba sông, tiếng mái chèo khoan nhặt, tiếng lưới rơi nhẹ xuống dòng sông, những con cá quẫy, giọng hát hò khoan của những vạn chài.
Hình ảnh quân thù là những đoàn tàu rẽ sóng đi ngược dòng sông bên trên có những con quỷ mắt xanh, nhớn nhác nhìn từng búi lau, đám cỏ hai bên bờ, tay luôn luôn đặt vào cò súng sẵn sàng nhả đạn.
Hình ảnh những người anh hùng đã lập nên chiến công là những anh bộ đội mũ nan, quần áo nâu, chân đát, lặc lè khiêng bằng đòn càn những bộ phận của khẩu sơn pháo cổ lỗ, vượt qua những đám sình lầy hoang rậm tới đặt pháo bên bờ sông, ngắm mục tiêu qua nòng súng, bắn hết những quả đạn mang theo, vội vàng tháo pháo dưới làn đạn bắn trả mãnh liệt của kẻ thù, rồi lại gồng gánh cỗ pháo di chuyển tránh sự lùng sục của máy bay và những toán quân địch tuần tiễu hai bên bờ sông.
Trận đánh chỉ diễn ra trong chốc lát với những tiếng pháo bất thần gầm lên trên bờ sông, những chiến thuyền của địch bốc khói, chìm nhanh xuống dòng sông, những chiếc khác rú còi báo động hốt hoảng đổ đạn vào hai bên bờ, và dùng hết sức máy, rẽ nước lao nhanh khỏi khu vực nguy hiểm.
Những sự kiện trên dòng sông này mấy thuần qua gây nên chấn động khắp cả nước, trong thực tế đã diễn ra một cách bình dị, kể cả đôi lúc Nhã và Hội ngồi nghe không thể không mỉm cười. Đồng chí đại đội trưởng pháo binh, một người có cặp mắt rất sâu, đeo kính cận thị, mặc một chiếc áo trấn thủ sờn rách, đã kể lại với họ... Trước trận đánh, đồng chí trưởng ban tác chiến Khu Mười, mặc quần áo ka ki ăng lê, khoác bờ lu dông Mỹ đến trao cho họ một bản kế hoạch tác chiến rất quy mô. Để tạo nên không khí hùng tráng cho trận đánh lịch sử, người xây dựng kế hoạch đã quy định hiệu lệnh nổ súng là bài kèn "Chiến sĩ Việt Nam", hiệu lệnh rút lui là bài kèn "Xuất quân". Đại đội trưởng đã phải trả ời: "Báo cáo anh, đồng chí thông hiệu của chúng tôi chỉ biết thổi bài: "Con bò kéo xe, Con bò xe kéo...) chứ không biết thổi hai bài anh vừa nói:. Thực ra, không phải người đặt kế hoạch chỉ trao cho anh chiến sĩ thông hiệu một việc làm vượt xa với khả năng hiểu biết âm nhạc của mình, mà anh đã đề ra một yêu cầu mà bản thân chiếc kèn cờ-le-rông với cấu tạo quá đơn giản của nó không thể nào thực hiện nổi... Nhưng cuối cùng, họ vẫn giành được chiến thắng.
Bản nhạc "Chiến sĩ sông Lô" của Nhã đã hình thành. Bài hát có thanh âm của tiếng pháo hào hùng nhận chìm những tàu chiến địch xuống lòng sông, nhưng bao trùm lên vẫn là tiếng reo vui của dòng sông xanh chiến thắng, của những chiến sĩ và người dân Khu Mười kiên quyết đứng lên đánh giặc, bảo vệ quê hương, làm chủ vận mệnh của mình. Dòng sông cùng với chiến công của nhân dân ta sẽ tồn tại mãi cùng với đất nước. Còn kẻ thù chỉ là một cái gì thoáng qua trong chốc lát, nó không thể bắt con sông đổi dòng, cũng như không thể làm thay đổi gương mặt kỳ tú của nó. Và trong khi làm bài hát, đôi lúc Nhã đã nghĩ đến một cô gái có giọng hát mượt mà, đằm thắm và man mác, đã gặp lại anh cách đây không lâu trên đất Phú Thọ này. Không biết thời gian qua cô ở đâu? Cuộc tiến công mới của kẻ thù có đe dọa gì đến cuộc sống của cô...? Hình ảnh của cô lồng vào với hình ảnh nhân dân Khu Mười, đã hiện lên đôi chỗ trong bài hát của anh. Nhưng anh tin rằng ngoài mình ra sẽ không có ai nhận thấy điều đó...