Mùa Xuân đã trở về với Việt Bắc. Những ngôi nhà xanh mướt màu nứa lá và tre rừng thi nhau mọc lên trên nền tro than những phố xá bị đốt trụi, giống như cây cối sau những ngày bị sương gió mùa đông đốt cháy, đua nhau đâm chồi khi có trận mưa xuân. Những ngôi nhà dựng lại lần này có vẻ khang trang hơn. Người tản cư trong làng kéo ra phố làm nhà cũng đông hơn. Mọi người như tin rằng sau cuộc tiến công mạo hiểm vừa qua, giặc Pháp sẽ không bao giừo dám quay lại dải đất rừng núi hiểm trở này. Đây không phải là nơi chúng có thể thả sức hoành hành như ở vùng xuôi. Rừng núi đã giúp cho những người kháng chiến mạnh lên gấp mười. Họ không bao giờ mất thế chủ động. Chỉ cần rút ra cách địch một khoảng đường rừng là chẳng phải còn e ngại chúng. Muốn đánh địch lúc nào là tùy ý của họ.
Đầu mùa xuân, bộ đội từ các nơi kéo về Đại Từ rất đông. Họ tổ chức những đêm lửa trại tưng bừng. Không có quảng cáo, không có chương trình, không có người bán vé. Chỉ cần nhìn thấy một đống củi lớn chất giữa sân vận động, hay một bãi ruộng khô nẻ là người nọ kháo người kia tối nay bộ đội liên hoan, và đồng bào lũ lượt kéo tới. Có những người đốt đuốc đi xa dăm, bảy ki-lô-mét. Có người sốt sắng vách theo cả những bó củi, bó nứa để góp ánh sáng cho đêm liên hoan. Đống củi lớn được đốt lên. Ngọn lửa hồng bắt đầunhảy múa reo vui trong gió lạnh. Người đến xem, bộ đội và đồng bào, ngồi vây quanh. Vòng trong cùng là những em thiếu nhi. Rồi đến người lớn tuổi. Những cô gái ít khi chịu ngồi, đứng ngấp nghé ở vòng ngoài cùng. Sương giá bị xua ra xa. Mặt mọi người đều đỏ hồng vì lửa. Có lúc làn gió quẩn lùa vào mắt, mũi họ những luồng khói đặc cay sè. Họ chăm chú nghe anh chính trị viên nói chuyện chiến thắng trên các mặt trận, ở sông Lô, ở đường số 4, và hô hào đồng bào giữ bí mật "không biết, không nghe, không thấy" đề phòng bọn Việt gian, ra sức tăng gia sản xuất, ủng hộ bộ đội đánh giặc... Họ say sưa theo dõi chương trình văn nghệ. Bộ đội hầu hết trẻ măng. Họ hóa trang bằng phấn bảng, nhọ nồi và giấy hồng điều. Họ mượn quần áo của những cô gái trong làng để đóng giả những vãinư. Họ mang váy, áo bằng những tấm vỏ chăn và dán lên đó những sọc giấy xanh đỏ. Họ ca hát, ngâm thơ, đóng kịch. Những tài tử nghiệp dư này đều tỏ ra tự tin. Họ không nghĩ mình có nhiều tài năng về văn nghệ, nhưng họ hiểu là mình đang xuất hiện trước đồng bào như những chiến sĩ vừa chiến thắng trở về. Và trong số họ không phải không có những người tài hoa, những người thực sự có khả năng về âm nhạc, ca hát và diễn kịch.
Những đơn vị thuộc nông trường cũng tích cực tham gia đợt tuyên truyền chiến thắng này. Phong đã biết rõ tài năng của Thìn, anh chàng hàng ngày vẫn ngồi ủ rũ ở gian phòng của đồng chí y tá. Và anh cũng biết về sự hiệu nghiệm của một ống moóc-phin đối với Thìn trong mỗi đêm liên hoan.
Thìn vừa sáng tác ra được một vở kịch "Chôn Tây" làm cho tất cả người xem cười nôn ruột. Câu chuyện rất giản đơn. Một tên lính da đen vào làng kiếm lợn, gà. Một anh dân quân phục bên chuồng gà, nhảy lên đập cho nó một chiếc đòn gánh trúng đầu. Anh dân quân đem nó đi chônChôn tên lính Tây xong, anh vui vẻ quay về làng thì vẫn thấy tên lính da đen đang đuổi theo bắt một con gà. Đây là một tên lính da đen khác, nhưng vì chúng quá giống nhau, nên anh dân quân nghĩ là hồn ma của tên giặc hiện về. Anh rụng rời. Anh cố lấy lại can đảm, tìm cách quật cho "hồn ma" một gậy nữa. "Hồn ma" lăn đùng ra chết. Anh dân quân tìm cách thử xem nó đã chết thực hay chưa. Anh lại đem nó đi chôn. Lần này, anh đào hố rất sâu, chôn nó thật kỹ, và vần những tảng đá lớn xếp chẹn trên ngôi mộ của nó. Khi anh quay về làng, thì lại gặp hai tên lính da đen đang khiêng một con lợn. Anh suýt ngất xỉu vì tưởng là hồn ma hai tên địch lại hiện lên. Nhưng rồi anh cố gắng khắc phục sợ hãi, tìm cách tiêu diệt nốt hai "hồn ma" mới này một lần nữa... Và câu chuyện cứ tiếp tục như thế. Nó chỉ dừng lại khi người xem đã mệt nhoài vì những trận cười.
Thìn đóng vai dân quân. Thoạt nhìn thấy dáng điệu ngờ nghệch của anh là mọi người đã buồn cườiVà vở kịch được trình diễn vẫn với cốt truyện ấy nhưng không lần nào giống lần nào. Thìn luôn có những "miếng" mới để minh họa câu chuyện. Nguyên cái việc thử xem "hồn ma" đã chết thật chưa, anh đã dùng đến chục cách khác nhau. Có lần anh nằm trên đất, áp hết tai bên này đến tai bên kia vào ngực nó, để nghe tiếng đập của trái tim. Có lần anh cù tay vào gan bàn chân của nóCó lần anh nhổ lông chân, ngoáy vào mũi của nó. Cũng có một lần, anh chạy đến chỗ một đồng chí cán bộ đang ngồi xem, chân đi một đôi giày vải ướt sũng vì lội suối, anh tháo một chiếc giày của đồng chí cán bộ, và lôi tuột chiếc bít tất, đưa lên mũi mình, vờ hắt hơi ầm ĩ, rồi lại đem chiếc bít tất đến đặt trước mũi "hồn ma"; sau đó, anh mang chiếc bít tất lại trả chủnó, cung kính cúi đầu cảm ơn, rồi vác tên lính đi chôn...
Vở kịch nổi tiếng khắp vùng. Hễ thấy trung đội của Phong xuất hiện trong một đêm liên hoan, người xem lại hò reo yêu cầu ầm ĩ: "Chôn Tây!... Chôn Tây...". Kiều Oanh cũng nghe các bạn nói về vở này, và yêu cầu Phong cho xem. Cô gái hay buồn ấy tối hôm đó đã cười đến chảy cả nước mắt.
Vở kịch được tiếp tục diễn cho đến một lần, đồng chí trưởng phòng chính trị từ trên binh đoàn xuống. Khi xem vở kịch, anh cũng cười bò ra như mọingười. Nhưng sau cuộc liên hoan, anh nhẹ nhàng nói với đại đội trưởng Khải:
— Nên xem lại nội dung chính trị của vở kịch này!
Khải nói ngay:
— Báo cáo anh, kịch vui, nhẹ nhàng thôi! Anh dân quân trong vở là người dám đánh Tây và diệt được nhiều Tây, chứ không phải như một số dân quân thấy Tây đến là đánh bài chuồn. Tây mọc lên bao nhiêu, diệt bấy nhiêu, dù là ma hay quỷ cũng cứ diệt, đó là nội dung vở kịch. Đồng bào, bộ đội xem ai cũng thích. Thiếu vở kịch này là mất vui.
Trưởng phòng chính trị gật gù rồi nói tiếp:
— Mình thấy, có mấy vấn đề cần lưu tâm... Đây là một vở kịch vui. Muốn vui thì có thể bịa chuyện ra mà cười, chuyện không có thực cũng không sao! Nhưng... ta dựng lên một anh dân quân quá hù khờ, nhầm cả thằng địch chết với thằng địch sống, dân quân của ta trong thực tế cũng có những đồng chí khù khờ, vì họ là nông dân, có thể có người nghĩ rằng bộ đội chủ lực đem dân quân ra giễu...
— Chúng tôi có thể chuyển vai dân quân thành một vai bộ đội... - Khải sốt sắng nói.
Trưởng phòng chính trị chậm rãi:
— Còn vấn đề nữa, là vấn đề màu da. Phải để tên lính là da đen thì sự nhầm lẫn này mới có lý. Nhưng lính da đen cũng là những người dân thuộc địa như ta trước kia, bị kẻ địch bắt đi làm bia đỡ đạn... Mình có nên xây dựng một vở kịch trong đó chỉ toàn là lính da đen đi cướp bóc bị dân ta giết không?...
Đại đội trưởng Khải ngẩn người. Từ đó, trung đội Phong không diễn vở kịch "Chôn Tây" nữa. Và Thìn đã sáng tác ngay một vở kịch mới để thế vào đó.
Một hôm, sau một buổi họp cán bộ ở đại đội, Phú nói với đại đội trưởng Khải:
— Có một tiểu đoàn chủ lực mới về đóng quân ở xã Hồng Thái, họ cử người đến mời mình chiều nay chơi bóng đá. Anh thấy có nên nhận lời không?
— Nhận. Sợ gì! - Đại đội trưởng Khải vốn là một người máu mê các trò chơi thể thao. - ông tập hợp cầu thủ, chọn người ở cả ba trung độiTôi nhận một chân hậu vệ.
Chiều hôm đó, buổi đấu bóng diễn ra sôi nổi. Đơn vị mới đến đưa cả bộ đội ra xem. Khải cũng huy động toàn thể nhân viên nông trường, trai, gái đều ra cổ vũ. Giữa chừng, một cuộc tranh cãi tỏ ra rất găng. Nông trường đang bị dẫn một quả. Trong một đợt lên bóng, Phong chuyền bóng cho Phú sút gỡ hòa. Những người xem của nông trường hò reo ầm ĩ. Nhưng phía bên kia nói quả bóng đi trệc ra ngoài. Cầu môn chỉ là hai cái mũ nên đúng, sai rất khó xác định.
Phong nói:
— Coi như quả bóng đó ra ngoài. Đây là chúng ta đá chơi cho vui, chứ nếu đá thi thì không những cần có cột gôn, mà còn phải có cả lưới nữa mới tránh được sự tranh cãi. Đề nghị thủ thành bên các anh phát bóng lên.
Từ phía người xem bên kia, một cán bộ thân hình bé nhỏ, bước ra, giọng điềm đạm:
— Tôi nhận thấy quả bóng vừa rồi đã đi vào phía trong cột gôn. Như vậy là "một hòa". Chúng ta đưa bóng lên giữa sân, đá tiếp.
Đội bóng nông trường từ trước đến giờ chưa thua đội nào ở vùng này, nên cố gắng giữ danh dự. Về phía bộ đội mới tới, hình như tự cho mình là một đơn vị chiến đấu ở mặt trận về, thfi không thể thua một đơn vị làm công việc sản xuất ở phía sau. Hai bên đều cố gắng và tất cả cầu thủ đều mệt nhoài. Trận đấu kết thúc với tỷ số hai hòa không làm cho bên nào mất vui.
Phong vừa bước ra sân, đang lau mồ hôi bỗng thấy một người ôm chầm lấy mình.
— Cậu Phong!
Một khuôn mặt nâu sậm đang áp vào mặt anh.
— Anh Nho! Đi đâu mà lại đến đây?
— Đơn vị tôi đây mà! Đây là tiểu đoàn 2. Tôi đang định vào nông trường hỏi thăm anh thì nhìn thấy anh.
— Nhưng tiểu đoàn bóng ở Bình Ca cơ mà?
— Giao lại cho đơn vị khác rồi.
Anh ghé tai Phong nói nhỏ:
— Chúng tôi chuẩn bị đi chiến đấu ở xa.
— Đi đâu?
— Không biết đi đâu!...
Phong không gặp lại được anh Nho. Sáng hôm sau, Phong ra tìm anh, đơn vị đã di chuyển cách đó nửa giờ. Họ chính là những người đã chiến đấu với anh ở Hà Nội. Anh cố nhớ lại khuôn mặt những người mình đã gặp. Cái nét chung về họ mà anh nhớ được là những bộ mặt xanh xao, thân hình gầy guộc, những bộ quần áo bạc màu, rách vá. Nhìn họ khác hẳn với bộ đội ở nông trường. Trong đội bóng của họ, có những người đá rất khéo nhưng không chịu đựng được sự va chạm... Họ vừa qua những ngày chiến đấu gian khổ. Đáng lẽ họ cần được nghỉ ngơi, nhưng họ đã vội vã lên đường. Một cuộc chiến đấu mới, như lời Nho nói, đang chờ đợi họ ở phía trước. Họ thèm khát một cuộc vui chơi như chiều hôm qua. Đó đúng là tính chất của những anh lính Hà Nội. Phong tự trách: hôm qua mình tranh hơn thua với họ làm gì? Đáng lẽ nên dành phần thắng cho họ, để mang lại cho họ một chút vui. Một chút vui có lẽ là rất hiếm hoi đối với họ. Anh cứ xấu hổ mãi về câu nói có vẻ cay cú của mình.
Những người bạn chiến đấu này đã không dự trọn vẹn trận đánh ở Hà Nội. Họ đã không có mặt trong những ngày ác liệt nhất tại Liên khu I như Phong. Nhưng hôm nay, họ vẫn tiếp tục cuộc chiến đấu với quân thù. Còn anh thì đã dừng lại ở nơi không có tiếng súng.
Về nhiều mặt, Phong đang có một cuộc sống ổn định so với ngày xưa, kể cả thời kỳ trước khi nổ ra kháng chiến toàn quốc. Không phải riêng Phong mà cả gia đình anh đã có một chỗ đứng trong guồng máu của xã hộiăn mặc tuy chỉ tạm đủ nhưng không còn là một mối lo, mối lo rất ghe gớm luôn luôn giày vò họ trong cuộc sống. Họ không còn băn khoăn nhiều về tương laiTương lai của họ là tương lai của cả cuộc kháng chiếnPhong ngày càng có thêm sự tín nhiệm đối với đại đội trưởng Khải. Trong những ngày địch đến Đại Từ, Khải đã trao cho Phú và Phong việc tổ chức đánh địch, phối hợp với bộ đội và dân quân địa phương.
Huyện đã khen bộ đội nông trường mặc dù không được trang bị súng nhưng hoạt động rất tích cực. Phú và Phong đã dẫn bộ đội đi quấy rối địch nhiều lần. Họ làm nhiều việc táo tợn, mò vào giữa phố Đại Từ, ném lựu đạn vào nơi địch ngủ, gài bẫy lựu đạn ở quanh vị trí, đốt nhà, gây tiếng động làm cho quân địch hốt hoảng bắn suốt đêm. Những việc này Phong đã quen từ hồi ở Hà Nội. Ở đây, anh được rộng cẳng hơn, bốn chung quanh rừng núi, đất trời đều là của ta, lại không bị xe tăng và các phương tiện cơ giới của địch đe dọa.
Suốt đợt hoạt động, bộ đội nông trường chỉ có một người bị thương nhẹ. Họ được tặng một khẩu súng gióp mười, chiến lợi phẩm, để khen thưởng những thành tích đạt được. Qua đợt chiến đấu này, trung đội trưởng Tiếp cũng nhìn anh bằng cặp mắt vì nể hơn. Phong đã bắt đầu chú ý đến việc đồng áng, những việc trước đây anh không hề hay biết một tí gì.
Anh vừa sung sướng vừa lo lắng khi thấy xuất hiện con người mà có lúc anh đã coi đó là lẽ sống của mình. Trái với dự đoán, Kiều Oanh đã không mang lại điều gì đáng gọi là phiền toái mới cho anh. Cô đã thay đổi khá nhiều.
Sau khi ra vùng tự do, Kiều Oanh gặp một người có họ xa với gia đình nhà chồng. Ông này đang giữ một chức vụ quan trọng trong ngành quân nhu. Ông đã cho Kiều Oanh biết một số tin tức về chồng cô. Theo ông, chồng cô đã rời Hà Nội sau khi nổ súng, và được điều lên biên giới để lo việc mua vũ khí của quân đội Tưởng. Ông khuyên cô nên vào nhận công tác tại cơ quan của mình, chờ đến khi có tin tức rõ rệt. Và Kiều Oanh đã theo ông lên Việt Bắc.
Cơ quan quân nhu có quan hệ với nông trường. Gần đây, có ý kiến binh đoàn chủ lực của Bộ sẽ tổ chức thành một đại đoàn chủ lực lưu động tác chiến trên chiến trường toàn quốc, do đó, để nông trường gắn liền với binh đoàn không phù hợp, trong một tương lai không xa, nông trường sẽ trực thuộc với cơ quan quân nhu. Đại đội trưởng Khải thường có việc gặp cơ quan quân nhu, đã biết Kiều Oanh từ trước khi Phong tới nông trường. Anh cũng biết Kiều Oanh là người nhà của đồng chí Bân, một cán bộ chủ chốt của ngành; Bân rất thích tổ chức nông trường này và muốn đưa nông trường sáp nhập vào ngành quân nhu.
Kiều Oanh đến nông trường lần đầu, được đại đội trưởng Khải đón tiếp rất niềm nở. Anh muốn giữ quan hệ tốt với mọi cán bộ thuộc cơ quan nay mai sẽ là cấp trên của nông trường. Oanh nhận Phong là người đã dạy mình và các em học thêm ở gia đình. Mẹ Phong chứng nhận điều này, tuy trước đây bà chưa gặp Kiều Oanh. Đại đội trưởng Khải không nghi ngờ gì về mối quan hệ giữa hai người, vì gia đình Phong đều nói anh đã có người yêu.
Kiều Oanh giữ ý tứ trong những lần đến nông trường. ít khi cô đi một mình. Có lần cô đi với Lượng. Có lần cô đi với người anh họ đến đây vì công việc. Cũng có những lần cô ghé vào nông trường mà không ra thăm Phong, nếu không tình cờ gặp Phong ở đại đội bộ. Họ thường gặp nhau ở những chỗ khác để chuyện trò lâu, khi ở Phúc Trìu, khi ở thị xã Thái Nguyên... Lượng là con chim xanh trong mối quan hệ kín đáo này. Phong đã tâm sự hầu như mọi chuyện với Lượng. Mỗi lần Phong kể thêm một vài chi tiết trong cuộc tình duyên giữa họ. Lượng lại nhoẻn một nụ cười tươi, trong lúc đôi mắt anh dại đi sau làn kính cận và bộ mặt xám ngọet, nhắc lại một câu nói đã trở thành quen thuộc đối với Phong: "Cũng đáng làm một cuộc kháng chiến đấy, ông Phong ạ". Lượng vẫn không chịu nói gì về đời sống tinh thần của anh từ sau ngày chia tay với Phong, kể cả cuộc sống hiện tại của anh. Anh luôn luôn lảng tránh những câu hỏi của Phong bằng một điệp khúc: "Khoan, miễn moi móc mình trong lúc này, trong đầu óc mình luôn luôn có thập đạo sứ quân đang hỗn chiến với nhau, mình nói với Phong điều gì bây giờ là mình nói dối, vì mình có hiểu được mình đâu!".
Kiều Oanh đã quen với cuộc sống kháng chiến. Phải nói là cô khá được nuông chiều. Cô là người nhà của đồng chí phụ trách cơ quan nên ai cũng vì nể. Cô lại biết cách giữ gìn, ý tứ và có thái độ ân cần với mọi người. Không ai, kể cả những người bạn gái hay ganh ghét, có cớ gì để gây phiền toái cho côCô không bao giờ tỏ ra cách biệt với chung quanh, cô sống như mọi người, hơn thế, cô sống như một người con gái có chồng. Mọi người yêu mến, chiều chuộng cô. Một số người săn đón cô. Chỉ cần cô để lộ ra một ý thích, lập tức có người tìm cách làm vừa ý. Ngay cả đối với những ngườinày cô cũng không lợi dụng. Người bạn trai hay chuyện trò với cô là Lượng. tính nết hơi đặc biệt của anh chàng khiến không một ai nghi ngờ có mối quan hệ không chính đáng giữa hai ngườiTrong cơ quan, không thiếu gì những anh chàng bảnh trai, tán giỏi, có những người thực sự tỏ ra si mê cô, cô không làm họ phải phật lòng mà cũng không dành cho riêng ai hy vọng. Tuy không còn cửa cao nhà rộng, không có người giúp việc như trước, gian phòng cô ở chỉ là một căn lán nhỏ, với chiếc giường tre, giát bằng nứa, mùa rét được lót thêm một ổ rơm, nhưng cô cảm thấy mình còn được nhiều người chiều chuộng hơn cả hồi ở gia đình. Kiều Oanh có thói quen chăm sóc đến nhan sắc, cách ăn mặc của mình. Nhưng cô cũng biết hạn chế nó cho phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến. Cô đã chọn một bộ quần áo bằng lụa đen, chiếc áo len dài tay cũng màu đen, màu thông dụng trong kháng chiến, và bây giờ cô mới nhận thấy màu đó rất phù hợp với màu da và hình dáng của cô, nó làm tôn nhan sắc của cô hơn bất cứ màu nào khác. Không ai chê trách gì được cô về cách ăn mặc này.
Chỉ có một điều khiến cho Kiều Oanh băn khăn. Đó là sự đối xử, chăm sóc quá chu đáo, quá tốt của người anh họ, hiện nay là phụ trách cơ quan. Ông hơn cô tới mười lăm tuổi. Vợ ông đã bỏ ông đưa cả hai đứa con vào Sài Gòn từ ngày ông lên chiến khu tham gia phong trào Việt Minh. Ông luôn luôn an ủi, khuyên giải Kiều Oanh, và làm cho cô tin rằng chồng cô còn sống, anh đang bận một công tác quan trọng của Chính phủ. Bề ngoài, cô làm ra vẻ tin ông. Trong thâm tâm, cô vẫn nghĩ: Có thể anh đã chạy sang phía Pháp. Có thể anh đã trúng một viên đạn của tự vệ. Cũng có thể anh đã nhận một viên đạn của chính quân Pháp trong cái đêm vô cùng lộn xộn đó. Đằng nào thì cũng là một chuyện rất bi thảm cho cô... Sao anh ấy lại quá tốt với mình, cô luôn luôn tự hỏi. Chả lẽ chỉ có một sợi dây liên lạc rất mỏng manh về huyết thống với chồng cô, lại khiến cho anh đối xử với mình chu đáo đến như vậy? ông Bân là người từng trải, và hình như hiểu rõ tâm trạng, tính tình của cô, nên đã không làm điều gì khiến cô phật ý. Nhưng với sự nhạy cảm của một thiếu phụ trẻ và đẹp, cô vẫn ngờ rằng đằng sau cái lòng tốt của một người anh họ đó, còn có một cái gì...
Chuyện đó khi nào sẽ xảy ra? Và chắc chắn cô sẽ không thể chiều theo ý muốn của ông. Liệu khi đó, cô còn được hưởng sự chăm sóc này nữa không? Vậy thì cái gì sẽ diễn ra... Cô hình dung đó là những cơn sóng gió. Bấy giờ cô sẽ đi đâu, làm gì...?
Kiều Oanh không biết gia đình mình bây giờ ở đâu. Cô không bận tâm đến gia đình nhà chồng nữa. Cô rất muốn gặp đứa em traiChắc nó sẽ rất vui khi thấy cô có mặt ở đây, trong một cơ quan kháng chiến. Qua nhiều lần thăm hỏi, cô biết em cô cùng với tự vệ khu phố đã rút ra ngoại ô Hà Nội ngay từ những ngày đầu, và bây giờ hình như nó ở một đơn vị hoạt động trong nội thành hay là vùng chung quanh Hà Nội... Giữa lúc đó cô được tin Phong cùng với gia đình hiện ở rất gần mình, một điều mà cô vẫn chờ đợi, vẫn hy vọng.
Kiều Oanh đã nhận ra những điều mình bàn với Phong khi ở Hà Nội là không thực tế. Qua những lần gặp anh, cô càng hiểu không thể nào có một mái lều tranh và một trái tim yêu trong thời buổi này. Chiến tranh đã lan tới những nơi ngõ hẻm hang cùng, những vùng xa xôi, hẻo lánh nhất trên đất nước. Và làm sao một thanh niênnhư Phong có thể ngồi yên trong khi cả nước có chiến tranh, trong khi mọi người đều tham gia kháng chiến...?
Họ gặp lại nhau như hai người bạn. Mỗi lần đến thăm, cô mang cho anh những thứ quà nho nhỏ: vài phong bánh đậu, hộp sữa hoặc gói thuốc lá thơm. Họ kể với nhau rất nhiều chuyện nhưng tránh đả động đến chuyện tình cảm giữa họ, nhất là không bao giờ nhắc tới cái buổi chia tay đầy hờn giận trong ngôi nhà ở phố Hàng Đào giữa lòng thành phố Hà Nội bị vây hãm. Tuy nhiên, những lời hẹn hò, những buổi đi chơi riêng đã chứng tỏ cho đôi bên biết là họ đang nói với nhau rất nhiều. Những quán nhỏ bên đường, những tảng đá giữa dòng con suối trong, những đồi hoa mua tím mát dưới ánh nắng mặt trời thiêu đốt... đã trở thành một giang sơn mới dành riêng cho họ. Kháng chiến này là một cuộc đổi đời. Bom đạn rồi sẽ lặng yên để cho tình yêu lên tiếng. Thời gian đang làm việc cho họ. Tương lai sẽ là của họ.
Bất chợt một hôm, đại đội trưởng Khải không báo trước, dẫn một người khách vào thăm trung đội Phong. Nhìn ông, Phong nhận ra ngay, đây là người đã cùng Kiều Oanh đi qua Vân Đình dạo trước.
Khải vui vẻ giới thiệu với khách:
— Đây là đồng chí Phong, chính trị viên trung đội 1, một trung đội rất khá về công tác chính trị của nông trường.
Rồi anh quay về phía Phong, nói:
— Anh Bân, thượng cấp của chúng ta từ trên cơ quan quân nhu xuống làm việc với đại đội. Nhân tiện đi qua đây, anh Bân bảo tôi đưa vào thăm trung đội anh.
Khách chìa tay bắt tay Phong. Bàn tay ông, giống như bộ mặt của ông, bụ bẫm và mềm nhũn.
Ông quay lại hỏi Khải nho nhỏ, nhưng cũng đủ để Phong nghe thấy:
— Đồng chí chính trị viên, chắc là hội viên rồi chứ?
Phong không nghe thấy Khải trả lời, nhưng anh biết là Khải đang kín đáo lắc đầu, có thể còn điểm thêm một nụ cười, thay câu nói: "ở chỗ chúng tôi tình hình như thế đó, chính trị viên nhưng lại chưa phải là đảng viên!".
Khách chăm chú xem tờ bích báo treo trên tường, rồi lại giở tờ tập san của trung đội, lật dọc từng trang.
Khách trỏ một bài thơ, hỏi Phong:
— Bài này chắc là của đồng chí?
— Thưa vâng.
Khải giới thiệu thêm với vẻ hài lòng:
— Đồng chí Phong là tác giả nhiều bài thơ và nhiều mẩu chuyện hay ở đây.
— Tốt lắm! Đồng chí là thi sĩ ư?
— Không ạ. - Phong đáp - Ngày còn đi học, thỉnh thoảng tôi có làm thơ.
— Một tài năng!... Ở trong quân đội ta, đồng chí sẽ có điều kiện để phát triển ngòi bút của mình.
Đại đội trưởng Khải cũng phấn khởi trước lời khen đó. Anh nói:
— Ở nông trường còn có một nhà văn: nhà văn Trường Xuân, tác giả cuốn tiểu thuyết: "Một gia đình giữa hai thế kỷ".
— Nông trường tụ tập khá nhiều nhân tài. Nhưng chúng ta cần chú ý giúp đỡ những người trẻ như đồng chí Phong...
Ông vừa nói vừa ngắm nhìn Phong rất chăm chú.
— Trước đây đồng chí ở đơn vị nào?
Phong bối rối trước những lời động viên liên tiếp của khách. Đại đội trưởng trả lời thay anh.
— Đồng chí Phong ngày đầu kháng chiến toàn quốc, là Chiến sĩ Quyết tử của trung đoàn Thủ đô. Anh Phong và anh Phú là hai cán bộ chỉ huy bộ đội nông trường đánh địch rất tốt hồi địch tiến công lên Việt Bắc.
— Là cán bộ quân sự mà chịu yên tâm làm ruộng ư...? Khá lắm!
Đến câu nói này của khách thì Phong không hiểu đó là khen hay chê.
Vẫn đại đội trưởng Khải trả lời:
— Báo cáo anh: phần lớn cán bộ của nông trường đều từ đơn vị chiến đấu về.
Khách gật gù, rồi lại đưa bàn tay mềm nhũn cầm hờ lấy tay Phong trước khi cùng Khải quay về đại đội bộ.
Hơn một tuần sau đó, Phong gặp lại Kiều Oanh. Anh kể cho cô nghe chuyện Bân đến thăm trung đội mình. Anh bỗng nhìn thấy vẻ sợ hãi hiện lên đôi mắt nhung đen.
Cô ngập ngừng một lát rồi hỏi Phong:
— Anh Bân có hỏi gì anh về em không?
— Chắc ông ấy không biết là anh quen em.
Kiều Oanh ngồi im lặng.
— Có chuyện gì vậy? Em đừng giấu anh. - Phong nói.
— Gần đây, thái độ của anh ấy đối với em hơi khác. Bữa trước, anh ấy khuyên em là... không nên đi lại nhiều, vì anh ấy là người của gia đình bên kia, nên có trách nhiệm phải tránh cho em những điều tai tiếng... Trước kia, em vẫn thường đi chơi với những người trong cơ quan, nhưng không lần nào anh ấy nói gì. Em đã nói em biết coi trọng phẩm giá của mình, em hiểu mình hơn ai hết, nếu có ai nói điều gì không hay về em thì anh ấy cứ nói thẳng với em. Em định, nếu anh ấy nhắc đến tên anh, em sẽ nói rõ mọi chuyện. Những điều em không nói là em chưa muốn nói, đâu phải em sợ mà giấu giếm!... Anh ấy đã hết lời xin lỗi em, nói đó chỉ là chuyện phòng xa. Rồi anh ấy không đụng đến chuyện này nữa... Thế là em lại bị lừa! Đúng là chuyện thỉnh thoảng em đi chơi với anh đã đến tai anh ấy.... Anh ấy đã lừa dối em một chuyện rất lớn. Anh ấy nói chồng em đang công tác cho Chính phủ ở biên giới trong khi em biết chắc chắn không phải thế... Anh ấy dựng lên một bóng ma, rồi buộc em phải trung thành với cái bóng ma, anh ấy làm như thế để làm gì...!
Phong nhìn bộ mặt tái tím của Kiều Oanh. Anh an ủi:
— Em đừng buồn bực. Chúng mình có làm gì đáng để mọi người chê trách! Nếu có người hiểu lầm thì rồi vấn đề sẽ được giải quyết.
— Em không lo cho em, nhưng em rất lo cho anh... Nếu có chuyện gì không hay xảy ra cho anh, là lỗi tại em.
— Có chuyện gì không hay có thể xảy ra cho anh? Anh sẽ không để bất cứ chuyện gì xảy ra...
— Anh chưa biết hết đâu... Rôi đây nông trường sẽ sáp nhập về ngành quân nhu, tức là ở dưới quyền trực tiếp của anh Bân...
— Cũng vậy thôi. Anh sẽ làm hết sức mình cũng như anh đã làm ở đây.
— Em đã nói: có những chuyện mà anh chưa biết...
Cuối buổi đó, họ bảo nhau trong thời gian sắp tới sẽ bớt những cuộc đi chơi như thế này, nếu cần. Kiều Oanh sẽ đến gặp Phong ngay tạinông trường.
Phong linh cảm những ngày yên tĩnh của mình tại đây đã chấm dứt.
Nhã mặc bộ quần áo nâu, khoác cái ba lô nhỏ, đội chiếc nón lá sùm sụp trên đầu, bước vào nông trường.
Đôi bạn ôm chầm lấy nhau.
Khi Nhã bỏ chiếc nón ra, Phong còn ngạc nhiên hơn, thấy đầu anh cạo trọc lốc.
— Cậu định đi tu à? - Phong hỏi.
— Yêu đời lắm, không đi tu đâu, muốn làm võ sĩ đạo... Có giống không, cho mình mượn cái chậu đi tắm một cái cho đỡ bẩn thỉu đã.
— Có giếng nước rất mát, nhưng cậu cần ngồi một lát cho khô mồ hôi. Tắm ngay sợ bị cảm.
— Cái ốm nó chán mình rồi. Mình định đến chơi với cậu từ lâu, đi sông Lô bị ốm một trận suýt tịch, về đến trung đoàn lại bị một trận nữa kéo dài hơn tháng trời. Mới hỏi ốm được hơn tuần nay. Hôm qua, trưởng ban chính trị tới cấp cho năm trăm đồng và một giấy giới thiệu lên nghỉ an dưỡng một tháng ở Tam Đảo. Cậu có đi chơi với mình không? Số tiền này đủ chi dùng cho cả hai thằng. Hết tiền sớm, ta quay về đơn vị sớm.
Thấy Phong thỉnh thoảng lại nhìn cái đầu mình, Nhã nói tiếp:
— Ốm nằm lâu ngày, đủ cả rận lẫn cháy. Cô Mai đem quần áo đi nấu. Còn cái đầu, hôm qua cậu cắt tóc đến, mình bảo: "Nhờ ông gọt trụi cho tôi!". Cậu ta bảo: "Cạo trọc thì làm sao lấy vợ được!". Mình nói: "Cậu có thấy sư nào có tóc không? Khối cô gái đi chùa vẫn mê sư đấy thôi!". Nhưng đến nông trường nhà cậu mình cảm thấy hối hận. Mình nhớ là chiều hôm trước mình gặp cậu đứng ở bờ suối với một công nương tuyệt vời. Nông trường cậu có người đẹp thế kia à?...
Nhã xoa cái đầu trọc lốc, lẩm bẩm:
— Ra mắt người đẹp với cái đầu này thì lỗ quá!
— Cô ấy không ở đây, cô ấy ở cơ quan cấp trên xuống.
— Ai đấy?
— Kiều Oanh.
— Mình cũng nghĩ ngay là nàng... Trông cậu dạo này béo đỏ ra. Thời buổi này, sống như cậu cũng sướng đấy nhỉ?
— Không phải chỉ một mình cậu nói như vậy. Mình đang chết cay chết đắng trong lòng... Giờ cậu đi tắm đi, rồi về ăn cơm. Tối nay, tha hồ nói chuyện... Tuyết Mai có khỏe không?
— Cô ấy định đi theo mình đến đây thăm cậu. Mình bảo: để chuyến sau, lần này cô đi thì không ai đưa vềTôi sẽ bảo thằng Phong phải đến thăm cô trước. Cậu ở đây vui vẻ quá nên quên hết bọn mình...
Tối hôm đó. Phong đã yêu cầu Nhã cho biết tin về tất cả những bạn cũ ở Liên khu I, những sự thay đổi ở trung đoàn từ sau khi rút khỏi Hà Nội. Người anh nao nao khi nghe Nhã nói Minh Tú đã hy sinh. Anh biết sau mấy lần biên chế, rút bớt những người không đủ sức khỏe, trung đoàn trước chiến dịch Việt Bắc chỉ còn lại hai tiểu đoàn, và gần đây, theo một quyết định mới của Bộ Tổng chỉ huy, hai tiểu đoàn đã sắp nhập thành một tiểu đoàn. Vào mùa khô tới, tiểu đoàn sẽ rời Việt Bắc về miền xuôi chiến đấu. Nhã hát cho Phong nghe những bài hát anh đã làm từ ngày ở Liên khu I đến giờ, những bài hát đã buộc anh tạm rời cây súng trở về với cây đàn. Mỗi làn nghe một bài hát mới của Nhã, Phong lại thấy lòng xốn xang. Qua từng bài hát đó, Phong thấy rõ những bước đi của trung đoàn và những đổi mới trong tư tưởng và tâm hồn người bạn...
Phong nói:
— Mình vẫn băn khoăn về cái đầu của cậu... Cậu định mang cái đầu sư cụ ấy đi với đội tuyên truyền à?
— Cũng có lý do đấy... Mình sắp rời đội tuyên tryèn, và cũng tạm biệt luôn cả cây đàn.
Phong ngạc nhiên:
— Sao lại như vậy? Cậu sáng tác ngày càng tốt. Ở đại đội mình, anh em bộ đội cũng hát một số bài của cậu.
— Mình muốn cắt đứt với quá khứ.
— Cậu có còn vướng víu với quá khứ nào đâu?
— Cũng có những người cứ muốn buộc mình vào...
Nhờ những bài hát và cây đàn phong cầm, Nhã đã được các chiến sĩ trong toàn trung đoàn yêu mến. Anh không bao giờ từ chối khi bộ đội yêu cầu mình hát. Đối với những bài hát của anh, có lẽ không phần thưởng nào làm anh vui thích bằng những lời khen ngợi của các chiến sĩ. Mỗi khi ở đơn vị có tổ chức mừng công hoặc liên hoan, mọi người lại nhớ đến đội tuyên truyền, nhớ đến Nhã. Những lần được đơn vị mời, Nhã không quên mang theo cây đàn. Anh ca hát ngay cả giữa những bữa ăn liên hoan. Vì anh cảm thấy có thêm chút âm nhạc, bữa ăn rôm rả, vui vẻ lên gấp nhiều lần. Nhưng gần đây, đã trở thành một cái lệ, hễ cơ quan chỉ huy ở trung đoàn có tổ chức cơm rượu, người ta lại mời Nhã tới. Có khi quanh mâm cơm chỉ lèo tèo mấy đồng chí trong ban chỉ huy trung đoàn và một hai vị khách từ cơ quan cấp trên xuống. Nhã cảm thấy mình đang biến thành một công cụ mua vui.
Một lần, Nhã được ban chỉ huy mời lên dự liên hoan.
Chung quanh bàn ăn, có ban chỉ huy trung đoàn, những cán bộ phụ trách các ban và một vị khách lạ mặt.
Bữa ăn không có tuyên bố lý do. Sau đó Nhã mới hiểu, một số cán bộ trong trung đoàn mấy ngày nay, đang tập trung làm việc với cấp trên. Đây chỉ là một bữa ăn bình thường sau buổi làm việc. Cũng không mấy ai chú ý đến sự có mặt lần đầu của Nhã.
Giữa lúc mọi người đang ăn uống, một cán bộ trung đoàn mặt đỏ gay, quay về phía Nhã nhoẻn miệng cười, hàm răng lấp lánh chiếc răng vàng:
— Nhạc sĩ, có bài gì làm một bài cho vui chứ!
Nhã đứng dậy đáp:
— Báo cáo anh: không biết trước là có ca nhạc nên tôi không đem theo đàn.
Nụ cười tắt trên môi đồng chí cán bộ. Mặt anh ngẩn ra:
— Ban chính trị làm ăn thế nào! Đi gọi nhạc sĩ, lại không bảo mang theo đàn... Cứ nhất định phải có đàn mới hát được à?
Nhã vấn đáp với giọng bình tĩnh:
— Thưa anh, ả đào là đàn bà đẹp mà khi hát vẫn phải có đủ ba thứ: có đàn, có phách, lại có cả trống nữa, thiếu một thứ là không hát được.
Đồng chí từ cơ quan cấp trên xuống, phá lên cườiChắc anh đã nhận thấy sự thiếu tế nhị của đồng chí cán bộ trung đoàn và phản ứng bất bình của Nhã qua câu trả lời, nên lấy tiếng cười để át đi. Anh hỏi:
— Nhạc sĩ Trương Quang Nhã đây à?
Chính ủy trung đoàn đáp:
— Đúng đồng chí ấy, cùng ở Thủ đô ra với chúng tôi.
Khách nói tiếp:
— Tôi đã được nghe bài hát mới của đồng chí: "Khúc hát trên đường xa". Tôi không hiểu về âm nhạc lắm. Nhưng tôi rất thích bài hát này. Nếu bài "Mơ đời chiến sĩ" còn là một ước nguyện của tác giả thì đến bài "Khúc hát trên đường xa", bản thân nhạc sĩ đã trở thành chiến sĩ.
Nhã nói:
— Xin rất cảm ơn anh.
Đồng chí cán bộ trung đoàn vẫn chưa hiểu phản ứng của Nhã, lại nói:
— Chỉ mấy anh thanh niên Mèo là hay, cần đàn, ra rừng ngắt mấy cái lá là có đàn ngay!... Hay là bảo liên lạc về đội tuyên truyền lấy đàn đem lên?
Đồng chí cấp trên nhẹ nhàng gạt đi:
— Thôi để dịp khác. Ngồi uống rượu mà nghe "Khúc hát trên đường xa" không hợp đâu...
Kể xong, Nhã nói:
— Mình đã bỏ nghề nhạc công ở các bar, các phòng trà để cầm súng làm anh chiến sĩ, không ngờ về đến xỏừng này lại trở thành một anh ca sĩ mạt hạng. Dù sao thì kéo đàn ở tiệm nhảy, phòng trà cũng còn có quy cách của nó. Ở đây, đúng là một thằng hát rong.
— Đâu phải mọi người đều như vậy?
— Tất nhiên, nhưng cũng không hiếm lắm, nhất là trong hàng ngũ những người có quyền ra lệnh.
— Nếu cậu cầm súng thì còn nhiều người ra lệnh cho cậu hơn.
— Nhưng vẫn giữ được cái tư cách của người cầm súng... Trưởng ban chính trị trung đoàn cũng bảo mình: "Cậu còn nhiều tự ái tiểu tư sản quá!". Mình nói: "Anh gọi cái đó là "tự ái tiểu tư sản" tôi cũng xin chịu. Nhưng thú thật với anh, chính vì cái đó, vì không quen chịu nhục nên tôi mới vứt bỏ tất cả mọi thứ để đi làm lính, tôi đã vứt bỏ tất cả rồi, nhưng còn cómột tí đó thì tôi xin giữ. Vì nhờ có nó mà chưa bao giờ tôi bỏ chạy khi chiến đấu, nếubây giờ bỏ nó, tôi sẽ trở thành một anh lái buôn...". Đáng lẽ mình đi khỏi đội tuyên truyền lâu rồi, nhưng trưởng ban chính trị bảo mình gắng ở lại thêm ít lâu, chờ kết nạp vào Đảng đã... Mình thấy ông này đúng là một người cộng sản... Cậu có biết không...? Chính vì mình nhất định xin xuống đơn vị chiến đấu nên trung đoàn ủy đã quyết định kết nạp mình sớm. Mình mà cứ ở đội tuyên truyền, chưa chắc đã nhanh chóng như vậy... "Tự ái tiểu tư sản" cũng tốt đấy chứ? Mình gọi cái đầu thế này để không phải ra sân khấu nã. Lần này về, mình sẽ chia tay với đội tuyên truyền. Này..., cậu cũng là đảng viên rồi chứ?
Phong im lặng không trả lời.
Nhã lại nói:
— Cậu là chính trị viên cơ mà?
Phong buồn bã nói:
— Mình thua cậu về mọi phương diện. Chắc là khi trao cho mình công tác này, các đồng chí đảng viên cũng có ý định giúp đỡ mình vào Đảng, nhưng họ thấy mình còn xa Đảng quá. Mình chưa có quyết tâm phấn đấu.
— Hay là trở về đơn vị với mình đi? Trở về tiểu đoàn anh Chương, anh Linh... các anh ấy đều nhớ cậu.
— Mình không nhẹ nhàng như vậu... Mẹ mình và hai em mình đều ở đây...
— Và cả người yêu nữa chứ?...
Nói xong, Nhã cười khà khà.
— Cậu đừng mỉa mai mình. Mình biết cách mạng chậm hơn cậu nhiều. Mình cũng đã nghĩ: mình sẽ không ở mãi tại đây...
Nhã chăm chú nhìn Phong, cặp mắt tròn xoe, như dò xét, rồi nhoẻn miệng cười:
— Bây giờ đến lượt cậu... Mình muốn nghe chuyện công nương áo đen trước...
Phong không biết bắt đầu câu chuyện của mình thế nào, so với những chuyện Nhã vừa kể thì cuộc sống của anh suốt thời gian qua đầy dẫy những chuyện tẻ nhạt, hơn thế, có phần nào lạc diệuTuy vậy, anh cũng gắng kể cho bạn nghe không giấu giếm điều gì.
Nhã ở lại nông trường thêm ngày hôm sau. Đại đội trưởng Khải rất nhanh nhạy đối với một cơ hội tốt, anh đề nghị Nhã nói chuyện với toàn thể bộ đội nông trường. Họ không những được nghe kể chuyện chiến thắng trên các mặt trận mà còn được nghe một số bài hát mới.
Nhã đã khuấy động không khí yên tĩnh của nông trường trong hai ngày anh ở tại đây. Trước khi chia tay Phong, Nhã nói:
— Cậu nên ở lại. Không khí này cũng sống được. Suy cho cùng thì kháng chiến không phải chỉ có một việc là đi đánh nhau...
Phong đáp lại câu nói của anh bằng một cái nhìn buồn bã.
Một chuyện bất ngờ đối với đại đội trưởng Khải là vài ngày hôm sau có hàng chục chiến sĩ ở nông trường yêu cầu được chuyển ra đơn vị chiến đấu.
Cuối mùa xuân, bộ đội đóng tại Thái Nguyên bắt đầu đi vãn. Có người nói: họ lên đường số 4 ở biên giới. Có người nói đã nhìn thấy rất nhiều đơn vị kéo đi kìn kìn vượt qua núi Tam Đảo, chắc là để về xuôi. Khu căn cứ Việt Bắc không còn bóng giặc, đã trở thành một vùng hậu phương thực sự. Quân địch đã chiếm thêm một số vùng đất đai ở Việt Bắc, và ở cả Tây Bắc, sau cuộc tiến công Thu - Đông vừa rồi, nhưng chúng không đáng để ta phải lo ngại như trước. Những đơn vị chúng rải ra trên dọc những con đường số 3, số 4 chỉ còn là những toán quân đồn trú làm nhiệm vụ phòng ngự và bảo đảm đường giao thông. Quân địch đóng ở thị xã Bắc Cạn nơm nớp lo ngại một cuộc tiến công của quân ta chưa biết sẽ nổ ra vào lúc nào. Sức tiến công của chúng đã yếu hẳnđivì nhiều đơn vị cơ động đã trở thành quân chiếm đóng. Nếu địch chưa có thêm viện binh mới thì mưu đồ càn quét khu căn cứ cũng chẳng dễ gì tái diễn.
Vắng bóng chiến sĩ của đơn vị chủ lực, phố xá, xóm làng trở nên ngơ ngác. Không còn những đêm liên hoan lửa trại tưng bừng. Không còn những tiếng hát kèm theo nhịp vỗ tay vang lên buổi tối trong những thôn xóm. Không còn những toán bộ đội quần áo ướt đẫm mồ hôi và vàng khè đất đỏ, chiều chiều vác bia, vác súng, vác mã tầutư bãi tập về, đi ngang phố với vẻ mặt trang nghiêm vì biết là có những cặp mắt đang nhìn ngắm mình. Cũng không có những anh cán bộ mặt trẻ măng, đôi lúc rất ồn ào, hay la cà ở những hàng quán. Họ là niềm vui, niềm tin, là hy vọng, là chỗ dựa tinh thần của những người kháng chiến. Vắng họ, dường như vắng tất cả. Chính vì vắng họ mà mọi người lại thường hay nghĩ đến họ.
Sau ngày Nhã đi, Phong bâng khuâng mất một thời gian. Anh không đến chỗ Mai mặc dù anh rất muốn gặp lại cô gái. Nói gì với cô gái đó khi cô đã tìm mọi cách để trở về trung đoàn, để được ra mặt trận, còn anh thì ẩn náu ở đây với cả gia đình, và còn tính chuyện nương thân lâu dài.
Riêng trung đội của Phong đã có năm chiến sĩ nằng nặc đòi ra chiến đấu. Phong đã đi tuyển những chiến sĩ này ở một huyện thuộc tỉnh Phú Thọ. Lúc tuyển quân, chỉ nói là lấy bộ đội cho binh đoàn chủ lực của Bộ. Người xin di khá đông. Phong phải bỏ lại một số, và chỉ lấy đủ số người đơn vị đang cần. Khi về nông trường, không thây họ có phản ứng gì. Phong đã nghĩ rằng, họ sẽ yên tâm công tác lâu dài vì điều kiện sinh hoạt tại nông trường rõ ràng ítkhó khăn hơn ở đơn vị chiến đấu, và lại không phải lo lắng gì vì bom đạn. Biết đâu họ ại không nghĩ đây là một điều may!... Nhưng bây giờ anh đã biết là mình lầm. Trước kia, Phong thấy mình hơn họ mọi mặt, không riêng về hiểu biết mà còn cả hàng chục vết thương trên ngườiBây giờ, anh cảm thấy mình thua kém họ. Họ đã không cam chịu sống một cuộc sống yên tĩnh trong khi mọi người đi chiến đấu. Phong đã đề nghị đại đội thỏa mãn yêu cầu của họ.
Đã lâu không thấy Kiều Oanh đến. Có chuyện gì đã xảy ra với cô? Mặc dù đã có quy ước không nên gặp nhau luôn, nhưng cô không thể để quá lâu ngày mà không gặp anh. Nhân một lần Khải lên cục quân nhu, anh nhờ chuyển một lá thư cho Lượng. Khải đem bức thư về trả lại anh, nói là Lượng đi công tác. Phong nghĩ hay vì Lượng đi vắng nên Kiều Oanh không biết nhờ ai để hẹn hò với mình. Nhưng anh vẫn cảm thấy có chuyện không hay đã đến với cô và chuyện đó cũng sắp đến với mình.
Một buổi sáng, Phong đang ở ngoài ruộng thì thấy chú bé con nhà văn Trường Xuân, chiếc mũ ca lô tím vắt vẻo trên đầu, vừa đi vừa thổi sáo, đến chỗ anh:
— Báo cáo anh Phong, anh Khải mời anh về gặp.
Chắc có việc gì cần, chú bé mới phải ra tận cánh đồng tìm anh. Phong hỏi thử:
— Đại đội có việc gì cần, chú bé mới phải ra tận cánh đồng tìm anh. Phong hỏi thử:
— Đại đội có gọi ai nữa không, hay chỉ có mình?
— Mình anh thôi ạ. Anh Khải bảo em phải tìm cho được anh...
Phong rửa vội chân tay bên bờ suối, rồi cùng chú bé về đại đội.
Khải đang ngồi một mình trong căn nhà của đại đội bộ có vẻ như chờ anh. Thấy anh, Khải mỉm cười. Nụ cười của Khải làm Phong chột dạ. Hình như đại đội trưởng chuẩn bị nói một điều mà anh cảm thấy khó nói.
Trước mặt Khải là một cuốn sổ nhỏ.
Khải hỏi:
— Những vết thương của anh dạo này thế nào rồi?
— Đã lành cả.
Phong không hiểu tại sao Khải lại bắt đầu câu chuyện từ những vết thương của anh.
Khải hỏi tiếp:
— Mấy chục vết cơ mà?
— Cũng may mảnh lựu đạn chỉ trúng vào phần mềm. Còn sót một mảnh nhỏ ở bắp chân, nhưng không sao, bác sĩ nói rồi nó sẽ bị đùn ra.
Khải ngồi im lặng, tay cầm chiếc bút máy gõ nhè nhẹ trên quyển sổ. Rồi Khải nói:
— Anh có biết vì sao trung đội anh hoạt động công tác chính trị rất khá, nhưng người ở phòng chính trị binh đoàn xuống, tôi chưa bao giờ mời ra thăm trung đội anh?
Phong lắc đầu nhè nhẹ. Nghe Khải nói anh mới chú ý đến điều này: từ khi anh về công tác, chưa bao giờ có người ở binh đoàn xuống thăm đơn vị anh. Trước đây, anh nghĩ chuyện đó là bình thường, người ở cơ quan cấp trên xuống làm việc với đại đội không nhất thiết phải xuống trung đội.
Khải tung cái bút xuống quyển sổ, rồi nói tiếp:
— Tôi không để các anh ấy xuống đơn vị anh vì muốn giữ bí mật anh với binh đoàn... Tôi muốn anh làm việc ở nông trường lâu dài, và tôi biết những người như anh, binh đoàn đang rất cần... Nhưng không hiểu vì sao bây giờ ở trên đó lại biết anh ở đây...?
Khải mở quyển sổ, lấy ra một phong thư anh kẹp bên trong rồi đưa cho Phong.
— Đồng chí trưởng phòng chính trị vừa viết thư riêng cho tôi, anh đọc đi...
Qua lá thư, Phong biết binh đoàn nay mai sắp đưa một số đơn vị đi chiến đấu, phòng chính trị binh đoàn đang cần những cán bộ có khả năng làm phóng viên chiến tranh, nên "có ý định điều đồng chí Lê Phong của đại đội anh lên binh đoàn, nếu các anh cần chính trị viên trung đội, chúng tôi sẽ điều cho các anh một đảng viên. Nghe nói dưới đó, các anh cũng đã có một nhà văn. Chúng tôi rất cần đồng chí Phong. Nếu đồng ý, các anh cho đồng chí Phong lên ngay để kịp đi cùng đơn vị, chúng tôi sẽ gửi quyết định sau".
Phong đưa trả đại đội trưởng lá thư.
Khải nói như để phân trần:
— Không biết ai giới thiệu anh với các anh ấy...? Nhưng bây giờ có cách này... Tôi sẽ trả lời là anh còn một vết thương chưa lành hẳn... Ta làm kế hoãn binh, rồi tính sau. Chỉ khoảng cuối năm nay, đơn vị sẽ tách khỏi binh đoàn. Chúng mình là đơn vị tĩnh tại mà binh đoàn thì cơ động. Tôi nghĩ anh đi thì đại đội thiếu người, mà bà cụ sẽ buồn... Đó là ý kiến của riêng tôi, còn nếu ở trên cứ quyết định điều, đơn vị cũng phải chịu. Anh thấy thế nào?
Phong nói ngay:
— Anh cho hỏi: nếu tôi đi thì mẹ tôi và các em có thể cứ tiếp tục công tác ở đây không?
— Tại sao lại không?Bác và các em anh còn làm việc tốt hơn nhiều nhân viên của nông trường...
— Như vậy thì..., vì đây là nhiệm vụ chiến đấu, xin các anh cho tôi đi.
Khải hơi sững ra, có lẽ Khải không nghĩ là Phong sẽ từ chối sự gợi ý của mình. Nhưng thấy ánh mắt chân thành và khẩn khoản của Phong, Khải lại nhìn xuống lá thư đặt trên bàn.
Rồi Khải nói:
— Anh nên cân nhắc kỹ đi... Tôi cho rằng năm nay đi chiến đấu sẽ rất... vất vả. Anh cũng nên hỏi qua ý kiến bà cụ.
— Việc này tự tôi có thể quyết định được.
Khải nhét lá thư vào trong cuốn sổ và gấp lại.
Phong lại nói:
— Tôi đề nghị anh không nên nói với mẹ tôi là tôi xin đi...
Khải chỉ gật đầu. Phong thấy rõ ràng là Khải không bằng lòng. Dù sao, đây cũng là ý định tốt của Khải đối với mình.
Cuối cùng Khải nói:
— Tôi có hơi nghĩ nhiều đến bà cụ... Thực ra, từ chối yêu cầu của phòng chính trị binh đoàn là một điều không có lợi cho tôi. Nếu như vậy, anh chuẩn bị ngày kia lên đường. Nó đã chuyển sang bên kia núi Tam Đảo...
Phong ra về, người lâng lâng. Anh bỗng cảm thấy mình yêu thích chính mình. Anh muốn gặp lại ngay những người bạn chiến đấu cũ. Từ nay, anh không còn phải trốn tránh họ. Bầu trời Việt Bắc trở nên quang đãng hơn, to rộng hơn. Những con đường dài tít tắp, đầy đồn bốt địch hiện ra trước mắt anh, gợi lên một sự kích thích và làm cho nhựa sống căng trào trong người anh. Lúc này, anh chưa nhớ đến Kiều Oanh mà chỉ nghĩ đến cặp mắt o buồn của mẹ. Đó là hình ảnh duy nhất làm hạn chế niềm vui của anh.