***

Đất Nước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
8

❊ ❊ ❊

Nửa đêm, Nhã đang ngủ say thì thức giấc vì có người lay gọi.

— Tỉnh ngủ chưa, anh Nhã?

— Cái gì vậy?

Nhã nhận ra Tú đang ngồi bên mình.

— Anh Linh bảo anh đưa cả tiểu đội lên ban chỉ huy tiểu đoàn ở Ngõ Gạch, gặp anh Chương.

Từ một tuần nay, Nhã đã được chỉ định làm tiểu đội trưởng.

— Được rồi! - Nhã vùng dậy.

— Đem theo tất cả vũ khí, trang bị. Tiểu đoàn rút hẳn tiểu đội anh lên trên ấy.

— Cậu chạy đi đánh thức anh em cho mình.

Nhã gấp tấm mền chăn bỏ vào cái xắc, rồi mặc quần áo và đi giày. Chỉ còn đeo bao đạn vào người và khoác khẩu súng lên vai là xong. Đời lính quả nhẹ nhàng. Mấy ngày nay, Nhã nhận thấy cuộc chiến đấu tại Hà Nội đang đi vào giai đoạn cuối cùng. Địch không còn thương xót gì những đường phố này. Nếu không diệt được những người đang còn chiến đấu ở đây, chắc chắn chúng sẽ dùng bom đạn biến tất cả thành một đống gạch vụn. Trưa hôm nay, máy bay bà già đã rải truyền đơn khuyên tự vệ hãy kéo cờ trắng ra đầu hàng. Kẻ địch coi như chúng đã nắm chắc phần thắng. Nhã quấn lá cờ đỏ vào cổ. mặc dù ban đêm, anh vẫn sờ tay sửa hai đầu khăn và nắn cái nút cho cân đối. Anh muốn trước mắt mọi ngưởi, ngay cả kẻ thù, mình vẫn phải đẹp. Đẹp ngay cả với bộ quần áo không còn lành lặn, nhuốm nhiềubun đất, kể cả máu của anh và của các bạn đồng đội. Ngay cả khi ngã xuống, anh cũng muốn mình phải ở trong một thư thế thật đàng hoàng. Vài hôm nay, trong đầu anh đang rung lên những âm thanh của một bản nhạc mới mà anh đã chọn cái tên là "Thủ đô huyết hệ". Liệu mình còn đủ thì giờ để hoàn thành bản nhạc này không...?

Tiểu đội đã tập hợp trên sân. Nhã nói:

— Chúng mình lên tiểu đoàn nhận nhiệm vụ mớiAi xem còn để quên cái gì trong nhà thì vào lấy nốt, ta sẽ đi thẳng không quay về đây nữa.

Một hai người chạy vào nhà, rồi quay trở lại đứng vào đội ngũ. Qua những ngày chiến đấu, họ đã gắn bó với nhau như một cơ thể. Họ đều inh cảm thấy qua việc điều động tiểu đội giữa ban đêm, tình hình Liên khu đã trở nên rất quyết liệt.

— Xong cả chưa? - Nhã hỏi.

— Xong. -Cả tiểu đội đáp.

— Mình thay mặt anh em gửi lời chào anh Linh và tất cả các đồng chí trong đại độiChúc đại đội giữ vững trận địa phố Hàng Thiếc.

Minh Tú ấp úng vì xúc động.

— Các anh đi...

Nhã chợt nhìn thấy một bóng người bé nhỏ đứng co ro ở khung cửa ngôi nhà bên. Một cô gái quấn chiếc khăn len dài trùm kín đầu, nửa chiếc khăn buông trước ngực. Anh nhận ra đó là Tuyết Mai. Nhã giơ tay, cố lấy giọng vui vẻ:

— Chào đồng chí nữ cứu thương nhé! Anh em trong tiểu đội rất cảm ơn và rất nhớ đồng chí.

Mai vẫn lặng thinh. Cô đã từ đại đội chạy xuống đây để nhìn họ lần cuối cùng trước khi họ ra đi. Cô không trả lời Nhã vì sợ mình bật lên tiếng khóc. Đến cuộc chia tay này thì những người bạn ở phố Nhà Thờ bữa trước không còn ai.

Nhã nói:

— Đi thôi...

Anh vẫy tay chào cô gái rồi đi qua nhà để ra mặt đường. Nhiều chiến sĩ tách khỏi hàng, chạy lại bắt tay Mai. Họ nhận thấy cô gái đang khóc. Trong đầu Nhã vang lên những câu hát:

«Ra đi không vương thê nhi

Miền bắc núi tuyết rét buốt

Quen vui trong muôn phân ly...»

Sự cảm khái của Nhã lúc này pha trộn với sự sảng khoái. Anh cảm thấy mình đã để lại trong lòng cô gái một ấn tượng hào hùng khi ra đi.

Trời tối đen. Qua ánh sáng sao, họ vẫn nhìn thấy những đống gạch ngói đổ, những mái hiên sã xuống như chỉ chờ đợi cơn gió là bay khỏi mái nhà, những ô cửa không còn cánh cửa, đen ngòm như hố mắt người mù.

Nhiều ngôi nhà chỉ còn là những bức tường nham nhở sau những đợt ném bom mấy ngày qua.

Người chiến sĩ liên lạc đưa nhã vào một ngôi nhà nhỏ, sâu và yên tĩnh giống như một ngôi chùa. Đồ đạc trong nhà tất thảy còn nguyên vẹn. Buồng ngoài không có ai. Họ đi qua một sân nhỏ có bể non bộ, những chậu cây cảnh và giàn hoa thiên lý. Nhà trong là nơi đặt bàn thờ gia tiên, những đài nến, lư đồng bóng lộn. Nhã nhìn thấy tiểu đoàn phó Chương đang ngồi ở ghế tràng kỷ với hai người khách. Người ngồi cùng ghế vớianh, đội mũ bê rê, cặp mắt sắc sảo, bộ râu quai nón được cạo kỹ để lại một vệt xanh chạy vòng quanh cằm và hai bên má. Trước mặt họ là một chị mặc áo vét ka ki, Nhã nhận ra ngay đó là Thúy Hường.

Tiểu đoàn phó quay ra nhìn Nhã, tươi cười như mọi lần:

— Đến rồi đấy à!... Đồng chí liên lạc đưa cả tiểu đội tới gặp anh Dương ở đầu phố, nói là tiểu đoàn bổ sung cho trung đội dự bị... Còn đồng chí Nhã, ở lại đây. Vào nhà trong ngủ đi, sáng sớm ngày mai sẽ đi với mình... Từ giờ cậu là trinh sát của tiểu đoàn.

Chương quay lại nói với hai người ngồi cùng:

— Đây là một trong hai cậu mà tôi vừa nói chuyện với các đồng chí. Các cậu ấy có rất nhiều sáng kiến.

Người đội mũ bê rê liếc cặp mắt sắc sảo nhìn Nhã đứng hơi lom khom như muốn giấu bớt chiều cao của mình. Nhã cảm thấy ông không tin lời giới thiệu của Chương nên ông không nói gì. Riêng Thúy Hường sốt sắng reo lên:

— Tưởng ai! Tôi gặp các đồng chí này rồi... Có phải một đồng chí nữa đi với anh bữa trước đang nằm điều trị ở bệnh viện Hàng Buồm?

Nhã tự nhiên đập đôi giày da vào nhau, đáp:

— Chị nhớ rất đúng. Đó là đồng chí Phong.

Chương hỏi:

— Cậu ấy sắp ra viện chưa?

— Tôi nghĩ là chưa.

— Thôi... Cậu đi ngủ lấy vài tiếng. Sáng mai phải đậy rất sớm và phải làm việc suốt ngày.

Gian buồng trong kê một chiếc giường đôi, giống như chiếc giường của một cặp vợ chồng già. Giường đóng bằng gỗ tốt, theo kiểu cũ có những dẻ quạt ở hai đầu. Diềm màn và đôi gối đặt ở đầu giường đều là những thứ hàng thêu sờn cũ vì dùng đã lâu ngày.

Nhã chỉ cởi giày, để nguyên quần áo lên giường nằm. Anh không muốn đắp chiếc chăn bông vẫn gấp để bên cạnh giường, vì đoán là thứ tiểu đoàn phó lát nữa phải dùng đến.

Cuộc trao đổi giữa tiểu đoàn phó, Thúy Hường và người đội mũ bê rê từ nhà ngoài thỉnh thoảng lại bay vào.

Tiếng người đội mũ bê rê, giọng nói thanh của một người có học, nhưng hơi xẵng:

— Tôi bảo đảm với anh, nó không dại gì mà rúc nào chiến lũy, nó sẽ tiến từ đầu cầu vào qua sân bóng. Bãi rộng, không có vật cản, không có chiến hào, các anh chẳng có chỗ nào ẩn nấp mà ném lựu đạn. Nó thừa biết ta chỉ mạnh về lựu đạn. Nó sẽ từ sau chợ đánh vào.

Giọng Chương bình tĩnh, giống như anh đang cười:

— Cũng tính rồi!... Tôi đã cho chôn mìn trên sân bóng. Khẩu trung liên đặt ở phía này. Nó vào đến gần chợ thì ta sẽ chơi với nó bằng lựu đạnKhi nó ở xa thì súng trường vẫn được việc.

— Anh bố trí ở phía sau chợ bao nhiêu người?

— Hai tiểu đội.

— Hơi ít đấy!

— Còn phải giữ các mặt Hàng Khoai, Hàng Rươi, Hàng Gạo và cả trong chợ.

— Mỗi nơi bao nhiêu?

— Một trung đội.

— Còn một trung đội nữa đâu?

— ở đây, một trung đội thiếu làm dự bị. Vì thế tôi mới phải điều một tiểu đội từ Hàng Thiếc về. Nơi nào yếu sẽ tăng viện cho nơi ấy.

— Phải động viên bộ đội đánh giáp lá cà!

— Anh em mình nhỏ quá!

— Có đánh giáp lá cà nó mới sợ... Các đồng chí ở đây vẫn thuận lợi hơn nhiều so với chúng tôi ở nhà Xô-va. Nhà Xô-va là một vị trí đột xuất, chỉ còn có cái xác nhà. Chúng tôi chẳng có bao nhiêu người, nhưng cứ bám địch thật sát, đánh rát là chúng phải bật ra... Chợ Đồng Xuân chắc chắn hơn nhiều. Chung quanh lại có nhiều nhà cửa bao bọc. Nhất định giữ được...

Họ im lặng. Rồi Thúy Hường lên tiếng:

— Tôi lo đạn thiếu... Hôm nay trung đoàn tính toán mãi mới điều thêm cho đơn vị mấy trăm viên đạn.

Tiếng của Chương:

— Tôi đã bảo anh em, khi chúng nó vào gần có thể dùng cả gạch, đá mà đánh.

Tiếng người đội mũ bê rê:

— Nó sợ nhất vẫn là bạch binh ...

Nhã đã hiểu là ngày mai đich có thể đánh vào khu vực chợ Đồng Xuân. Lực lượng của họ ở đây không có nhiều và khó khăn rất lớn là thiếu đạn được. Anh nghĩ đến những trận đánh giáp lá cà và cảm thấy rùng mình...

Thúy Hường và người đội mũ bê rê đã ra về. Chương đi vào. Anh tưởng là Nhã đã ngủ. Chương mở chiếc chăn bông đắp cho Nhã và nhẹ nhàng nằm xuống bên anh Nhã không dám cựa mình, sợ đồng chí tiểu đoàn phó biết anh đã nghe toàn bộ câu chuyện của những người chỉ huy. Và anh cũng lo đồng chí ấy cho rằng mình không ngủ được vì sợ trận đánh ngày mai.

Chỉ một lát sau, anh đã thấy chương ngáy đều đều. Giấc ngủ của một người vô tư. Những anh cũng hiểu rằng cấp trên đang có nhiều chuyện phải lo lắng, cân nhắc. Ở tiểu đội, trung đội, chưa bao giờ người ta phải thức gần suốt đêm để bàn những chuyện ngày mai có thể xảy ra.

Bầu trời chỉ còn lại một vì sao sáng chói. ánh sáng của nó rất lạnh.

Nhã và một đồng chí liên lạc theo tiểu đoàn phó đi trên những đường phố ẩm ướt, im lìm. Bước chân họ vang lên. Nghe rõ cả những viên ngói vỡ lách tách.

Chương đi rất nhanh, to ra anh thông thạo mọi đường lối, ngõ ngách. Họ ra đến đầu Hàng Mã thì nghe tiếng xe xích của địch chạy ở phía Hàng Đậu. Chương quay lại bảo họ.

— Nhanh lên! Nó dậy sớm hơn cả mình.

Chỉ lát sau, họ đã tới trước cửa chợ Đồng Xuân. Lá cờ đỏ sao vàng vẫn ngạo nghễ tung bay trên vòm cao nóc chợ ở chính cửa giữa. Kiến trúc mặt trước đồ sộ của ngôi chợ chưa bị sứt mẻ vì bom đạn.

Mấy chiến sĩ đang lúi húi xóa dấu mìn chôn trên mặt đường. Chương đi tới hỏi họ:

— Đồng chí trung đội trưởng đâu?

Một người đội mũ sắt mặc quần soóc và áo trấn thủ, ngẩng đầu lên, đáp bằng giọng người miền núi:

— Tôi đây.

Nhã reo lên:

— Đồng chí Tôn Chỉ!

Anh không ngờ lại gặp đồng chí trung đội trưởng cũ ở đây.

Chương hỏi:

— Nhã biết Tôn Chỉ ở đây à? Đồng chí ấy đã về với mình sau ngày vỡ mặt trận ở Ngõ Huyện.

Anh quay lại phía Tôn Chỉ:

— Xong cả chưa?

— Tốt rồi.

— Đưa mình vào trong chợ.

Trong ánh sáng mờ mờ của ban mai, Nhã nhìn thấy chợ rộng bát ngát, những quầy hàng chạy thành ô, những tủ đựng hàng, những sọt chứa hàng vẫn còn nguyên vẹn. Những người buôn bán rời chợ chiều ngày 19 tháng Chạp không biết rằng ngày hôm sau họ không còn có dịp trở lại.

Chương đi kiểm tra những đường hào mới đào giữa chợ, rồi bảo Tôn Chỉ:

— Có thời gian cho anh em đào sâu thêm. Các quầy hàng là chỗ ẩn nấp tốt, mà quan sát địch cũng tốt. Bảo anh em bình tĩnh khi ném lựu đạn. Lựu đạn không nổ là rất phí. Đồng chí trung đoàn phó nói: khi cần cho anh em đánh giáp lá cà. Tây rất sợ đánh giáp lá cà.

Chương nhấc một con dao bầu nằm trên mặt chiếc quầy, trước đây là nơi bán thịtAnh liếc tay vào lưỡi dao sắc lẹm:

— Khi cần cũng được việc đây!

Anh đặt chiếc dao vào chỗ cũ, hỏi:

— Trung đội có mặt hôm nay bao nhiêu người?

— Mười chín.

Anh ngẫm nghĩ rồi nói:

— Đánh không được thì rút về những nhà chung quanh, lợi dụng mái nhà, nhà gác mà ném lựu đạn xuống. Có thể rút về Hàng Chiếu.

— Tây vào thì đánh bật ra, không rút đâu!

Chương mỉm cười:

— Đánh Tây có khó bằng đánh Nhật ở Việt Bắc không?

— Có cái dễ, có cái khó...

— Tiếp tục chuẩn bị đi. Mình nhắc lại khi cần có thể rút về Hàng Chiếu. Rút rồi tối ta lại đánh, lấy lại...

Chương đi sâu vào phía trong chợ, luồn qua những ỗ đục tường quanh co, dẫn hai người lên sân thượng một ngôi nhà một tầng. Ba chiến sĩ đã có mặt trên đó với một khẩu trung liên. Một người cao lớn, đội mũ ca lô, mặc bộ quân phục bằng vải ka ki ngoại dày dặn, dập đôi giày đinh thành một tiếng kêu giòn tan, giơ tay lên vành mũ, nói bằng một giọng nhà binh đặc sệt:

— Báo cáo đồng chí tiểu đoàn phó: toàn thể khẩu đội đã sẵn sàng.

Nhã nhận thấy người lính này hơn hẳn mình về tư thế chiến đấu. Bộ mặt của anh rám nắng, không còn ít tuổi. Anh không giống với những anh Vệ quốc quân khác. Anh sang trọng hơn họ, nghiêm chỉnh hơn họ. Anh cũng không giống những anh tự vệ thành như Nhã, cũng có những bộ quần áo quân phục không kém. Cái khác ở anh với mọi người là anh có một dáng rất "nhà binh". Và Nhã có cảm giác như đã từng gặp anh ở đâu.

Chương giơ tay chào đáp lễ, rồi hỏi:

— Liệu hôm nay súng có hóc nữa không?

— Báo cáo tiểu đoàn phó: trung liên đã được sửa từ chiều hôm qua, dầu mỡ tra đầy đủ, nếu địch đến sẽ nổ giòn.

Chương ra chỗ đặt trung liên, ghé mắt vào máy ngắm di chuyển nòng súng theo một đường vòng cụng hướng về phía bãi bóng trước mặt. Anh nhận xét:

— Vị trí bắn rất tốt.

Anh chiến sĩ áo vàng lại dập gót giày đánh rốp đứng im như pho tượng.

Chương nói tiếp:

— Ngày hôm nay khẩu đội các đồng chí cố gắng kiểm soát chặt bãi bóng này, không để cho bộ binh địch vượt qua.

Anh chiến sĩ cao lớn vẫn đứng ngay người nghe lệnh.

Chương lại vỗ vai anh và chuyển sang giọng nói vui vẻ.

— Khẩu đội các đồng chí là "niềm hy vọng của Bắc Hà" trong trận đánh hôm nayTrung đoàn dự đoán địch sẽ từ đầu cầu, tiến qua bãi bóng này vào chiếm chợ. Nếu các đồng chí chặn được chúng ở đây thì trận đánh của nó sẽ thất bai. Chúng tôi đặt nhiều hy vọng vào các đồng chí.

Anh chiến sĩ vẫn không thay đổi tư thế. Chương giơ tay bắt tay anh và các bạn đồng đội của anh trước khi đi. Nhưng đến khi anh rời khẩu đội, người chiến sĩ cao lớn lại một lần nữa giơ tay lên vành mũ.

Khi đã rời ngôi nhà, Nhã nói với tiểu đoàn trưởng:

— ông vừa rồi có vẻ quân sự trăm phần trăm.

— Đồng chí ấy là Hải ngoại quân.

Nhã chợt hiểu. Sau ngày đất nước giành được độc lập, một buổi chiều, anh bỗng thấy xuất hiện trên đường phố Hàng Bài một đoàn người khá dài, mặc toàn binh phục màu vàng, xếp hàng ba đi đều theo nhịp kèn đồng của ba người dẫn đầu, trong đó có một người rất to béo. Nhã hỏi thăm mới biết đây là những người Việt Nam bị bắt lính sang Pháp hồi đại chiến thế giới lần thứ hai. Nước nhà đã giành được độc lập, họ ra sức đấu tranh để trở về nước. Và hôm nay họ có mặt trong cuộc chiến đấu bảo vệ Thủ đô.

Chương đưa Nhã và đồng chí liên lạc lên một ngôi nhà ba tầng ở gần chợ. Ngôi nhà này có lẽ đã được anh nhắm sẵn từ trước. Từ đây, họ có thể nhìn vào trong chợ Đồng Xuân, nhìn về phía Hàng Khoai và nhìn ra bãi đá bóng.

Tiểu đoàn phó nói:

— Ta đặt sở chỉ huy ở đây. Ba người chúng mình có hai súng trường, một côn bát, hỏa lực như thế là mạnh, ta thành lập một tổ chiến đấu, mình làm tổ trưởng. Nếu quân Pháp vào, chúng mình cũng sẽ trực tiếp đánh Pháp. Bắt đầu kia rồi... các cậu thấy chưa?

Chương trỏ tay ra ngoài cửa sổ. Trên nền trời x hai chiếc máy bay đang lượn vòng về phía họ. Tiếng xe xích ầm ầm mỗi lúc càng to làm cho họ không nghe rõ tiếng động cơ máy bay.

— Nó lượn vòng rồi!

Chương nhìn những bức tường và trần nhà vững chãi, nói tiếp:

— Nó ném bom, ta phải xuống dưới nhà. Nó bắn ta cứ ở đây.

Bỗng họ thấy những tấm mái tôn trên nóc chợ Đồng Xuân bay tung, và nghe tiếng nổ ràn rạt ngay trên đầu.

Hai chiếc máy bay theo nhau gầm rú lao xuống trút đạn vào chợ. Tấm mái tôn này tiếp theo tấm khác bay lên.

Tiếng nổ đầu nòng của súng cối liên tiếp vọng tới. Họ nhìn những đám khói phụt lên trên bãi đá bóng.

Nhưng rồi họ quên đi những luồng đạn ràn rạt từ máy bay bắn xuống, những loạt đạn moóc-chi-ê đang rơi xuống bừa bãi khắp nơi. Từ phía cầu Long Biên đã xuất hiện một đoàn xe tăng có đám lính Pháp lúc nhúc theo sau.

Năm chiếc xe tăng húc đổ bức tường bao quanh sân bóng rồi chồm qua những đám gạch, vữa tiền tiến vào. Súng đại bác trên xe tăng bắn thẳng vào trong chợ.

Ban nãy, Chương đã chỉ cho Nhã biết bãi mìn trên sân bóng. Nhưng những chiếc xe tăng vẫn lừng lững vượt qua. Không một tiếng mìn nổ. Trận địa của ta hoàn toàn im ắng. Tại sao trung liên củata vẫn chưa nổ? hay là những người giữ trung liên đã rút khỏi vị trí từ lúc máy bay địch lao xuống bắn phá? Lúc này Nhã đã nhìn rõ bộ binh địch. toàn là những tên lính mũ đỏ, ào ạt tiến theo xe tăng, như một dòng nước lũ đe dọa nhấn chìm mấy chục chiến sĩ của ta đang nằm chờ trong chợ.

Bỗng những tiếng "pành pành" nổi lên. Đám bộ binh địch nhốn nháo. Những tiếng "pành pành" yếu ớt và thưa thớt như bị loãng tan trong tiếng súng địch nổ dữ dội, nhưng mỗi lúc lại tạo nên sự hỗn loạn trong đám quân địch. Chúng chạy tung tóe. Và họ đã nhìn thấy hàng chục tên địch nằm lăn trên bãi. Cùng lúc đó, nhiều tiếng súng trường từ phía trận địa ta bắt đầu nổ. Rồi Nhã như không tin vào mắt mình, một loạt khói đen đang phụt lên trên bãi.

Chương vui vẻ:

— Mìn nổ rồi!

Xác địch nằm ngổn ngang trên bãi đá bóng.

Bọn lính mũ đỏ xô nhau chạy ngược về phía sau.

Đợt tiến công của địch chững lại.

Lát sau, những xe tăng địch chuyển hướng đi về bên trái. Một chiếc qay nòng pháo nã về phía ngôi nhà ta đặt vị trí trung liên. Súng máy của ta ngừng nổKhông hiểu súng bị hóc hay những người xạ thủ đã hy sinh.

Địch thay đổi cách đánh.

Một xe tăng dẫn một toán quân địch tách ra, đi tạt sang phố Hàng Khoai thọc vào bên phải chợ.

Toán địch còn lại đông hơn, đi chếch sang bên trái tiếp tục tiến vào phía sau chợ.

Tình hình rõ ràng là nguy ngập hơn. Mìn của ta đã nổ hết cả rồi. Khẩu trung liên duy nhất của ta ở đây không còn hoạt động. Với cách đánh mới này của địch, những chiến sĩ bảo vệ chợ Đồng xuân sẽ bị bóp nghẹt từ hai phía.

Tiểu đoàn phó bảo đồng chí liên lạc:

— Chạy về báo cáo đồng chí tiểu đoàn trưởng đưa ngay trung đội dự bị lên tăng cường cho trung đội ở trong chợ!

Xe tăng địch đã húc đổ bức tường phía sau chợ. Hai chiếc bắt đầu chui hẳn vào trong, chà lên những ụ súng và những hào giao thông. Đây là tình hình mà không ai nghĩ tới.

Tiểu đoàn phó hỏi Nhã:

— Đồng chí có bao nhiêu viên đạn?

— Ba chục viên.

— Kê nòng súng vào cửa sổ, nhằm trúng những thằng chui vào chợ mà bắn.

Bọn lính mũ đỏ đã ùa vào trong chợ. Nhã bắn hết viên đạn này đến viên đạn khác. Anh cuống lên vì thấy địch ở trong chợ mỗi lúc một đôngTiểu đoàn phó giằng lấy khẩu súng trong tay anh.

— Cậu nạp đạn vào sác-giơđi, để mình bắn.

Tuy nhiên, những phát súng của tiểu đoàn phó cũng không ngăn cản được quân địch. Chúng không chú ý tới những phát súng trường của họ. Chúng chạy trên những quầy hàng. Khu chợ đã bị chúng cắt làm đôi.

Lúc đầu Nhã thấy những đám khói lựu đạn giữa đám quân địch và nghe những phát súng trường nổ dồn dập. Nhưng về sau, anh không còn nhìn thấy khói lựu đạn và thỉnh thoảng mới nghe có tiếng súng. Những bóng áo xanh bé nhỏ chạy nép dọc quầy hàng. Họ ném những lọ sành, những chiếc nồi đất và lao những tấm ván, gỗ về phía quân địch. Một chiến sĩ nhảy hẳn lên mặt quầy quật bắng súng vào đầu một tên lê dương vừa lao tới, rồi lại nhảy xuống chạy men theo quầy hàng.

Chợt anh nhìn thấy một người mặc áo trấn thủ, quần soóc nấp bên một quầy hàng thịt. Đúng là Tôn Chỉ. Anh không còn chiếc mũ sắt trên đầu. Tôn Chỉ cầm trong tay một con dao bầu. Không biết anh nấp ở đó làm gì. Đáng lẽ anh nên lui về phía cuối chợ. Ở đây có đường đi về phía sau. còn độc mình anh đứng nép dưới chiếc mặt quầy hàng bằng tôn bóng láng, giống như con thỏ con nấp bên bụi có giữa bày lang sói. Một tên lính mũ đỏ tay cầm khẩu tiểu liên, đang chạy những bước dài trên mặt quầy tiến về chỗ anh. Chỉ cần nhìn thấy bóng anh là nòng súng trong tay nó sẽ chúc xuống. Mặt quầy hàng thịt chắc là trơn nên nó đi chậm lại. Nó bước theo kiểu này càng nguy hiểm hơn, vì có đủ thì giờ quan sát. Nó đã đến gần Tôn Chỉ. Nhã chờ cho nó đi qua. Bỗng nhiên, anh nhìn thấy Tôn Chỉ từ dưới mặt bàn chồm lên, vung dao chém tới tấp vào tên địch. Nó buông rơi khẩu súng ôm ghì lấy anh và cả hai cùng lăn từ trên mặt quầy xuống đất. Mấy tên lính mũ đỏ khác ùa lại. Nhã nhắm mắt không dám nhìn tiếp.

Một người đập mạnh vào vai anh. Anh choàng mở mắt và nghe tiếng quát của tiểu đoàn phó:

— Đạn!

Nhã chìa bao đạn rỗng cho Chương xem. Anh buông khẩu súng, đứng thần người.

Đã nghe những tiếng nổ ở phía Hàng Chiếu, Hàng Mã sau lưng họ. Giờ đến lượt chính họ cũng bị bao vây.

Chương trao lại khẩu súng trường cho Nhã. Khẩu súng từ lúc này chỉ còn giá trị như một khúc gỗ. Chương kéo Nhã chạy ra bao lơn. Họ leo sang mái ngói nhà bên cạnh. Khi luồn qua một lỗ đục tường trên tầng gác, khi chạy trên sân thượng, chạy trên mái ngói, họ trở về phố Hàng Chiếu.

Một chiếc xe tăng địch, chắc là chiếc xe tăng buổi sáng đã tiến theo con đường Hàng Khoai, đứng chắn ở ngã tư. Nó quay nòng súng bắn dọc Hàng Chiếu, Hàng Mã, Hàng Đường: Bộ đội ta đang quần nhau với địch trên những mái nhà.

Họ gặp ở đây trung đội tiếp viện của tiểu đoàn. Đồng chí trung đội trưởng đã hy sinh. Nhã được các chiến sĩ mỗi người san sẻ cho mấy viên đạn. Anh nạp vội vào khẩu súng.

Chương cho bộ đội tạm lui về giữ nửa phố Hàng Chiếu. Họ lập ngay những vị trí bắn trên gác hai, gác ba, trên nóc nhà, ngăn không cho quân địch tiến thêm.

Cuộc chiến đấu kéo dài suốt ngày đến lúc trời xẩm tối.

So với ngày đầu nổ súng, Liên khu I đã bị thu hẹp lại chỉ còn một nửa.

Sau trận đánh chợ Đồng Xuân ngày 14 tháng Hai, Liên khu I có thêm một vài ngày yên tĩnh. Quân Pháp lần đầu bị thiệt hại lớn trong một trận tiến công ở Hà Nội. Chúng cần phải tính toán trước khi dấn thêm một bước mới vào mảnh đất đầy chết chóc. Đêm đêm, bộ đội ta vẫn tiếp tục tập kích vào những vị trí chúng vừa chiếm được.

Nơi Phong nằm điều trị chỉ còn cách quân địch một trăm mét. Tiếng súng trên xe tăng Pháp bắn dọc đường Hàng Đào có những lúc như nổ ngay trên đầu anh. Thương binh bây giờ không chỉ nằm trên sàn mà nằm ken nhau ngay cả trên mặt đất.

Buổi sáng hôm đó, chị Thúy Hường lại xuất hiện. Anh đã biết chị là chính trị viên tiểu đoànchị ngơ ngác nhìn quanh như đang tìm kiếm ai. Phong không gọi chị. Qua lần gặp trước, anh cho rằng chị không nhớ ra mình. Cặp mắt chị bỗng dừng lại chỗ anh. Rồi chị len lỏi đi giữa đám người nằm dày đặc đến gần anh. Thấy chị nhìn mình, Phong buộc phải gật đầu chào.

Chị hỏi:

— Đồng chí Phong, có nhớ tôi không?

— Tôi nhận ra chị từ hôm chị tới chúc Tết thương binh, nhưng không dám hỏi vi tưởng rằng chị không nhớ tôi.

— Đồng chí Nhã về chỗ anh Chương và tôi rồi. Vết thương của đồng chí thế nào, đi lại được chưa?

Phong cười gượng:

— Có lẽ sắp khỏi, nhưng muốn đi lại bình thường cũng phải một vài tuần nữa.

Chị chau mày giây lát rồi nói:

— Chúng tôi định đưa đồng chí về tiểu đoàn điều trị, đồng chí thấy thế nào?

Phong vui hẳn lên:

— Nếu được vậy còn gì bằng.

Anh đã quá chán cái không khí bệnh viện mặc dù ở đây người ta săn sóc khá chu đáo. Trở về bộ đội, dù ở tiểu đoàn hay đại đội, cũng như về với gia đình.

— Chiều nay, tôi sẽ cho người đến đón. Đi cáng nhé! Hay cõng?

— Cách nào cũng được.

Thúy Hường đi luôn. Hình như chị đang có việc rất vội.

Hai giờ chiều, hai chiến sĩ lạ mặt mang theo mộtchiếc võng, đứng ở cửa buồng hỏi:

— Đồng chí nào là đồng chí Phong ở tiểu đoàn anh Chương?

Phong lên tiếng:

— Tôi đây.

— Đồng chí lên cáng ngay.

Hai người khiêng Phong vừa đi vừa chạy. Họ đi về phía Hàng Bạc. Anh không hiểu vì sao họ vội vã thế. Nhìn một vài anh bộ đội đội trên dọc đường, anh thấy họ cũng vội vã. Linh tính báo cho anh biết có một chuyện gì sắp xảy ra.

Hai chiến sĩ đưa anh vào một ngôi nhà rộng ở đầu Hàng Bạc. Phong biết đó là rạp Tố NhưTrong ngôi nhà có nhiều người nằm la liệt. Họ đều là những người bị bệnh, hoặc bị thương như anh.

Hai chiến sĩ đặt anh nằm luôn trên chiếc võng làm bằng vải bạt. Một người dựa chiếc đòn khiêng vào tường ngay giáp đầu anh rồi nói:

— Đồng chí giữ lấy võng và trông cái đòn càn này nhé! Để mất là bất trị. Chập tối, chúng tôi sẽ quay lại.

Phong không hiểu sao bệnh xá của tiểu đoàn lại đặt ở chỗ này. Lạ nữa, không thấy bóng một anh, chị y tá. Khi nghe chị Thúy Hường nói, anh tưởng mình được trở về với bộ đội, những người còn lành lặn. Không nogừ tới đấy lại vẫn những người ốm đau. Nơi ăn nằm và sự săn sóc rõ ràng không bằng chỗ cũ. Anh tự bảo nếu biết thế này chẳng thà cứ ở lại đằng kia.

Phong đang nằm băn khoăn thì thấy một người cao lênh khênh, đeo khẩu súng trường có đáng đi rất quen, bước vào nhà. Phong nghển cổ nhìn, reo lên:

— Nhã!

— Đúng tổ con chuồn chuồn rồi!

Nhã xăm xăm đi lại. Họ ôm chầm lấy nhauTừ tết đến giờ, hai người mới gặp lại nhau, Nhã nhìn quanh rồi ghé vào tai phong:

— Tớ phải đi ngay. Đêm nay, cả trung đoàn sẽ rút ra ngoài. Tớ mới biết cách đây nửa giờ. Thương Hà Nội quá!... Cậu cứ nằm đây, trời tối sẽ có người đến đón...

Nhã đi rồi, lòng Phong nao nao. Cuộc chiến đấu ở đây đã kết thúc một cách nhanh chóng và bất ngờ. Anh chưa hề nghĩ đến chuyện rời thành phố. Thêm một ngày chiến đấu ở đây là một ngày thắng lợi. Bây giờ nếu rút, hình như họ đã thua. Anh sắp gặp lại những người thân. Nhưng anh chẳng cảm thấy gì vui. Trước kia, mỗi lần gia đình chuyển nhà, dù là rời một căn nhà tồi tàn đến một chỗ ở tốt hơn, anh vẫn thấy luyến tiếc những vật dù tầm thường nhưng đã gắn bó với mình bằng những kỷ niệm vui, buồnGiờ anh sắp phải chia tay với cả một thành phố, thành phố ấy trước kia có lẽ chưa phải là của anh, nhưng với những ngày chiến đấu vừa qua nó đã là của anh, anh đã gắn bó cùng nó bằng biết bao kỷ niệm, bao giờ phút căng thẳng, mãnh liệt, bao lo âu, baovui buồn, và bằng cả xương máu của mình... Gân cốt trong người anh như chùng hẳn xuống. Anh bùi ngùi muốn khóc.

Trời tối một lúc những người khiêng cáng đến tới tấp. Những người khiêng cáng đến tới tấp. Những người bị bệnh, bị thương quanh anh được đưa dần lên cáng và chuyển ra khỏi nhà. Một anh lính lấy một hòn than viết lên tường: "Quân xâm lăng! Chúng tao sẽ trở lại. Hà Nội là của chúng tao!". Lúc này không còn gì phải giấu giếm.

Phong không hiểu vì sao hai người chiến sĩ ban chiều vẫn chưa quay lại. Anh không tin mình bị bỏ quên.

Có tiếng giày đinh lộp cộp bên ngoài. Chắc họ đã đến. Phong nhìn ra. Ba người chiến sĩ lạ mặt, một người ôm một đống mền chăn. Họ nhìn anh có vẻ ngạc nhiên:

— Đồng chí chưa đi à?

— Tôi chưa có người đón.

Họ nhìn nhau. Phong hy vọng họ sẽ cử người đi gọi hai chiến sĩ kia. Nhưng rồi một người quay lại bảo anh:

— Tôi nhờ đồng chí việc này. Trước khi đi, đồng chí đốt cho tôi nắm hương và cắm vào cái mền chăn.

Họ trao cho anh một nắm hương. Họ đặt một chiếc chăn lên sân khấu, đổ vào đó một chai xăng rồi đi ra.

Chừng nửa giờ sau, mới thấy hai người chiến sĩ quay lại. Trên lưng mỗi người là một cái ba lô to kềnh. Phong lo lắng nhìn hai chiếc ba lô. Không hiểu với hành trang nặng nề như thế kia, họ làm sao khiêng anh ra được đến bên ngoài.

Một chiến sĩ giục:

— Nhanh lên! Đi gần hết rồi.

Phong gượng ngồi sang bên. Họ lắp võng vào đòn càn. Anh đưa cho một người nắm hương, và nhắc lại cái việc ban nãy mấy chiến sĩ đã nhờ làm. Người chiến sĩ ngần ngừ rồi cầm lấy nắm hương, châm vào ngọn đèn, chạy vội lên sân khấu cắm vào đống chăn mùi xăng vẫn sực nức.

Hai chiến sĩ vừa khiêng anh vừa chạy như ban chiều. Nhưng bước chân của họ lạch bạch và chuệnh choạng hơn.

Đường phố vắng ngắt. Anh có cảm giác mình đang được đưa qua một bãi tha ma.

Một chiến lũy nằm chặn ngang con đường Hàng Mắm. Họ đưa chiếc cáng rẽ vào một ngôi nhà ngỏ cửa ở bên trái. Họ khéo léo luồn qua những lỗ đục tường mới được mở rộng thêm. Phong hơi yên tâm vì hai người tỏ ra rất thông thạo đường đi.

Phong nhận ra mình đã tới Cột đồng hồ. Mặt chiếc đồng hồ đầu cây cột thép đen sì đã bị vỡ tan.

Họ leo qua đê và đi sâu xuống bãi. Trời tối đen. Gió từ sông Hồng đổ về rét như cắt thịt. Những người khiêng cáng bắt đầu thở sau một đợt chạy gằn. Phong muốn làm quen với họ, muốn hỏi tên, muốn biết họ ở đơn vị nào, họ là Vệ quốc đoàn hay dân quân, nhưng anh không dám lên tiếng. Mình đang là một gánh nặng cho họ. Không thể bắt họ trả lời mình, trong khi họ còn đang thở dốc. Anh thấy giận cái vết thương ở chân mãi chưa lành. Giá bây giờ mà anh chống gậy lê đi được, anh quyết không làm phiền đến các đồng chí này. Anh chỉ mong họ dừng lại nghỉ ngơi chốc lát để mình có dịp làm quen. Nhưng cả hai người vẫn rảo bước mặc dù hơi thở của họ mỗi lúc một gấp.

Họ đã ra gần bờ sông. Lá ngô cọ vào nhau rào rào mỗi khi gió thổi. Chợt nghe phía thành phố có những tiếng nổ. Một đám lửa bốc lên. Tiếp theo là những đám khác.

— Dốt rồi! - Một chiến sĩ nói.

— Làm đếch gì mà vội thế? - Chiến sĩ kia càu nhà.

Chẳng mấy chốc cả Liên khu I đã đỏ hồng. Lửa nhuốm đỏ cả những đám mây trên bầu trời. ánh lửa giúp Phong nhìn thấy phía trước và phía sau mình đều có những đoàn người đang rảo bước. Họ đang gò lưng cố đi thấp để ẩn mình vào những cây ngô ngọn chưa cao lắm.

Cầu Long Biên với những vòm sắt hình gãy góc nặng nề nằm ngang phía trước. Anh bắt đầu hiểu con đường mình sẽ qua đêm nay. Vẫn là con đường trước kia người ta đã đưa đồng bào tản cư ra ngoài, và gần đây, đêm đêm, những anh, chị dân quân Hồng Hà, Lãng Bạc vẫn đi lại nối liền mối giây liên lạc cuối cùng giữa những người ở bên trong và bên ngoài thành phố. Nghe nói con đường đã trở nên rất nguy hiểm vì bị quân Pháp kiểm soát chặt chẽ. Chiếc cầu trước mặt kia chính là trạm kiểm soát đầu tiên. Quân Pháp ở ngay trên cầu. Hễ nghe một tiếng động nhỏ là chúng quét đèn pha xuống và bắn hàng loạt liên thanh vào những nơi chúng nghi ngờ.

Những người khiêng cáng bắt đầu đi chậm lại. Không biết vì họ mệt hay họ sợ chạy nhanh lộ mục tiêu. Nhiều bóng người đeo súng, đeo ba lô vượt qua anh, tiến lên phía trước. Chỉ có những bước chân rậm rịch. Ai lấy đều im lặng như người câm. Anh hiểu mình đang tạo nên sự nguy hiểm gấp mười lần cho hai người bạn đồng đội không quen biết. Anh nhớ lại cóai trong bệnh viện đã kể chuyện một bà mẹ ẵm con qua đây, đã phải vứt con xuống dòng sông khi đứa bé khóc, vì sợ ảnh hưởng tới hàng trăm sinh mệnh của những người đang đi cùng với mình.

Trong thành phố vẫn vang lên những tiếng nổ và vùng trời ở phía đó mỗi lúc càng đỏ rực. Những người còn ở lại trong thành phố đang cố thu hút sự chú ý của địch về phía mình. Mặc dù ánh lửa làm trời sáng lên nhưng bóng tối của bờ đê sông Hồng vẫn kéo dài đến chỗ anh. Phong hy vọng sự tương phản giữa ánh sáng và bóng tối hai bên bờ đê sẽ làm cho quân địch trên cầu khó nhận ra đoàn người đang di chuyển.

Chợt một luồng ánh sáng lóe lên phía cầu. Địch bắt đầu quét đèn pha. Tất cả mọi người đều dừng lại. Tim Phong như ngừng đập. nếu bây giờ tiếng súng nổi lên là họ đã bị lộ. Luồng ánh sáng từ từ chạy tới và như bàn tay lạnh lẽo của tử thần vuốt qua người họ. Phong nghe rõ hơi thở mạnh của hai người bạn đồng đội. Tuy nhiên, họ vẫn giữ nguyên chiếc cáng trên vai.

Luồng ánh sáng phụt tắt. Những người khiêng cáng dừng lại thêm ít phút nghe ngóng, rồi tiếp tục đi. Bước chân của họ lúc này rất nhẹ. Họ đang đi trước miệng tử thần. Đừng có đánh động nó dù là một hơi thở mạnh.

Mỗi lúc họ một đến gần chiếc cầu. Không còn là cầu Long Biên đẹp đẽ nối liền hai bờ sông Hồng rộng lớn mà là chiếc bóng của thần chết đang nằm chắn ngang con đường họ đi.

Bất chợt ánh đèn pha lại hiện lên. Lần này, ánh đèn như dừng lại trên người họ rất âu. Mắt họ lòa đi. ánh đèn lướt qua. Rồi nó lại quay trở lại Chắc kẻ địch đã thấy những triệu chứng đáng ngờ. Những người khiêng cáng tạt vội vào giữa đám ruộng ngô um tùm và đặt chiếc cáng xuống.

Ánh đèn pha vẫn tiếp tục quét đi quét lại. Phong nằm giữa một rãnh ngô. Trong lúc lo lắng, anh vẫn thấy nhẹ mình đi vì không còn là gánh nặng đè trên vai đồng đội. Anh nhìn thấy hai chiến sĩ với hai chiếc ba lô căng phồng đang bò lổm ngổm nép mình xuống luống ngô ở gần đó. Từ đây đến cầu chỉ còn vài chục mét. Những họng súng đang chờ anh ở đó. Dù sao vẫn không nguy hiểm bằng cái đêm ở Hàng Thiếc. Chung quanh anh còn có hàng trăm con người. Không riêng anh là mục tiêu của những tên lính địch gác trên cầu. Nếu cần, có lẽ đồng đội anh sẽ đánh trả lại. Anh cảm thấy bình tĩnh. Anh muốn khuyên hai người bạn nhân lúc này hãy tranh thủnghỉ ngơi, họ đã quá nặng nhọc vì mình. Anh muốn nói với họ một lời biết ơn. Nhưng họ nằm hơi xa chỗ anh.

Có tiếng ầm ầm trên cầu mỗi lúc càng to. Một đoàn xe địch chạy qua. Tiếng động vang tai nhức óc. Phong đoán vừa rồi địch quét đèn pha nhiều để chuẩn bị cho đoàn xe đi qua, chứ không phải chúng đã nhìn thấy ta dưới chân cầu.

Ánh đèn pha đã tắt. Chỉ còn vùng trời rực lửa phía thành phố và cái bóng đê sông Hồng đổ dài trên cánh đồng ngô ven đê. Những bóng người ại rậm rịch đi qua chỗ anh. Phong chờ hai người khiêng cáng quay lại. Anh đoán họ còn nghe ngóng thêm hoặc muốn tiếp tục nghỉ ngơi sau một chặng dài chạy gằn.

Những tiếng rậm rịch phía ngoài không còn nữa. Có lẽ mọi người đã đi hết. Phong căng mắt nhìn những đám ruộng ngô chung quanh tìm kiếm. Vẫn không thấy hai người chiến sĩ đâu. Phong chợt nảy ra sự nghi ngờ. Anh đập nhẹ tay mấy lần vào cái đòn khiêng như để nhắc họ hãy nhớ đến anh. chỉ có tiếng lá ngô cọ vào nhau xào xạc. Anh chợt hiểu rằng những người khiêng cáng đã bỏ anh. Và lúc này họ đã đi khá xa.

Anh không giận hai chiến sĩ. Mình quả là một gánh quá nặng đối với họ. Nhưng bây giờ làm thế nào? Anh nhận thấy chỉ còn hai cách: một là nằm lại đây chờ sáng mai kẻ địch sẽ đến lượm anh, hai là tự mình phải tiếp tục chặng đường.

Phong chống tay ngồi dậy, bò ra khỏi ruộng ngô. Anh bắt gặp con đường nát như những vết chân. Những vết chân đều hướng về một phía. Phía đó là vùng tự do có đồng đội và những người thân đang chờ. Phong cố đứng lên, và bước đi. Những vết thương như vừa bật miệng cả ra, làm anh đau nhói tới tim. Anh loạng choạng bước, cố gắng cho đầu mình khỏi lao xuống đất. Được một quãng thì không thể chống đỡ được nữa, anh ngã vật xuống, đau đến mức tưởng mình sắp ngất đi. Anh nhìn lên thấy chiếc cầu ở ngay trên đầu mình. Một đốm lửa vừa lóe trên cầu. Đốm lửa hiền lành. Không phải một họng súng vừa nhả đạn. Nó chỉ là đốm lửa đầu một điếu thuốc lá. Nếu bây giờ tên gác rọi xuống đây một ánh đèn pin? Nó sẽ nhìn thấyanh. Và anh khó thoát chết. Phải cố gắng vượt khỏi khu vực nguy hiểm này. Phong bắt đầu lết về phía trước bằng đôi tay. Anh sờ thấy vết chân của những người đồng đội. Anh thèm khát đôi chân săn dẻo của họ. Cái quý giá nhất trong con người lúc này là đôi chân. Đôi chân là đôi cánh thần đưa con người bay tới vùng trời tự do.

Anh tiếp tục lết đi. Mỗi lần quay lại vẫn nhìn thấy chiếc cầu lừng lững. Anh biết rằng với kiểu cách này đến khi trời sáng anh cũng không ra khỏi thành phố. Anh lại cố đứng dậy. Phải đi bằng chân, dù mỗi bước đi là một cực hình. Chợt anh vấp phải một vật, và ngã sóng xoài. Anh thấy mình đang dè lên một người. Người đó cũng mặc một bộ quần áo giống như anh. Lúc đầu, anh nghĩ đó là một người cùng cảnh ngộ với mình. Người ấy cũng đang bò lết như anh ban nãy. Và anh đã làm đau người đó vì lao cả thân mình lên anh ta. Nhưng rồi anh nhận ra đó chỉ là một cái xác người lạnh ngắt. Toàn thân anh nổi gai. Mặc dù đây không còn là lần đầu anh chạm vào một xác chết. Người chết nằm bên bờ sông lạnh lẽo trong đêm khuya vẫn làm cho anh kinh hãi vì sự cách biệt giữa người sống và người chết. Anh vội rời khỏi cái xác ngườiTay anh lại chạm vào một vật lạnh toát. Anh rụt tay lại như chạm phải điện. Nhưng rồi anh chợt nghĩ vật đó có thể là một khẩu súng. Khẩu súng rất có ích cho anh trong lúc này, vì anh sẽ dùng nó làm một cây gậy. Anh sờ lại vật đó, nhận ra là một thanh kiếm.

Phong cầm thanh kiếm đứng lên. Nhờ có thanh kiếm anh bước đi dễ dàng hơn.

Tiếng súng trong thành phố đã im. Những đám cháy cũng nhạt dần. Con đường đầy dấu chân, nhưng phía trước vẫn không một bóng người. Phong có cảm giác như mình lạc đường. Anh không nhận ra mình đang ở chỗ nào. Chung quanh anh là bãi sông vắng ngắt. Hồi lâu, anh nghe có tiếng chân rậm rịch phía sau. Hay là quân địch đang đuổi theo anh...

— Đơn vị nào đấy?

Có tiếng người hỏi. Bộ đội đây rồi. Phong đáp:

— Thương binh.

— Sao lại đi một mình?

— Cáng thương vứt lại.

Người đi phía sau đã tới sát lưng anh:

— Ai đấy?

Nghe tiếng nói quen quen, Phong đáp:

— Phong.

—Trời ơi! Nó vứt cậu lại à?

Phong đã nhận ra đó là Linh.

— Làm thế nào bây giờ? Trời sắp sáng tóet ra rồi!

Tuyết Mai chạy lên:

— Cõng anh ấy thôi! Anh nào đưa ba lô, đưa súng em đeo cho mỗi người cõng anh ấy một quãng.

Một giọng nói vui vẻ:

— Để thằng Min Tu cõng cho...

Họ tới bờ sông thì trời đã sáng từ lâu. Những đơn vị đến trước vẫn đứng đông nghịt ven bờ chờ đến lượt sang sông. Cũng may trời đầy sương mù. Những chiếc máy bay địch mọi ngày vào giờ này đã quần đảo từ lâu trên bầu trời, sáng nay vẫn còn im hơi lặng tiếng. Chừng hai chục chiếc thuyền qua lại như những con thoi trên dòng sông ngầu đỏ phù xa. Những chiếc thuyền lao nhanh từ bờ bên kia sang, kia rời bến đã trở nên ì ạch vì chở quá nặng. Nếu bây giờ sương tan, tất cả sẽ làm mồi cho máy bay.

Linh đứng quan sát tình hình rồi bảo Phong:

— Cậu bám lấy vai mình. Cô Mai sang sông trước với anh Phong đề nghị các đồng chí dân quân bên kia sông cáng ngay anh Phong về trạm.

Linh cõng Phong xăm xăm lội xuống sông, đón một con thuyền đang ghé vào bờ. Những tiếng xôn xao:

— Đơn vị nào kia?...

— Thuyền này của chúng tôi...

Linh quay lại nói với giọng dứt khoát:

— Các đồng chí nhường hai chỗ cho thương binh và đồng chí y tá.

Anh đặt Phong lên thuyền và bế bồng Mai lên theo, mặc những tiếng la ó. Nhưng khi mọi người thấy anh quay lên bờ thì họ bắt đầu im.

Linh ra lệnh cho trung đội:

— Quay lại phía sau ba trăm mét, bố trí chặn địch cho bộ đội qua sông.

Khi Phong nằm trên cáng về đến một làng bên này sông thì sương mù đã tan, và bên kia bờ sông, tiếng súng nổ mối lúc càng nhiều. Phong băn khoăn không hiểu bộ đội đã qua sông hết chưa và cuộc chiến đấu chặn địch của những người ở lại trong đó có Linh và Tú sẽ ra sao...

h, chuyện trinh thám cũng như chuyện vui. Không biết cậu ta sưu tầm đâu được nhiều chuyện đến thế? Lẫm kể chuyện như người đóng kịch làm cho các em cảm thấy câu chuyện đang diễn ra ngay trước mắt. Lẫm lại có tài bắt chước các loại âm thanh
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.