Đất Nước

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
3

❊ ❊ ❊

Cuộc hành hương của đoàn người từ miền xuôi lên Việt Bắc bắt đầu từ cuối mùa xuân năm 1947, khi các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước thấy cần phải rời vùng chung quanh Hà Nội, di chuyển về khu căn cứ để tiến hành kháng chiến lâu dài. Cùng đi với những người cán bộ, có cả gia đình của họ. Mấy tiểu đoàn chủ lực của Bộ đóng thành một vành đai chung quanh các cơ quan ở những nơi dừng chân đề phòng quân địch tiến công.

Thời gian đầu còn có xe tải chuyên chở những vật nặng như điện đài, máy móc, những hòm tài liệu. Nhưng không lâu, những con đường đã phá hoại khước từ mọi phương tiện giao thông vận tải cơ giới, nửa cơ giới và thô sơ. Ngay cả những xe bò, xe tay hai bánh cũng không thể di chuyển trên những đoạn đường ở cải hai bên đều có hố phá hoại. Các nhà báo Pháp gọi những hố phá hoại kiểu này là những phím đàn dương cầm.

Chỉ còn cách di chuyển duy nhất là đi bộ. Phụ nữ, cụ già, em nhỏ đều dùng đôi chân để vượt những chặng đường dài mà trước đây không ai nghĩ đến chuyện vượt qua nếu không có tàu, xe. Mỗi người chỉ có trên vai chiếc ba lô, chiếc tay nải hoặc chiếc túi to, nhỏ tùy theo khả năng mang vác của mình. Họ bỏ lại tất cả cơ nghiệp ở thành phố. Họ biết nơi mình sẽ tới lànhững vùng ma thiêng nước độc", cuộc sống ở đó chắc chắn rất nhiều khó khăn. Nhưng đây là cuộc hành hương về Đất Thánh. Họ đang đi theo tiếng gọi của kháng chiến, tiếng gọi của Cụ Hồ: "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ". Không có những bộ mặt khiếp nhược. Không nghe thấy những lời ca thán. Mọi người đi bằng sức mạnh của niềm tin, của tráitim. Và ở cặp mắt của họ còn ánh lên cả niềm tự hào.

Một số gia đình tản cư đã dần dần dừng lại ở những tỉnh miền trung du: Việt Trì, Vĩnh Yên, Phú Thọ. Nhưng cả đoàn người đông đảo vẫn tiếp tục đi tới, dấn sâu mãi lên vùng rừng núi, tiến vào khu căn cứ.

Nhã hành quân lên Việt Bắc cùng với trung đoàn sau những trận đánh ở vùng Vân Đình.

Nhã đã trở thành đội trưởng đội vũ trang tuyên truyền của trung đoàn: Đây chỉ là một nhiệm vụ tạm thời trên đường hành quân, do ban chính trị giao cho anh. Họ đi trước trung đoàn một chặng, mang theo những tranh ảnh về cuộc chiến đấu ở Liên khu I Hà Nội, một số vũ khí thu được của địch để tổ chức triển lãm, tổ chức những cuộc mít tinh tuyên truyền trường kỳ kháng chiến. Nếu gặp địch nhảy dù hoặc càn quét, họ sẽ trở thành một đơn vị phối hợp với bộ đội địa phương và nhân dân chiến đấu ngay tại chỗ. Trong khi đội tuyên truyền hoạt độn rầm rộ ở những nơi tập trung đông người như phố huyện, thị trấn, thị xã thì các đơn vị của trung đoàn đi theo những con đường tắt, thường là hành quân đêm, lặng lẽ trườn qua. Điều mà chính Nhã và những nhân viên đội tuyên tryền cùng các chiến sĩ trong trung đoàn không biết, là họ đang làm nhiệm vụ vành đai bảo vệ cho các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước trên đường di chuyển lên phía bắc. kẻ địch đang tung người đi săn lùng dấu vết của những cơ quan này, và chúng hy vọng chộp bắt được bằng một cuộc tập kích đổ bộ đường không.

Đội tuyên truyền có mười hai người. Ba đội viên chuyên trách việc triển lãm. Hai chiễni nấu ăn. Còn những người khác biết âm nhạc và ca nhát làm nhiệm vụ nói chuyện, biểu diễn văn nghệ trong những đêm mít tinh, liên hoan. Họ đều đã chiến đấu tại Liên khu I Hà Nội. Đồng chí trưởng ban chính trị trung đoàn, một người lưng hơi gù, nước da sạm, hàm răng ám khói thuốc lá, cách ăn mặc cũng như tính tình rất giản di, thường đến theo dõi công việcho làmvà ra những chỉ thị khi cần thiết.

Nhã được chú ý và chăm sóc một cách khá đặc biệt từ sau ngày trung đoàn rút ra vùng tự do.

Bài hát "Thủ đô huyết thệ” mà anh đưa cho các chú bé trong đội tuyên truyền giữa những ngày chiến đấu tại Hà Nội, chỉ sau một thời gian ngắn đã vang lên khắp các chiến lũy ở "Liên khu I. Đến nay, nó trở thành bài hát của trung đoàn.

Ngay sau ngày trung đoàn vượt sông Hồng, đồng chí trưởng ban chính trị đã tìm tới đơn vị anh. Trung đoàn đang cần tập hợp những người có năng khiếu về văn học nghệ thuật để làm công tác chính trị.

Trưởng ban chính trị ngạc nhiên khi biết Nhã là một nhạc công chơi phong cầm ở những tiệm nảy, hộp đêm tại Hà Nội. Anh đã có vài năm lăn lộn giữa đám người ăn chơi, rượu chè, trác táng, không phải chỉ là người Việt giàu có, mà cả bọn quan cai trị Pháp, võ quan Nhật, võ quan Tàu... Anh chàng chỉ mới có mười tám tuổi! Một người như vậy đã viết ra bài: Thủ đô huyết thệ! Hay mình lầm...? Nhưng anh cũng bắt đầu thích thái độ thẳng thắn, giản dị của anh chàng thanh niên nghệ sĩ. Với giọng rủ rỉ, anh hỏi:

— Ngoài bài "Thủ đô huyết thệ", cậu còn viết bài nàonữa?

— Còn một bài..., nhưng bài này tôi chỉ viết cho tôi.

— Đề nghị cho mình nghe... nếu được!

— Được thôi... Nhưng lời ca không phải của tôi.

Nhã kể lại một hôm tới thăm Phong nằm điều trị cạnh nhà Hội quán Trung Hoa phố Hàng Buồm. Anh thấy Phong cầm một tờ Sao Vàng, tờ báo của Vệ quốc quân xuất bản những tháng gần đây. Nhã lật xem vài tờ và chú ý đến một bài thơ. Tên tác giả rất mới. Bài thơ nhiều chữ sáo, không trực tiếp nói về cuộc chiến đấu ở Hà Nội, vì nó ra đời trước ngày nổ súng. Nhưng Nhã rất thích một số đoạn. Anh chép lại, đem về. Rồi sau một đêm, nó trở thành một bản nhạc với cái tên: "Mơ đời Chiến sĩ"...

Không có dán, Nhã dùng những ngón tay nhè nhẹ đánh nhịp, hát một cách say sưa:

«Mây núi rừng thiêng chinh khí ca.

Tinh binh rộn rã trên đường xa

Đây mùa chiến đấu oai hùng ngự

Một thuở đao binh giục lánh nhà.

Mùa xuân đi không tiếc nửa đời hương

Bạn lòng ơi giữ lấy giấc mơ hường

Ai mải miết một trời son với phấn

Ta hùng oanh dồn bước tiến lên đường.

Rồi đến sớm mai lên chiến khu

Lòng hăng máu rộn oán quân thù

Kề vai cùng tiến trên đường mới

Thề quyết phơi thây trả quốc thù»

Trưởng ban chính trị nghe xong, vẫn với cái giọng rủ rỉ, hỏi:

— Hay! Nhưng vì sao anh lại chọn bài thơ này để phổ nhạc? Có phải anh nhớ tới một tà áo hồng không?

— Không phải áo hồng, mà một tà áo xanh...

Trong cuộc đời nhạc công, những cô gái Nhã thường tiếp xúc hàng ngày là vũ nữ, ca sĩ. Anh đã có quan hệ với một số người, có cả những người anh đã chung chạ với họ. Nhưng người để anh cho anh nhiều ấn tượng nhất lại à một cô gái mà anh chưa hề trao đổi một lời. Hồi đó, anh kéo đàn tại một tiệm nhảy phố Khâm Thiên. Ở tiệm này, nhà chủ kiếm được một số cô gái nhảy khá xinh. Họ ngồi xếp hàng bên sàn nhảy. Khách hàng tới quầy mua vé rồi ra mời một cô mà họ ưng. Thường thường các cô gái hay chọn những ghế ở hàng đầu để được khách chú ý. Nhà chủ sẽ thanh toán cho họ theo số tích-kêhọ kiếm được mỗi đêm. Khéo làm vừa ý một ông khách, chỉ với một lần nhảy, có cô vớ được cả mớ tích-kê. Có một cô gái luôn luôn ngồi ở ghế cuối. Cô không phải là người xinh đẹp nhất. Nhưng cô khác hẳn với các bạn cùng nghề ở vẻ mặt buồn buồn, hơi lãnh đạm, ở bộ quần áo bằng thứ hàng không đắt tiền nhưng màu sắc nhẹ nhàng thích hợp với cô, ở những cử chỉ đoan trang khiến cho khách hàng dù ngồi với cô ở bàn rượu hay cầm tay cô trên sàn nhảy, dù là một người Việt giàu có hay một võ quan ngoại quốc... đều không dám tỏ vẻ bờm xơm. Cô thường mặc chiếc áo dài xanh và cài một bông hồng trắng to trên mái tóc. Qua sinh hoạt giản dị của cô, có thể thấy cô là một vũ nữ nghèo, chỉ sống bằng những chiếc tích-kê thu được mỗi đêm chứ không sống bằng nghề phụ, kín đáo hoặc không kín đáo của những cô gái nhảy, thứ nghề phụ có thể đem lại cho họ thu hoạch gấp bội so với nghề chính.

Nhã còn chú ý đến cô vì theo sự đánh giá của cô, cô nhảy tuyệt đẹp, không phải chỉ ở những bước đi chính xác, ở thân hình nhẹ nhàng, mà cô nhảy với sự say mê, với tất cả tâm hồn. Chính nhờ ưu điểm này, cô không đến nỗi trở thành một vũ nữ vắng khách. Mỗi khi ngồi trong dàn nhạc, Nhã thường đưa mắt tìm kiếm tà áo xanh quen thuộc bay lượn trên vũ trường. Nhìn thấy cô, anh có ngay hứng thú bộc lộ ra trong tiếng đàn, và dường như anh chỉ còn chơi để phục vụ cho cô. Cô cũng cảm thấy sự chú ý của Nhã đối với mình nên đôi khi về chỗ, cô liếc nhìn anh mỉm một nụ cười, như một lời cảm ơn.

Họ chưa lần nào nói chuyện với nhau. Nhã thấy không cần phải vội vàng. Một hôm đến tiệm nhảy, Nhã thấy mọi người xôn xao. Cô vũ nữ áo xanh vừa mất đêm trước vì bệnh tim. Nhã bàng hoàng. Cô đã ra đi khi anh chưa kịp nói một lời. Tiệm nhảy từ nay sẽ trở thành vô vị. Anh như người mất hồn, lặng lẽ đi theo đoàn người gồm những cô gái nhảy, những anh nhạc công vào ngõ chợ Khâm Thiên, mang theo một bó hoa huệ trắng. Họ rẽ vào một ngách nhỏ bùn lầy rồi chui vào một ngôi nhà tối tăm. Trong nhà chỉ có bà mẹ cô đang rũ rượi vì cơn hen và một em bé xanh xao. Cô nằm trên chiếc giường nhỏ với mảnh khăn trắng che trên mặt. Người mẹ đã mặc cho cô chiếc áo xanh, chắc là chiếc áo đẹp nhất cô vẫn mặc hàng đêm. Nhã cúi xuống mở chiếc khăn nhìn lại nét mặt cô lần cuối cùng, rồi hôn vừng trán lạnh ngắt của cô... Ngoài mấy nhạc công, không có người đàn ông nào đến viếng cô. Họ bàn nhau, kẻ ít, người nhiều góp tiền đưa cô về nơi an nghỉ cuối cùng. Cảnh tượng này đã để lại một dấu ấn trong lòng Nhã...

Khi làm bản nhạc, anh đã nhớ tới cô vũ nữ áo xanh.

Nhã nói tiếp với trưởng ban chính trị:

— Nhưng không phải vì cô gái đó mà tôi làm bản nhạc này. Tôi yêu bài thơ vì trong đó có cả hướng đi của cuộc đời tôi.

Rồi Nhã khe khẽ hát:

«Ai mải miết một trời son với phấn

Ta hùng anh dồn bước tiến lên đường...»

Trưởng ban chính trị gật gù:

— Mình hiểu rồi. Cậu sẽ về ban chính trị với mình. Bộ đội ta không phải chỉ có chiến đấu mà đồng thời còn phải góp phần xây dựng một nền văn hóa mới. Cậu đã đoạn tuyệt với cuộc sống cũ. Cứ như thế mà tiến lên... Mình đã kiếm được một chiếc ắc-coóc-đê-ông để chờ cậu ở trung đoàn...

Chiếc phong cầm chỉ có tám nốt trầm. Loại đàn dùng cho trẻ con. Nhưng Nhã vẫn vui thích vì thấy qua đậy sự quan tâm của mọi người đối với anh. Ở khắp nơi, cán bộ, chiến sĩ đón anh với nụ cười và cái nhìn âu yếm. Họ bắt đầu gọi anh bằng cái tên đầy đủ: Trương Quang Nhã. Anh đã trở thành nhạc sĩ của trung đoàn...

Dọc đường hành quân, đồng bào nô nức kéo đến những cuộc mít tinh do đội tuyên truyền kết hợp với chính quyền địa phương tổ chức. Họ hô hào đồng bào hăng hái tham gia kháng chiến, cho con em tòng quân, phá hoại đường sá, thực hiện vườn không nhà trống khi giặc tới, giữ bí mật, đề phòng bọn Việt gian, ủng hộ bộ đội và giúp đỡ đồng bào tản cư. Mít tinh bao giờ cũng kết thúc bằng một cuộc biểu diễn văn nghệ. Nhã và các bạn mặc quần áo ka ki, đội mũ ca lô, chiếc khăn quàng quyết tử đỏ chói trên cổ, nối nhau ra hát, ngâm thơ, kể chuyện... Ở đâu họ cũng được hoan nghênh. Họ hát, hò và kể chuyện không dở. Trong hơn một ngàn chiến sĩ tài hoa của Thủ đô mới chọn được một số người như vậy. Cuộc biểu diễn càng thêm hào hứng khi họ nhận thấy trong đám người xem đông đảo, có bóng dáng những cô gái yêu kiều, những tiểu thư trước kia náu mình trong lầu son gác tía, chẳng để mắt đến họ khi họ đi ngang cửa, giờ đây đang chiêm ngưỡng họ như những người anh hùng.

Họ không còn nhớ đây là một cuộc rút quân và đất nước đang ở vào tình thế rất hiểm nghèo. Tất cả những thành phố lớn trên miền Bắc đều rơi vào tay quân địch. Bộ chỉ huy quân Pháp đang chuẩn bị giáng một đòn quyết định để kết thúc chiến tranh.

Nhã thấy lòng vui phơi phới. Tầm mắt anh không còn bị những đường phố, những ngôi nhà chiến tranh tàn phá bưng bít. Cả vùng trời cao rộng, mới lạ đang mở ra trước mắt. Anh đã quên cuộc sống giữa ánh đèn huyền ảo, giữa đàn nhạc tưng bừng, bên quầy rượu và bên sàn nhảy, có những tà áo màu bay lượn và những thú vui hành lạc trước đây. Từ một con người bị cuộc đời rẻ rúng, anh đã trở tành một người được xã hội thương yêu, quý trọng. Cuộc sống mới này bội phần sung sướng đối với anh so với cuộc sống ngày xưa. Anh đang đi theo hướng đi trong bài ca mà mình đã lựa chọn.

Dòng sông Thao ngầu đỏ, chảy xiết, cuốn từ đầu nguồn về với con nước đầu mùa những cây gỗ mục của rừng núi.

Thị xã Phú Thọ nhỏ bé nằm trên bờ sông đã trở thành một thủ đô mới của kháng chiến với những đường phố nhộn nhịp người qua lại, những phòng trà chật ních người và một rạp hát dán đầy quảng cáo chương trình biểu diễn của những đội kịch, ban nhạc với những nghệ sĩ tên tuổi từ Hà Nội ra. Người từ miền xuôi tản cư lên tràn ngập thị xã. Đi đâu cũng gặp họ. Nhưng hình ảnh đầu tiên khiến Nhã chú ý lại là mấy bà đứng tuổi, vấn khăn có đuôi gà, mặc áo dài ngồi sau quầy hàng tạp hóa. Ở đây, mọi người chưa tính đến chuyện tản cư. Người dân thị xã Phú Thọ còn nuôi hy vọng naymai sẽ có ngừng bắn. Chợ thị xã vẫn họp đông. Những ngôi hàng mở cửa như thường lệ. Nhìn mấy bà đứng tuổi tóc vấn đuôi gà kia Nhã nhớ tới mẹ anh. Không hiểu lúc này gia đình anh, bố mẹ và các em ở đâu. Chiều hôm đó, Nhã về nhà bỏ chiếc đàn xuống, cầm lấyung đạn, chỉ kịp nói với mẹ một câu: "Nếu súng nổ nhiều, thấy mẹ cứ vứt mọi thư đó, khóa cửa lại và đưa các em tản cư. Con ở Hà Nội sẽ luôn luôn ghé về trông nom nhà". Rồi anh ra đi. Và từ ngày đó, anh chưa biết tin tức gì về gia đình.

Ửy ban hành chính kháng chiến thị xã sốt sắng giúp bọn Nhã tổ chức triển lãm và mít tinh. Một họa sĩ chuyên vẽ quảng cáo, từ Hà Nội lên, nhận trình bày và treo tranh ảnh ở phòng thông tin nằm giữa thị xã. Trưởng ban chính trị trung đoàn tới xem, tay chắp sau lưng, chỉ đi quanh nhìn mọi vật gật gù không phải góp thêm ý kiến. Riêng với cuộc mít tinh, ủy ban muốn tổ chức thật lớn. Họ cho rằng đội tuyên truyền của trung đoàn Thủ đô đến Phú Thọ là một dịp rất tốt để động viên đồng bào kháng chiến. Thanh niên thị xã dồn ra sân vận động tấp nập dựng sân khấu và cổng chào.

Làm xong việc với ủy ban ở ngôi nhà hai tầng, nằm trên một quả đồi phía cuối thị xã. Nhã quay về phố. Tờ quảng cáo treo trước rạp hát, làm anh đứng sững. Dàn nhạc Tự Do từ Hà Nội lên đang biểu diễn ở đây.

Trong số các nghệ sĩ có tên Bạch Yến.

Vào dịp này năm trước, một hôm, Nhã đang ngồi ở nhà lau chiếc đàn phong cầm thì một anh bạn nhạc sĩ bước vào. Anh nói:

— Có việc cần nhờ cậu. Tụi mình sắp tổ chức một buổi hòa nhạc ở Majesticlấy tiền ủng hộ quỹ Mùa đông binh sĩ, muốn chờ cậu đệm đàn cho một cô gái, cậu giúp bọn mình được không?

— Ai hát đấy?

— Một cô mới, nói tên cậu cũng không biết, nhưng mình bảo đảm hát rất tốt. Cậu gặp sẽ mê ngay.

— Để còn xem có mê được không! Nhưng nếu là ủng hộ quỹ "Mùa đông binh sĩ" thì mình nhận.

Hôm sau, anh bạn nhạc sĩ đưa tới một cô gái có bộ mặt dễ thương, cử chỉ nền nã, và giới thiệu đó là Bạch Yến. Nhã nghe cái tên này lần đầu. Cô đưa Nhã bài hát. Một bản nhạc mới của hai tác giả không quen biết. Nhìn lướt qua, Nhã cảm thấy lo ngại. Bản nhạc không thật đặc sắc. Người hát mới, lại chọn một bản nhạc như thế này, sẽ rất khó thành công trong buổi biểu diẽn. Anh thầm lo cho cả mình khi lên sân khấu. Nhưng khi cô gái cất tiếng hát, anh nhận ra ngay cô có giọng hát ấm và sâu, những cái láy tinh tế, một giọng hát rất Việt Nam bắt nguồn từ ca trù, gợi lên tiếng đàn bầu, tiếng phách. Nhã buột miệng: "Giọng hát rất quý!". Cô nhìn anh với cặp mắt biết ơn. Nhã cứ muốn đệm đàn cho cô hát mãi. Bài hát có chỗ buồn lắng xuống và chỗ vui đến thành say. Chỗ buồn, chỗ vui, chỗ say đều được cô gái thể hiện mượt mà, đôn hậu, có sự kiềm chế đúng mức trong phong thái biểu diễn, chinh phục người nghe bằng chiều dày sâu lắng của âm thanh và của cả tâm hồn.

Tiết mục biểu diễn của cô ở rạp Majestic được người nghe đặc biệt hoan nghênh. Khi Nhã cùng cô đi vào cánh gà, đến một chỗ tối, không có người, cô đặt một nụ hôn nhẹ nhưng đằm thắm đặt trên má anh. Nhã hiểu đó là một lời cảm ơn.

Một, hai tuần sau, Nhã đi Côn Minh. Anh không biết gì thêm về cô gái và vẫn nhớ đến giọng hát tuyệt vời của cô. Khi Nhã quay về Hà Nội một tháng trước ngày nổ súng, Bạch Yến đã trở thành nữ ca sĩ số 1 của Thủ đô. Không người thưởng thức âm nhạc nào không biết đến tên cô. Và đệm đàn cho cô hát bây giờ là những nhạc công có tên tuổi nhất.

Một hôm, Nhã đến tiệm nhảy Mônicô ở phố Khâm Thiên. Mọi người đang ngồi im như ngưng thở nghe ban nhạc Tự Do biểu diễn. Người hát chính là Bạch Yến. Cô hát tiến bộ hơn xưa nhiều. Và qua cách biểu diễn vẫn nền nã, đôn hậu của cô, Nhã nhận thấy cô có ý thức rõ ràng về vị trí hiện nay của mình.

Chờ hết buổi biểu diễn, Nhã đến gần dàn nhạc. Anh muốn biết tình cảm của Bạch Yến đối với mình sau những thành công thời gian qua. Một số người quen nhìn thấy Nhã, nhao nhao gọi. Bạch Yến len qua mọi người, đến bắt tay anh. Sau khi chuyện trò chung, hai người tách ra đứng bên nhau. Nhã nghĩ tới bản hợp đồng vừa ký với Hôtel des colonies, anh hỏi:

"- Có đi làm việc với bọn mình được không? Mình vừa có một hợp đồng khá tốt.

Bạch Yến mỉm cười, đáp lại dịu dàng:

"- Em không còn thời gian. Em lỡ ký hợp đồng với Đài phát thanh Việt Nam và ban nhạc Tự Do rồi. Nếu không mắc với họ, nhất định em phải nhận lời anh...

Nhã không hiểu ý câu nói đó thế nào. Vị trí ban nhạc của anh không thể nào bằng các ban nhạc kia. Anh chẳng có điều kiện tìm hiểu hơn vì sau đó chiến tranh đã bắt đầu...

Mình sẽ gặp Bạch Yến ở đây vì thị xã chỉ có mấy đường nhỏ. Chuyện gì sẽ xảy ra giữa mình và cô ấy trong hoàn cảnh mới này? Giữa anh và cô vẫn có một sự ngăn cách. Cô hơi đàn chị quá. Nhưng thực tình anh rất yêu giọng hát của cô... Có nên tìm cô ấy không?... Anh biết dù sao đây cũng chỉ là một chuyện thoáng qua trên con đường dài mà anh mới đi những bước đầu tiên.

Nhã đi loanh quanh dọc phố. Có tiếng hát từ một phòng trà vọng ra. Người ngồi bên trong khá đông. Nhã rẽ vào.

Một người mặc chiếc áo trấn thủ nâu, đeo kính trắng, ôm cây đàn ghi ta đứng ở phía trong. Anh nhận ra ngay Phan Du, một nhạc sĩ đàn anh. Phan Du đưa ánh mắt, ra hiệu đã nhìn thấy Nhã. Nhã lặng lẽ ngồi xuống một ghế trống ở phía ngoài.

Phan Du giới thiệu, hình như là lần thứ hai, bản nhạc anh vừa làm. Anh đánh khúc dạo đầu và hát.

«Ngừng đây soi bóng bên dòng nước lũ

Cầu cao nghiêng dốc bên dòng sông sâu

Tuổi xanh như lá thu tàn cuối mùa

Mộng về đêm đêm chốn làng cũ quê xưa.

Em đến bên tôi một chiều thu nắng phai rồi

Nắng ngừng rơi bên cầu biên giới

Xa xa...»

Trước kia Nhã cũng yêu âm nhạc của Phan Du. Lần này, vẫn là những nét nhạc quen thuộc của anh. Giai điệu mượt mà. Lời ca đẹp. Nhưng sao bây giờ nó trở thành xa xôi với anh.

«Bao giấc mơ xưa

Mộng đời phiêu lãng giang hồ

Sông trong lòng người đẹp Tô Châu hay là chết bên bờ sông Đa-nuýp...

... Lòng tôi sao vẫn còn biên giới...»

Phan Du hát rất say sưa. Anh là một trong số ít những nhácĩ có khả năng biểu diễn. Thanh âm của cây đàn ghi ta khi thánh thót, khi dồn dập trong đôi tay nhảy múa của anh.

Khách hàng, trong đó có một số anh bộ đội, nhiệt liệt vỗ tay khi bài hát kết thúc. Phan Du cúi đầu chào khách rất lễ phép, rồi buông cây đàn, đi lại chỗ Nhã ngồi. Anh vừa bắt tay Nhã vừa nhìn cái mũ ca lô có ngôi sao vàng.

— Bộ đội rồi à?

— Bộ đội rồi.

Nhã đáp và kéo ghế mời Phan Du ngồi.

— Nghe bài vừa rồi được không? Mình vừa làm bên cầu Hồ Kiều ở Lao Cai. "Bên cầu biên giới".

Nhã ngần ngừa rồi buột miệng:

— Một thứ thuốc an thần, hơi nặng... Nghe xong người mình rũ ra.

Phan Du chậm rãi đốt một điếu thuốc lá, rồi nói:

— Besoin toxique ! Nhiều người đang rất cần thuốc an thần. Rồi tôi cũng có khối thuốc kích thích cho anh, anh vệ túm ạ. Nhưng tôi sẽ làm theo kiểu của tôi.

Phan Du cười to, Nhã cũng cười phụ họa. Anh muốn Phan Du quên đi nhận xét của mình. Nhưng Phan Du có vẻ không bận tâm về điều đó, nói tiếp:

— Mình muốn giới thiệu "Bên cầu biên giới" với riêng cậu. Mình đang tập hợp người đi mở barđây! Cậu có nhập bọn với chúng mình không?

Nhã ngơ ngác trước đề nghị của Phan Du, tưởng như mình vừa nghe lầm:

— Mở bar?

— Đúng thế!

— Ở đâu?

— Ở Lao Cai, bên Hồ Kiều. Cậu làm gì mà như bị điện giật? Không phải là đi làm thuê cho bà me Nhật của cậu ở Hôtel res colomicsđâu! Công tác của chính phủ hẳn hoi! Mở bar để câu bọn Tàu Tưởng. Cấp trên chọn toàn những người tin cẩn. ít nhất cũng mua thêm được súng đạn cho bộ đội. Đi, đi! Theo mình, thú đấy! Ta sẽ kháng chiến theo kiểu của ta. Cậu đeo súng ngắn thế này, đã bắn chết thằng Tây nào chưa? Có thể là chưa. Nhưng lên đó, chắc chắn sẽ kiếm được súng đạn cho kháng chiến. Năm ngoái, cậu đã chơi bar ở Côn Minh chứ gì?

Nhã nhớ lại hồi ở Côn Minh đã có lần nghe những bác công nhân hỏa xa bàn việc mua vũ khí để bí mật chuyển về nước cho bộ đội. Điều Phan Du nói có thể à một dự định của chính quyền địa phương.

Đoán Nhã lưỡng lự, Phan Du gặng thêm:

— Đi chứ!

Nhã đáp:

— Cũng hay... nhưng mình nhận công tác với bộ đội rồi. Chắc họ sẽ không cho đi.

— Quan trọng thế kia à? Được cấp gì rồi?

— Binh nhì thôi! Cũng chỉ làm nghề hát rong. Nhưng vẫn không đi được.

Phan Duy nhìn Nhã rồi nói:

— Tối nay, ủy ban yêu cầu bọn mình tham gia văn nghệ cùng với bộ đội trong cuộc mít tinh. Có cậu trong đó không?

— Có. Mình là nhân viên trong đội tuyên truyền.

— Cậu khôn thật! Chiến sĩ trung đoàn Thủ đô! Nổi tiếng quá rồi!

Nhã ngần người không biết nói sao.

Phan Du lại tiếp:

— Cũng không bằng đi với chúng tớ đâu! Bạch Yến đã nhận lời đi với bọn mình.

— Bạch Yến đâu? - Nhã hấp tấp hỏi.

— Đó! Mình biết ngay mà. Bây giờ thì không gặp được nàng. Nàng đang có việc với cấp trên rồi. Tối nay sẽ gặp nhau ở mít tinh. Bọn mình rất cần cây ắc-coóc-đê-ông của cậu. Đi với chúng mình nhé!

Biết Phan Du hiểu lầm mình, Nhã đáp giọng thành thật:

— Mình không thể bỏ công việc hiện nay.

Du heo mắt một cách hóm hỉnh:

— Ngày hôm qua, mình vừa ngồi tán chuyện với tay phó ty Thông tin tuyên truyền ve mắt ở đây. Mình bảo hắn:"Bao giờ kháng chiến thành công, tính công tính tội, thì những đứa mắc tội nặng nhất sẽ là các anh!". Hắn trợn mắt hỏi mình: "Tại sao ông lại nói như vậy?" - "Vì các ông ngồi núp ở xó nhà mà quanh năm cứ xui người khác xông lên chết thay mình!". Cậu ta thấy mình nói trúng quá, khoái chí cười phá lên một hồi. Rồi hắn nói: "Kết tội chúng tôi ba mươi năm thì phải kết tội văn nghệ các anh năm mươi năm! Các anh tuyên truyền bằng thơ, bằng nhạc mới nguy hiểm!". Thôi bỏ cái nghề thất đức của cậu đi mà quay về kéo đàn.

Chỉ làm vui cho mọi người, chết sẽ lên Thiên đàng...

Nhã đứng lên:

— Xin lỗi nhé! Sẽ gặp nhau. Mình phải về để chuẩn bị với anh em...

Khi đội tuyên truyền của Nhã cùng các đồng chí trong ủy ban và cơ quan Thông tin tuyên truyền tới địa điểm cuộc mít tinh, hàng ngàn người đã ngồi kín một góc sân vận động. Có lẽ cả thị xã đều kéo về đây tối nay.

Họ đi qua một chiếc cổng chào kết bằng lá cọ. Nhìn hàng chữ: "Chào mừng các Chiến sĩ Qyết tử Trung đoàn Thủ đô", Nhã thấy địa phương đã làm quá mức; các anh không phải là những đại biểu của trung đoàn mà chỉ là một tiểu đội vũ trang tuyên truyền. Đây không phải sự lầm lẫn vì Nhã đã báo cáo rõ ràng với ủy ban, nhưng địa phương vẫn quyết định làm như vậy.

Nhã đã qua nhiều cuộc mít tinh nhưng lần này anh run thực sự, run như khi trận đánhbắt đầu đêm nào ở phố Nhà Thờ. Dân chúng đến dự mít tinh quá đông đảo lại thêm trong đó có những người quen như Phan Du, Bạch Yến..., những người biết khá rõ về cuộc đời anh, đã làm cho anh thấy không khí buổi tối nay khác thường. Nhã đã định tối nay sẽ lặp lại câu chuyện mà anh thường kể kể trong những buổi mít tinh, câu chuyện vui về những người chiến sĩ như anh, họ đã run như thế nào trước giờ nổ súng, họ đã không bắn được một phát súng khi chiếc xe địch đầutiên chạy qua, họ đã ném những quả lựu đạn không rút chốt an toàn vào xe háp-tơ-rắc của địch, họ đã cuống cuồng chạy ra giữa đám đông, không một thứ quần áo trên người, khi đang tắm bất thần kẻ địch ập tới vv, tất nhiên cũng có cả những tấm gương chiến đấu mà anh đã trực tiếp chứng kiến ở nhà Moóc-li-e, ở phố Hàng Thiếc, ở chợ Đồng Xuân...; nhưng toàn bộ câu chuyện của anh là nhằm làm bật lên những tràng cười giòn giã, và anh thường đo sự thành công của buổi nói chuyện qua những tiếng cười. Cách giới thiệu của ông chủ tịch đã làm cho Nhã chợt nghĩ mình cần phải thay đổi nội dung câu chuyện, phải nói một cách nghiêm trang cho hợp với không khí long trọng, hợp với cương vị người đại diện cho trung đoàn trong một buổi mít tinh. Anh chưa kịp suy nghĩ, sắp xếp thì đã phải ra trước lễ đài.

Nhã đứng đực ra một lúc. Anh nhận thấy không còn cách nào hơn là kể lại những chuyện như anh thường kể. Hàng ngàn con người lúc im lặng, lúc cười rộ lên, rồi lại im lặng như không muốn bỏ sót một lời của anh. Nhã nhanh chóng trở lại bình tĩnh. Sựim lặng tối naycũng im lặng hơn mọi lần. Hàng ngàn người ngồi dưới ánh trăng bất động như những cái bóng. Tiếng cười cũng bật lên mạnh mẽ hơn và âm vang hơn mọi lần. Xen lẫn tiếng cười là những tiếng trầm trồ mà anh biết chắc là những lời khen ngợi, tán thưởng. Càng nói Nhã càng tự tin. Nhã thêm hưng phấn khi nghĩ đến Bạch Yến đang ngồi phía dưới. Và khôn ngoan, anh đã rút ngắn câu chuyện đi so với mọi lần, vì anh biết sự chăm chú quá nhiều và những tràng cười phá lên, kéo dài như vậy sẽ chóng làm mệt người nghe. Tiếng vỗ tay khi anh kết thúc câu chuyện còn rầm rộ hơn, kéo dài hơn khi anh bắt đầu ra mắt.

Chuyển sang phần liên hoan văn nghệ. Đây cũng là mối lo của cả đội tuyên truyền chiều nay, khi biết trong buổi liên hoan, do sự sốt sắng của ủy ban đối với thành công của cuốc mít tinh, sẽ có sự tham dự của một số nhácĩ và ca sĩ có tên tuổi. Ngoài Nhã là một nhạc công, họ đều là những người làm nhạc và hát tài tử. Họ đã phải bỏ đi một số bài hát êm dịu vì sự có mặt của Bạch Yến. Họ quyết định chỉ hát những bài hát chiến đấu và những bài hát tập thể. Sẽ không ai chê trách nếu họ hát những bài hát đó không hay.

Cả đội tuyên truyền đã phấn khởi lên trước sự thành công vừa rồi của Nhã. Nếu phần biểu diễn văn nghệ của họ ít được hoan nghênh thì hoạt động của họ tối nay cũng vẫn thắng lợi.

Các nhà nghệ sĩ do ủy ban mời đã lục tục kéo lên cánh gà. Bạch Yến nổi lên với dáng người hơi đậm và chiếc áo dài màu hồ thủy. Thấy Nhã đang bận bịu với các bạn, cô nhìn anh nở một nụ cười kín đáo. Cùng đi với Bạch Yến có Mai Long, một danh ca nổi tiếng thường hát song ca với cô và nhạc sĩ Phan Du. Ba người này có thể đảm nhận chương trình cả đêm biểu diễn.

Toàn đội tuyên truyền mở đầu buổi liên hoan với bài hát "Thủ đô huyết thệ". Tiếng vỗ tay nhiệt liệt khi người nghe được giới thiệu bài này do chính người vừa nói chuyện sáng tác, đã được các chiến sĩ trug đoàn hát trên những chiến hào ở Thủ đô, và do chính tác giả đệm đàn phong cầm.

Tiếng hát đều và khỏe, trầm hùng vang lên. Những lời thề của những Chiến sĩ Quyết tử do chính họ hát saukhi đã giữ trọn lời thề, đã mang lại một hiệu quả đặc biệt. Tràng vỗ tay kéo dài như báo hiệu trong buổi liên hoan này khó mà có tiết mục nào sẽ thành công như vậy.

Tiết mục thứ hai do ba chiến sĩ đội tuyên truyền biểu diễn với hai cây đàn ghi ta, vắng Nhã, cũng được vỗ tay nhưng không nhiệt liệt như bài trước.

Nhã quyết định cho đội tuyên truyền rút lui, dành phần sau cho các nghếĩ, anh nói với Phan Du:

— Xin mời các anh và chị Yến.

Phan Du nhấc cây đàn ghi ta đặt bên cánh gà, quay sang Bạch Yến:

— Yến hát "Con chim lạc bạn" nhé! Mình đệm cho.

Bạch Yến kêu lên:

— Ối! Ai lại hát "Con chim lạc bạc" tối nay, lại ở ngoài trời thế này! Em hát bài "Ngọn trào".

— "Ngọn trào" nào?... Gam gì? - Phan Du nhăn mặt hỏi lại.

— Một sáng tác của bộ đội. Em nhờ anh Nhã đệm. Anh Nhã ra với em.

Và cô nhẹ nhàng bước ra sân khấu. Nhã buộc phải đi theo. Bài "Ngọn trào" chính là bài hát ngày xưa Nhã đã đệm đàn cho Bạch Yến ở rạp Majestic, bài hát dẫn đến sự quen biết giữa hai người, và dẫn cô đến những vinh quang sau này.

Thấy Nhã xuất hiện cùng với một cô gái, người xem lại vỗ tay. Số khá đông tưởng cô gái cũng là người của trung đoàn Thủ đô.

Từ ngày đó đến nay, Nhã mới lại được nghe Bạch Yến hát bài này. Cô hát hay hơn trước nhiều. Cô hoàn toàn làm chủ thanh âm, không biểu lộ một chút cố gắng khi lên những âm thật cao hoặc xuống những âm thật trầm. Còn những chỗ luyến láy thì mềm mại như một dải lụa. Nhã không ưa những cô gái có dáng vóc đậm đà. Anh thích dáng người thon thả. Bạch Yến hơi đẫy một chút. Nhưng khi cô bắt đầu cất tiếng hát thì cả con người cô bỗng khác đi. Cô giống như con người mà anh tưởng tượng ra trong giấc mơ. Tiếng đàn của anh biến hóa theo giọng hát. Anh sẽ không tài nào lặp lại được những âm thanh này nếu đệm cho một người khác hát.

Tiết mục của Bạch Yến thành công rực rỡ.

Họ đi vào, bắt gặp cặp mắt không vui của Phan Du sau làn kính cận. Du nhận thấy một tiết mục của bọn mình mà anh đặt rất nhiều hy vọng trong buổi biểu diễn đã trở thành tiết mục của đội tuyên truyền.

Biết không thể có một bài đơn ca nào đạt được hiệu quả tốt sau bài hát vừa rồi của Bạch Yến, Phan Du bảo Mai Long cùng ra song ca với mình bài "Đoàn quân văn hóa" do anh sáng tác.

Nhã và Bạch Yến đứng lại bên cánh gà. Nhã chợt thấy Bạch Yến ghé sát bên anh. Anh lại nhớ đến nụ hôn ngày nào, và lo lắng vì mình đang mặc bộ đồ quân phục. Nhưng lần này cô chỉ nói nhỏ:

— Lát nữa, xong mít tinh anh gặp em một lát.

Nhã gật đầu. Anh cũng đang muốn được trò chuyện với cô. Như lời Phan Du nói ban sáng, Bạch Yến sẽ lên Lao Cai. Không biết đến ngày nào họ mới gặp lại nhau. Biết đâu, chẳng bao giờ nữa! Cuộc sống của anh bây giờ là cuộc sống của một người chiến sĩ. Từ ngày trung đoàn ra khỏi Thủ đô, đã có thêm những người chiến sĩ ngã xuống.

Tiếng vỗ tay nổi lên không rầm rộ lắm.

Không thấy hai người đi vào. Phan Du lên tiếng giới thiệu Mai Long hát tiếp một bài do anh đệm đàn. Mai Long hát bài hát quen thuộc, bài "Đàn chim Việt" mở đầu bằng mấy câu hát quan họ theo cách trình bày riêng của anh. Mai Long hát tốt nhưng vẫn không xóa được ấn tượng của người nghe đã có từ bài hát của Bạch Yến. Không khí buổi biểu diễn đang dần dần lắng xuống.

Mai Long đi vào vẻ mặt không thật phấn khởi. Là một người biểu diễn lâu năm, anh đánh giá đúng mức độ sự thành công của mình. Anh biết Bạch Yến có lợi thế hơn là do cô nhờ Nhã đệm đàn nên mọi người tưởng cô cũng là bộ đội.

Phan Du ở lại sân khấu với ý định cải thiện tình hình do Bạch Yến đã đẩy họ vào chỗ bất lợi. Anh giới thiệu một sáng tác mới của mình, bài hát "Bên cầu biên giới".

Phan Du đã thiếu tỉnh táo để không nhận thấy bài hát của anh có thể được một số người hoan nghênh nhưng không hợp với không khí buổi mít tinh đón chào những Chiến sĩ Quyết tử. Bài hát của anh trở nên buồn nản, dài lê thê.

Phan Du đi vào, vẻ mặt âm thầm:

— Hát giữa trời đất thế này, khó quá! Nhã và Bạch Yến phải ra đi!

Lúc này anh không còn nghĩ đến chuyện mọi người có thể lầm tưởng Bạch Yến là bộ đội mà chỉ nghĩ cách cứu buổi biểu diễn.

Nhã lại ôm đàn phong cầm cùng Bạch Yến bước ra sân khấu.

Bài hát ”Tình quê hương" của Bạch Yến gây lại được hào hứng cho mọi người. Bài hát gợi lên những đồng lúa xanh mênh mông, những cánh cò trắng giập giờn, tiếng sáo diều vi vu, ở một mái nhà tranh nhỏ có cô gái đang mong một chàng trai đi chiến đấu thắng lợi trở về. Cô hát rất say mê, có lúc như đắm đuối. Nhã đứng đệm đàn cảm thấy cô đang tâm sự với mình.

Khi Bạch Yến cúi đầu chào mọi người để đi vào, Nhã vẫn đứng lại trên sân khấu. Anh quyết định hát một bài không nằm trong chương trình để kết thúc buổi liên hoan. Nhã hát bài "Mơ đời chiến sĩ".

Buổi biểu diễn kết thúc tốt đẹp.

Phan Du đứng chờ Nhã bên cánh gà:

— Cậu viết bài hát vừa rồi đó à?

— Đó là một bài thơ. Mình phổ nhạc.

Phan Du chìa tay bắt tay Nhã:

— Khá lắm! - Không hiểu anh buột miệng hay cố tình kèm thêm một câu chửi - Tiên sư anh! Anh thành nhạc sĩ rồi!... Nếu biết anh như thế nào từ ban sáng, tôi chẳng mời anh theo chúng tôi làm gì!...

Bạch Yến nói với Phan Du và Mai Long:

— Hai anh về trước, em đi chơi nói chuyện với anh Nhã một lát.

Phan Du nhìn cô, mắt long lanh:

— Đi nhanh mà về. Ty Thông tin mời ăn cháo gà đấy!

— Mời các anh thôi. Em không ăn đâu.

Các ngôi nhà đều đóng kín cửa.

Chỉ còn Nhã và Bạch Yến đi trên đường phố thị xã vắng lặng.

Họ đã kể lại cho nhau nghe về cuộc sống của mỗi người từ ngày kháng chiến đến giờ. Nhưng họ đều cảm thấy câu chuyện tối nay chưa bắt đầu.

Cứ tới đầu thị xã, Bạch Yến lại rủ Nhã quay lại. Rõ ràng là cô không muốn đi cùng Nhã ở những chỗ quá vắng vẻ.

Rồi Bạch Yến hỏi:

— Có ai nói chuyện gì với anh về em không?

— Phan Du nói Yến đã nhận lời lên tổ chức bar ở Lai Cai.

— Em không hỏi chuyện đó... Em muốn hỏi có ai nói gì với anh về cuộc đời riêng của em không?

— Không.

Vì sao cô lại hỏi mình như vậy? Nhã chợt nhớ ra mình chưa hiểu gì về cô, cô là ai, cô từ đâu tới..

— Thực vậy chứ anh?

— Thực vậy.

Cô liếc nhìn cặp mắt anh dưới ánh trăng như để đánh giá câu trả lời.

— Tối nay, không có thì giờ để nói với anh những chuyện dài dòng. Em chỉ muốn anh biết là cuộc đời trước đây em rất phức tạp. Mẹ em cho em giọng hát nhưng cũng cho em cả cuộc đời đắng cay... Cụ là kỹ nữ... Em đã có một đời chồng... Gia đình gả em đi làm lẽ. Nếu không có Việt Minh lên thì em không bao giờ thoát khỏi gia đình đó. Em phải làm lại cuộc đời... Anh Phan Du nói dối anh. Em chưa hề nhận lời đi Lao Cai. Em căm thù các bar, các hộp đêm. Em rất thèm được làm một cô gái đồng quê trong trắng, cô gái trong bài hát "Tình quê hương"... Em đang định bỏ nghề hát. Em muốn xa cuộc sống hiện tại. Em ngán tất cả những người chung quanh. Anh Mai Long ngoài lúc hát, cứ như người ngủ. Anh Phan Du thì... em không hiểu được. Nhiều người cần giọng hát của em, nhưng coi thường em khi họ biết cuộc đời trước kia của em... Vậy thôi... Nói cho anh biết về em như thế là quá đủ rồi.

Nhã ngơ ngác. Tại ao cô lại kể ra với mình tất cả những điều đó? Anh thấy gần cô hơn nhưng cũng thấy xa cô hơn. Cô có một cuộc sống nếm trải hơn mình nhiều. Nhưng có một điều cần phải nói ngay với cô:

— Bạch Yến đừng bỏ hát! Nếu Yến bỏ hát thì... Yến không còn là Yến nữa!

Cô nhìn vẻ mặt thành thật của anh rồi lại nhìn đường phố nằm phơi mình trắng toát dưới ánh trăng, lững thững bước đi.

Nhã sôi nổi:

— Mình cũng giống Yến, mình muốn đoạn tuyệt với cuộc đời cũ. Nhưng mình không bỏ âm nhạc. Và bây giờ quân đội cũng đang cần mình làm nghề này.

Bạch Yến nhếch mép nở một nụ cười chua chát:

— Anh khác...

Cô đã nhận thấy Nhã còn quá trẻ, anh không hiểu mình muốn nói gì.

Nhã lại nói:

— Yến đừng bỏ hát!

— Khối người đang chạy theo em vì giọng hát. Nhờ nó em có thể kiếm được tấm chồng. Mà cũng vì nó người ta sẽ không quên cuộc đời của mẹ em và em trước đây... Nhưng nếu đó là ý kiến của anh thì em sẽ nghĩ xem...

— Ý kiến của mình - Nhã nhấn mạnh.

Mắt cô gái như bừng sáng lên dưới ánh trăng. Giọng cô vui hơn:

— Em hoàn toàn bị bất ngờ lúc nghe anh kể chuyện. Các anh ấy cũng rất ngạc nhiên. Sao anh lại trở thành như hôm nay? Họ tưởng là anh mới chui vào trung đoàn Thủ đô cách đây một, hai tháng, không ai ngờ là anh đã chiến đấu ở Hà Nội!

Nhã nhớ lại những câu nói, cái nhìn của Phan Du... Không hiểu mình đã có gì làm cho họ phải ngạc nhiên?

Bạch Yến cầm lấy tay anh, đôi mắt lấp lánh ánh trăng:

— Anh chép cho em bài "Mơ đời chiến sĩ" nhé! Em muốn hỏi tại sao anh lại phổ nhạc bài thơ này?

— Mình thích hai câu:

«Ai mải miết một trời son với phấn

Ta hùng anh dồn bước tiến lên đường...»

Nó là hướng đi của mình. Nếu Yến thích, mình sẵn sàng chép ngay để tặng Yến.

Mặt cô gái bỗng tối lại.

— Anh sắp đi đâu?

Nhã chỉ ngón tay vạch một đường vòng về phía những dãy núi xa sương trắng phủ đầy trên những đỉnh núi.

— Anh cho rằng kháng chiến kéo dài bao nhiêu năm?

— Chưa nghĩ bao giờ...

Anh nhớ tới cuộc chiến đấu những ngày qua và lần đầu có ý thức là bộ đội ta đang rút lui. Có lẽ chưa biết đến bao giờ mình có thể đánh bật được quân Pháp khỏi một vị trí chúng vừa chiếm được nếu chúng không tự ý rút đi... Anh nói tiếp:

— Cũng lâu đấy! Đánh Tây không phải trò đùa.

— Đàn ông các anh sướng thật! Các anh không bao giờ phải băn khoăn về thời gian. Giá mà em được là đàn ông... Em lạnh quá rồi! Anh còn ở đây đến bao giờ?

— Nhiều lắm là hai, ba hôm nữa.

— Chúng mình còn có dịp gặp nhau. Cho em về nhé!

— Bạch Yến không bỏ hát chứ?

— Em chỉ nói: nếu là ý kiến của anh thì em sẽ suy nghĩ thêm. Đó chưa phải là mộtlời hứa.

Cô chìa tay bắt tay Nhã, giọng hờn dỗi:

— Em cũng còn phải nghĩ cho cuộc đời em nữa chứ!

Nhã cầm lấy bàn tay cô đã chìa ra cho mình, anh luống cuống:

— Không... Mình phải đưa Bạch Yến về tận nhà...

Từ hôm tới Phú Thọ, đội tuyên truyền đã chọn chỗ ở kín đáo tại một nhà dân trong một xóm nhỏ nằm giáp với thị xã.

Buổi mít tinh đêm trước đã làm gia đình chủ nhà thay đổi hẳn thái độ với mấy anh bộ đội trẻ mà họ tưởng chỉ là những người đi triển lãm tranh ảnh. Bây giờ họ mới biết đó là những người anh hùng trong cuộc chiến đấu tại Thủ đô. Mấy cô gái con nhà chủ đã tranh thủ nấu nướng giúp họ, xếp thêm vào mâm cơm khi thì đĩa cá, khi thì bát canh cua là những thức ăn của gia đình. Buổi sáng, bà chủ bưng lên cho họ một rá khoai hoặc sắn bốc khói. Chuối đặt trên bàn từng nải cho các anh bộ đội ăn cả ngày. Ở đôi bờ sông Thao này, chuối như rừng.

Thanh niên, nam nữ tấp nập kéo tới. Một số thanh niên xin tòng quân vào trung đoàn. Các em thiếu nhi đòi dạy hát. Những cô gái đề nghị chép bài hát, chỉ cần lời không cần nhạc, và yêu cầu họ viết kỷ niệm vào những cuốn sổ tay.

Sáng hôm nay, một cô thanh niên tới giúi vào tay Nhã một chiếc khăn chắc là mới thêu vội, chưa kịp giặt còn cả những vết chì. Mắt cô gái đỏ hoe. Nhã biết có cậu nào trong đội đã mau miệng nói cho cô biết ngày hôm sau họ lên đường. Ngay sau đó, một số cô khác kéo vào. Lại khăn tay. Lại sổ kỷ niệm. Nước mắt rất hay lây. Cô nào cũng đưa sổ đòi Nhã ghi địa chỉ và ghi kỷ niệm. Hầu hết những người trong đội đều ra phòng triển lãm để gỡ tranh ảnh. Một mình Nhã ở nhà tiếp khách. Anh hơi ngơ ngác trước những giọt nước mắt của các cô gái mà phần lớn anh không thuộc tên. Nhưng rồi anh cũng rất cảm động trước tình cảm mộc mạc và chân thành của họ. Anh không biết rằng bộ mặt từng trải, đượm mùi khói súng của mình mấy tháng qua, đã làm cho những cô gái này không nghĩ anh là một chàng trai hai mươi tuổi. Nhã lúng túng nhất trong việc ghi kỷ niệm. Cuối cùng anh đã nghĩ ra cách chép tặng mỗi cô một bài "Mơ đời chiến sĩ" rồi ký tên xuống dưới.

Hội người vẫn hát đồng ca với Nhã, từ thị xã về, ôm theo một tập tranh ảnh hét tướng lên từ ngoài cổng:

— ông Nhã đâu? Có em gái đến tìm!

Nhã nghĩ là Bạch Yến. Từ tối hôm đó, họ chưa gặp lại nhau, Nhã không hiểu vì sao khi chia tay với mình, Bạch Yến lại có vẻ hờn dỗi. Anh ngẩng đầu nhìn ra buột miệng reo lên:

— Tuyết Mai!

Khi trung đoàn biên chế lại ở Vân Đình, Mai đã chuyển sang đoàn thanh niên của tỉnh. Không hiểu sao cô lại ở đây?

Mai mặt đỏ tưng bừng. Từ thị xã về đây cô luôn luôn giục Hội đi nhanh. Cô tưởng chừng như chậm vài bước chân có lẽ Nhã sẽ biến mất.

— Chào anh Nhã và chào tất cả các anh chị.

Thái độ của Mai mạnh dạn khác hẳn ngày trước. Mai buông chiếc ba lô xuống giường, rồi chạy lại ngồi bên Nhã.

— Ngọn gió nào thổi cô đến đây? - Nhã hỏi.

— Em ở đoàn thanh niên Hà Nội lên trại tăng gia ở Sông Lô. Đi ngang thị xã, thấy có phòng triển lãm của trung đoàn. Em nhìn thấy ảnh của anh và anh Phong. Em hỏi mấy đồng chí này. Các đồng chí ấy bắt bẻ em mãi. Khi em nói em ở đại đội anh Linh, chiến đấu ở phố Hàng Thiếc, các anh ấy mới tin.

Hội nói xen:

— Tại cô cứ nhận vơ là em anh Nhã. Tôi lạ gì gia đình ông Nhã! Bây giờ thiếu gì Việt gian!

Mai cãi:

— Tôi không cần là em anh Nhã, mà tôi là chiến sĩ của trung đoàn. Anh không dẫn về là anh khuyết điểm.

— Sao cô không nói ngay từ đầu, cô là chiến sĩ trung đoàn bị loại ở Vân Đình. Nói thế là tôi nhận ra ngay!...

Nhã giao cho những bạn mới ở thị xã về hoàn thành nốt công việc tình cảm với các cô gái, để anh nói chuyện với Mai.

Mai nói với giọng dứt khoát:

— Em ở đây với các anh, không đi đâu nữa!

— Các anh cũng sắp đi!

— Các anh đi đâu, em đi đấy. Em trở về trung đoàn.

— Em đã báo cáo với trại chưa?

— Không cần báo cáo. Em đã nói trước với đồng chí phụ trách, trên đường lên Việt Bắc nếu gặp trung đoàn là tôi đi luôn.

Hội góp ý kiến:

— Anh Lý, trưởng ban chính trị đang ở ngoài triển lãm. Cô ấy nói với chúng tôi, cô ấy hát được. Đề nghị anh Lý tạm xếp cô ấy vào đội chúng mình.

Hội quay lại Tuyết Mai:

— Cho cô vào đội chuyên việc thổi cơm có được không?

— Thổi cơm, xách nước, tôi làm được hết. Anh hỏi anh Nhã, tôi giặt quần áo cho anh ấy bao nhiêu lần rồi? Các anh bị thương, tôi còn cấp cứu được nữa là khác! Nghề chính của tôi đấy!

Vừa lúc ấy, họ nghe tiếng máy bay.

— Cô này thiêng thật! Vừa nói chuyện cấp cứu là máy bay đến ngay. Khéo mà nó choảng xuống đầu chúng mình bây giờ!

Hội vừa dứt lời thì có tiếng bom nổ. Tiếng khổ khá gần, rung động cả ngôi nhà họ đang ngồi. Rồi có tiếng máy bay rít qua đầu.

Một cô gái kêu lên:

— Bom ném xuống thị xã rồi các cậu ơi!

Họ chạy ra sân thấy mấy cột khói đen ngòm đang bốc lên phía thị xã.

Ít giờ sau, quang cảnh hỗn loạn diễn ra tại thị xã. Hai trái bom rơi xuống bờ sông, một trái bom rơi trúng phòng triển lãm. Nói đúng hơn, nó đã rơi vào sau ngôi nhà này, nhưng làm toàn bộ ngôi nhà đổ sập. Đồng chí trưởng ban chính trị của trung đoàn, không biết do phép lạ nào, đã chui từ trong đống cột kèo, gạch ngói đổ sập đó ra, người đầy vôi vữa nhưng không hề sây sát. Nhiều người dân vội vàng tay xách nách mang những thứ cần thiết, chạy ra các làng lân cận. ũng chiều hôm đó, ủy ban tỉnh ra lệnh cho dân chúng tản cư. Thêm một huyền thoại nữa về các Chiến sĩ Quyết tử trung đoàn Thủ đô lan truyền khắp khu vực: "Máy bay địch ném bom trúng giữa nhà triển lãm trong khi gần một chục chiến sĩ Thủ đô đang tháo gỡ tranh ảnh. Nhà sập toàn bộ, nhưng không một ai bị sầy da, chảy máu. Sau đó, họ vẫn đi lại trên đường phố như không có chuyện gì xảya. Bom của địch không làm gì được họ vì họ cónhiều kinh nghiệm tránh bom trong những ngày chiến đấu ở Hà Nội...!". Nhưng đồng thời cũng có lời bàn tán: vì trung đoàn Thủ đô kéo về thị xã, bọn Việt gian báo cho Pháp biết nên chúng lập tức cho máy bay đến ném bom... Cũng may là mấy trái bom không gây thiệt hại gì về người. Phòng triển lãm coi như đã đóng cửa nên không còn người đến xem.

Sáng sớm hôm sau, đội tuyên truyền vũ trang của trung đoàn lặng lẽ rút khỏi thị xã, qua những đường phố vắng ngắt, nhà nào cũng cửa đóng then cài. Cả đội tuyên truyền đều không vui. Họ cảm thấy như mọi người đều cho mình là nguyên nhân đã đưa tai họa đến, đã làm cho mọi người đang sống cuộc sống yên lành, vui vẻ, phải bỏ nhà, bỏ cửa ra đi. Trước khi lên đường, Nhã được trưởng ty Thông tin cho biết sắp có lệnh phá hoại triệt để. Họ muốn rời thật nhanh khỏi thị xã, không muốn gặp lại ai đã tham dự đêm mít tinh hôm trước. Khi ra khỏi thị xã chừng mười cây số, họ mới cảm thấy nhẹ nhõm.

Chỉ có một người trong bọn họ là hoàn toàn vui vẻ. Tuyết Mai đã được đồng chí trưởng ban chính trị trung đoàn cho sáp nhập vào đội của Nhã, tiếp tục hành quân lên Việt Bắc.

h, chuyện trinh thám cũng như chuyện vui. Không biết cậu ta sưu tầm đâu được nhiều chuyện đến thế? Lẫm kể chuyện như người đóng kịch làm cho các em cảm thấy câu chuyện đang diễn ra ngay trước mắt. Lẫm lại có tài bắt chước các loại âm thanh
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.