Từ sau cuộc tiến công Thu - Đông 1947 của địch lên Việt Bắc, trên chiến trường Bắc Bộ xuất hiện một hình thái mới, đó là những chuỗi đồn bốt địch kéo dài trên những tuyến đường quan trọng ở Việt Bắc, Đông Bắc và Tây Bắc.
Những vị trí này thường nằm trên một mỏm núi hoặc một trái đồi cao, có tường trình với những lỗ châu mai, những công sự dã chiến bằng gỗ và đất, chung quanh bao bọc bằng một hoặc hai, ba lần hàng rào lông nhím. Hỏa lực trong đồn thường là đại liên, trung liên, súng cối và nhiều tiểu liên, súng trường. Những công sự của loại đồn bốt này tuy còn sơ sài nhưng với trình độ kỹ thuật và trang bị của bộ đội ta lúc bấy giờ, vượt qua chúng không phải chuyện dễ. Các vị trí này là những mắt xích nằm trong hệ thống phòng ngự những tiểu khu, phân khu của địch, khi một nơi bị đánh hoặc bị bao vây, máy bay và quân ứng chiến lập tức kéo tới chi viện cho quân đồn trú. Ở những vùng, lực lượng bộ đội ta mạnh, địch đóng những cứ điểm lớn ở gần nhau, mỗi cứ điểm do một đại đội chiếm giữ. Nơi lực lượng ta yếu, chúng đóng những đồn bốt nhỏ và thưa, mỗi vị trí chỉ có một hoặc hai trung đội.
Chiến thuật này mang tính chất phòng ngự, không đe dọa gì những đơn vị chủ lực của ta. Nhưng về lâu dài, chúng rất nguy hiểm. Những cứ điểm nhỏ của địch không chỉ bảo vệ những đường giao thông quan trọng mà còn khống chế cả những vùng dân cư, hỗ trợ cho việc lập ngụy quyền, ngụy quân, vơ vét người và của, thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh" và mở rộng dần phạm vi chiếm đóng của địch theo kiểu "vết dầu loang".
Trong năm 1948, địch không mở những cuộc hành binh lớn ở Bắc Bộ mà chỉ củng cố những vùng đất chúng mới chiếm đóng bằng chiến thuật "cứ điểm nhỏ".
Bộ đội ta không thể dừng lại với những trận phục kích, tập kích trên dọc đường giao thông, với những hoạt động tiêu hao, quấy rối quân địch đóng tại các vị trí, mà phải tiến lên tiêu diệt những cứ điểm nhỏ này, giải phóng những vùng đất đai và những bộ phận dân cư bị quân địch kìm kẹp, thu hẹp phạm vi chiếm đóng của chúng.
Suốt mùa hè năm 1948, một số tiểu đoàn chủ lực Bộ tập trung ở vùng đồi tỉnh Vĩnh Yên, gần chân núi Tam Đảo luyện tập cách đánh cứ điểm nhỏ. Bộ giao nhiệm vụ cho mỗi tiểu đoàn với những vũ khí hiện có của mình phải gắng tiêu diệt được một đại đội địch trong công sự. So với những trận phục kích, tập kích trước đây, nhiệm vụ mới này khó khăn gấp bội. Kẻ địch có hỏa lực mạnh hơn ta nhiều lần, lại được công sự và những vật chướng ngại che chở. Quân lính Pháp rất quen với việc phòng ngự bằng cứ điểm, lưới lửa ở mỗi vị trí thường được bố trí rất cẩn mật. Trong trường hợp này, người tiến công cần phải có hỏa lực mạnh đủ sức phá hủy những công sự, tiêu hao một phần quân đồn trú, phá hủy những vật cản mở đường cho xung kích tiến vào đồn, tiêu diệt kẻ địch bằng những trận đánh xáp lá cà. Nhưng ta không có pháo lớn, không có súng cối, chỉ có rất ít súng tự động, và không làm sao trang bị đủ cho xung kích mỗi người một khẩu súng trường.
Người ta đã hiểu thế nào là sức mạnh của một quân đội. Ngoài sức mạnh tinh thần, được đánh giá là có tính quyết định, phải kể đến vũ khí trang bị trước khi tính đến kỹ thuật, chiến thuật. Vì chỉ có thể bàn đến cách đánh khi người ta biết mình có trong tay thứ vũ khí nào. Khẩu súng trường nòng có rãnh xoán đã đánh bại dễ dàng khẩu súng "thần công" triều Nguyễn tám chụcnăm trước ở Thăng Long. Và mới đây thôi, trên quần đảo Xa-lô-mông ở Thái Bình Dương, khẩu tiểu liên Tôm-xơn của Mỹ với những loạt đạn đồng nhỏ xíu đã quét ngã gục những đội bạch binh lừng danh của Nhật hoàng mang súng trường đầu cắm lưỡi lê. Mơ ước lớn của mỗi người kháng chiến là có được một khẩu súng.
Trong cuộc thi thơ do phòng chính trị binh đoàn tổ chức, bài thơ "tình" của một đồng chí chính trị viên đại đội xung kích đã được tặng thưởng giải nhất. Bài thơ có những câu sau đây:
"Yêu em ta bế ta bồng
"Yêu em ta ngắm ta trông suốt ngày
"Nâng như nâng trứng trên tay
"Say em như thể người say rượu cần...
Đó là bài "Yêu súng"
"Cùng nhau những bước gian truân
"Những ngày chinh chiến dấn thân giang hồ
"Bên ta súng nổ, súng hò
"Súng kêu là một quân thù ngã lăn... .
Bài thơ được cấu tứ từ một khẩu hiệu lúc đó: "Súng là vợ, đạn là con, lựu đạn là bạn thiết". Sự so sánh này không quá đáng. Khẩu súng được coi như người vợ, như sinh mạng của mình.
Mỗi chiến sĩ xông vào đồn địch nhất định phải có một thứ vũ khí trong tay. Một khẩu súng. Thật nan giải! Và phải tính đến chuyện rất có thể xảy ra: nếu người chiến sĩ chết hay bị thương, vũ khí sẽ rơi vào tay quân địch...?
Người ta đã nghĩ đến một thứ vũ khí từ thời xa xưa: cây mác. Những người đề nghị dùng vũ khí này, nhìn thấy mọi ưu điểm của nó, cho rằng công dụng của nó chẳng kém gì một khẩu súng trường cắm lưỡi lê khi các chiến sĩ xung phong đánh xáp lá cà. Nó lại nhẹ hơn khẩu súng rất nhiều. Điều ưu việt lớn nhất là ta có thể sản xuất ra nó dễ dàng. Cây đã được lưạu chọn. Những người thợ lò rèn thủ công ở những chợ thôn quê hoặc phố huyện, được đặt hàng. Họ ra đường xe lửa đã trở thành vô dụng sau khi có lệnh phá hoại triệt để, lấy những thanh ray đưa về. Đây là loại thép lý tưởng. Từ những lò rèn thủ công, những mũi mác búp đa bén nhọn ra đời. Người chiến sĩ xung kích cắm nó lên đầu một đoạn tre già là xong. Cây "mác xung kích" xuất hiện. Không phải bất cứ ai cũng được trao loại vũ khí này. Mỗi tiểu đoàn chủ lực của Bộ lựa chọn một đại đội khá nhất làm nhiệm vụ xung kích. Chỉ những chiến sĩ trong đại đội xung kích, trực tiếp xông vào đồn địch đánh xáp lá cà, mới được nhận cây mác xung kích.
Từng tiểu đoàn tìm ở khu vực trú quân một quả đồi, dựng lên đó một góc đồn địch với lô cốt, úúng có những lỗ châu mai, và hàng rào lông nhím bao bọc chung quanh để bộ đội tập đánh vào.
Suốt quá trình tập dượt tiêu diệt loại cứ điểm nhỏ này, cuộc bàn cãi về cách đánh kéo dài không dứt. Một số cán bộ cho rằng phải tiêu diệt cứ điểm nhỏ bằng cách đánh bất ngờ (lúc đó gọi là "kỳ tập"). Có nghĩa là bộ đội ta sẽ dùng thang bí mật vượt qua hàng rào lông nhím, rồi im lặng xông tới giường ngủ của binh lính, sĩ quan địch, dùng mác búp đa xuyên vào ngực chúng, buộc những tên sống sót phải đầu hàng. Mới đây, một đại đội ở Bắc Ninh đã thành công với cách đánh bất ngờ. Mấy chục chiến sĩ cùng với người chỉ huy của mình cải trang thành những người đàn bà gánh gạch, ngói vào xây đồn theo lệnh của bọn Pháp; khi tới sân đồn, họ vứt quang gánh xuống, rút mã tấu, dao găm ra, xông vào đâm chém quân địchBị đánh bất thần, quân địch đành bó tay. Đó là trận tiêu diệt đồn Cẩm Lý. Một số cán bộ khác cho rằng: không dễ gì lừa mãi quân địch; sau trận Cẩm Lý, bộ chỉ huy Pháp đã thông báo cho các cứ điểm nhỏ phải đề phòng cẩn mật hơn, những tên lính địch canh gác đứng sau lỗ châu mai không phải đêm nào cũng ngủ gật để cho bộ đội ta dễ dàng leo qua hàng rào lông nhím lọt vào đồn. Theo ý họ, phải tiêu diệt cứ điểm nhỏ bằng sức mạnh (cường tập). Cũng có nghĩa là phải dùng hỏa lực phá vỡ những lô cốt, ụ súng đang nhả đạn vào bộ đội ta, phải phá tan hàng rào, bắn đổ tường trình để mở đường cho các chiến sĩ tiến vào. Trận đánh sẽ tiếp diễn bên trong đồn ở từng đường hào, từng ngôi nhà giữa những người xung kích mang mác búp đa và lựu đạn chày với những binh lính địch trang bị súng trường và súng tự động. Lập luận này xem ra có những lý lẽ khá vững chắc. Nhưng muốn áp dụng cách đánh này phải có hỏa lực, đặc biệt là pháo nặng. Đó là những thứ rất hiếm hoi trong trang bị của quân đội ta. Đúng là trong chiến dịch Việt Bắc, chúng ta đã dùng dăm ba khẩu pháo dã chiến để bắn tàu chiến địch. Ngay đầu mùa hè năm nay, chúng ta cũng đã sử dụng pháo trong trận đánh đồn Phủ Thông ở Bắc Cạn. Nhưng trận đánh đã không hoàn toàn thành công mặc dù bộ đội chiến đấu hết sức dũng cảm. Pháo của ta đã ít, đạn pháo lại rất khan hiếm. Khi dùng pháo phải tính từng viên. Việc chuyển vận pháo bằng đôi vai của những người ính hết sức nặng nhọc. Không thể đưa pháo tới những chiến trường xa, nhất là những nơi nằm sâu trong vùng sau lưng địch.
Cuối cùng, một ý kiến dung hòa được đề ra: tranh thủ đánh bất ngờ, nếu bị lộ thì chuyển sang đánh bằng sức mạnh. Loại ý kiến này bao giờ cũng được đa số tán thành vì đôi bên tranh cãi đều cảm thấy lập luận của mình đã được chấp nhận. Nhưng không khỏi có người tựhỏi: "Chuẩn bị một cách đánh đã khó, chuẩn bị đồng thời hai cách đánh có lẽ nào lại bớt khó khăn hơn? Đánh cách này không xong thì chuyển sang đánh cách kia chắc còn khó xong hơn!". Những băn khoăn này chỉ âm ỉ trong suy tư của mỗi người. Ai nấy đều hiểu: điều cần rút ra từ kết luận của cấp trên là trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải đánh, cũng phải làm thất bại bằng được chiến thuật cứ điểm nhỏ của địch nếu chúng ta muốn đưa cuộc kháng chiến tiến lên phía trước...
Phong rời nông trường một ngày cuối hạ. Với chiếc ca lô đội lệch, bộ quân phục vải ka ki màu còn tươi, chiếc ba lô nhỏ trên lưng, Phong theo con đường cái rải đá lởm chởm đi sâu về phía chân núi Tam Đảo. Đại đội trưởng Khải không thích cán bộ đơn vị ăn mặc xuề xòe, về mọi mặt họ không được thua kém cán bộ ở những đơn vị chiến đấu. Phần lớn cán bộ tại nông trường khi đi làm công việc đồng áng vẫn mặc quân phục như những học sinh trường võ bị Trần Quốc Tuấn.
Núi Tam Đảo màu tím biếc bốc hơi nghi ngút. Dải núi chạy dài suốt chân trời phía nam lúc nào cũng đứng sừng sững chế ngự tầm nhìn của anh. Những thửa ruộng hình thù méo mó, cái thấp cái cao với những cây lúa vàng vọt. Đất đai toàn sỏi đá. Cỏ cũng khó mọc lên ở đây. Chỉ có những loài cây dại, đặc biệt là những cây mua thân khô cằn, lá phủ đầy lông là có thể mọc ở khắp nơi.
Càng đi sâu về phía chân núi, cây cối càng rậm rạp. Ở những khe núi cỏ gianh sắc mọc um tùm. Lòng khe là những vũng bùn tù hãm đặc quánh, loang lổ một lớp váng màu quết trầu, bốc lên mùi khăn khẳn. Những đàn muỗi hình dáng giống như những chú bọ ngựacon, mang vi trùng bệnh sốt rét bay vo vo như ong.
Nhưng xóm làng với những ngôi nhà bằng tre nứa như hòa tan vào với núi rừng còn mang nhiều màu sắc hoang sơ.
Từ những ngày đầu đặt chân tới đây, Phong không thấy vùng đất này xa lạ. Trong cuộc kháng chiến, rừng rậm đã trở thành cái nôi êm. Mặc dù bệnh sốt rét rừng đã không chừa một ai, bệnh lở khá phổ biến làm cho đôi bàn tay kềnh càng vì những mụn nhỏ đầy mủ, nhưng cuộc sống ở nông trường được tổ chức khá chu đáo với những buổi làm việc, những cuộc chơi thể thao, những đêm lửa trại luôn luôn tạo nên một không khí hăng say, khiến cho mọi người đều nhận thấy đây là một chỗ trú lý tưởng trong những ngày kháng chiến.
Cho đến phút này Phong không hề có chút hối tiếc trước quyết định của mình. Anh nhận thấy cơ hội đã đến đúng lúc. Trước sau anh cũng phải từ biệt nông trường. Anh đã tình cờ rơi vào cuộc chiến đấu ở Liên khu I. Nhưng khi đã trải qua những ngày lửa máu đó rồi, anh không thể rời bỏ đồng đội, trong thời gian quan không ít lúc anh có cảm giác mình là một kẻ đào ngũ. Đối với Phong, kháng chiến không chỉ đơn giản là những người cầm vũ khí đứng lên chiến đấu chống lại bọn giặc đến cướp nước. Kháng chiến là cả một thành phố với hàng vạn ngôi nhà lớn nhỏ, mỗi ngôi nhà như một tô giới bất khả xâm phạm, dưới đạn bom của kẻ thù đã biến thành một ngôi nhà chung mở rộng cửa cho tất cả mọi người. Kháng chiến là hàng chục vạn con người, ngày hôm trước đối với nhau còn xa lạ, cách biệt nhau vì giàu nghèo, đẳng cấp, tôn giáo, tuổi tác, trình độ, tính tình... giờ bỗng trở thành những người thân như trong một gia đình. Kháng chiến là sự phát hiện ra trong mỗi con người những phẩm hạnh mới, nhiều cái trước đây họ chưa hề biết là chính mình lại có. Kháng chiến là sự tôn trọng, lòng vị tha, tình thương yêu giữa những con người với con người, tất nhiên là những con người đứng cùng một chiến tuyến... Riêng với Phong, đó còn là sự say mê những giờ phút căng thẳng, vượt qua hiểm nghèo giữa cái sống và cái chết, mỗi lần vượt qau một thử thách lại thấy mình lớn lên một chút, lại thấy bằng lòng, thấy yêu mình hơn một chút. Đó còn là sự say mê trong cuộc thi đua âm thầm giữa những con người; giống như tất cả mọi cuộc thi đua người này đều muốn vượt lên người khác, cuộc thi đua này cũng có những cái nhỏ bé của nó, "tôi muốn chứng tỏ là tôi dũng cảm hơn anh, tôi coi khinh sự hèn kém của anh"; nhưng cuộc thi đua nãyvân có cái cao quý riêng khi con người sẵn sàng hy sinh vì một lý tưởng.
Tuy vậy, một lần nữa cái chết lại chờn vờn đe dọa anh. Phong không nghĩ đến sự đau đớn. Điều đáng sợ nhất mà cái chết đem lại đối với anh vẫn là sự trống vắng, một con số không ghê rợn, phía sau nó không còn gì cả! Mọi sợi dây ràng buộc tạo nên vui buồn, hờn giận, hạnh phúc, đau thương giữa anh với những con người trên cõi đời đều không còn nữa. Người ta luyến tiếc cuộc đời,hoặc chán ghét cuộc đời mà vẫn không muốn rời bỏ chính là vì có những mối dây ràng buộc đó. Mỗi lần lọt qua một cuộc thử thách của tử thần, anh càng thấy cuộc đời đẹp hơn. Cuộc đời của anh trở nên có ý nghĩa, đẹp hơn xưa nhiều từ sau ngày nổ ra chiến tranh. Bây giờ anh càng yếumên nó hơn. Quyết định mà anh vừa lựa chọn có thể làm anh phải xa nó, xa vĩnh viễn. Nhưng sự đe dọa đó đã không ngăn cản nổi lòng khát khao, nung nấu được trở về với đồng đội.
Tại sao mình lại chịu thua kém họ? Trước đây mình chưa hề tỏ ra là mình thua kém họ! Đầu tiên là cái tự ái chiến đấu với cái sợ. Lý trí tiếp sức thêm cho nó: Có phải người nào đi chiến đấu cũng hy sinh cả đâu! Rồi lòng say mê cuộc sống chiến đấu hào hùng mà anh đã trải qua, sự thèm khát những chân trời mới lạ, sự ham muốn có những cống hiếnmới, những giờ phút vinh quang khi chiến thắng đã giúp anh đẩylùi cái sợ. Cái trực tiếp tạo nên niềm hưng phấn trong anh lúc này là anh cảm thấy rõ ràng mọi người đã nhìn anh với cặp mắt tôn trọng hơn, đã đỏ ra quý mến anh hơn từ khi biết anh xin trở lại với đơn vị chiến đấu.
Cơ quan nơi Kiều Oanh công tác ở ngay trên đường anh đi sáng hôm nay. Phong đã quyết định không rẽ vào đó chia tay với cô. Anh chỉ gửi lời chào cô qua một bức thư nhỏ mà anh nhờ đại đội trưởng Khải sẽ chuyển sau khi anh lên đường. Anh thấy mình phải cao hơn "đối thủ" của mình. Mình không phải là kẻ thua cuộc. Anh tin rằng sự ra đi của mình sẽ tạo nên một ấn tượng thật mạnh mẽ trong lòng cô gái, sẽ đặt đối thủ của anh vào một vị trí thảm bại, hẳn sẽ trở thành nạn nhân của sự khinh miệt và thù ghét của cô. Cô sẽ đợi anh, nếu anh còn ngày trở về. Anh nghĩ tới hình ảnh của Chương ngồi vắt vẻo trên con ngựa hồng, khẩu súng ngắn trễ bên hông, phóng ngựa chạy suốt dọc hàng quân... Mình phải gặp cô ấy như vậy khi trở về...
Hình ảnh Kiều Oanh, hình ảnh của mẹ và các em lởn vởn trên dọc đường càng đi vào sâu càng vắng vẻ. Mẹ và các em đã chia tay Phong với thái độ của những người chiến sĩ. Chắc mẹ cũng cảm thấy cái vinh hạnh có một đứa con đi chiến đấu. Để cho mẹ yên lòng, Phong đã nói với bà nay mai anh chỉ làm công việc viết báo mà không trực tiếp cầm súng chiến đấu như hồi ở Liên khu I. Sáng nay, khi anh ra đi, mẹ cũng tươi cười như mọi người. Nhưng giữa lúc đó, lần đầu anh nhìn thấy trênmái tóc đen nhánh của mẹ có mấy sợi tóc bạc và quầng mắt mẹ hơi thâm. Mái tóc đó sẽ trở thành bạc trắng nếu một ngày kia mẹ nhận được tin mình không trở về. Chỉ ý nghĩ đó làm trái tim anh thắt lại.
Qua Yên Rã, Phong hỏi thăm đường vào Khuôn Chu, nơi anh sẽ vượt núi Tam Đảo.
Con đường mòn vắng vẻ quãng quãng lại có những cây lớn nằm đổ ngang. Mùa đông năm trước, cả ở đây người ta cũng làm công việc chặn đường di chuyển của quân địch. Mặt trời bắt đầu lên cao, đất bốc hơi nồng ngột ngạt. Hai mắt anh cay xè vì mồ hôi. Chiếc khăn mặt bông mang theo ướt đẫm.
Dốc núi Tam Đảo ở sườn phía bắc gần như dựng đứngTrèo mãi chưa nhìn thấy đỉnh. Không khí vẫn không kém phần oi ả.
Sau hai giờ leo dốc không ngừng, Phong nghe tiếng nước đổ ầm ầm. Trước mắt anh là một rừng vầu xanh tốt. Chẳng mấy chốc anh đã ở bên một thác nước trắng như bạc. Liền với đó là một con đường nhựa. Anh biết mình đã tới nơi.
Khí trời đột nhiên đổi khác, mát lạnh như một ngày cuối thu. Người anh nhẹ lâng lâng. Không còn một giọt mồ hôiBao nhiêu nhọc mệt từ sáng đến giờ đều tiêu tan. Khu nghỉ mát Tam Đảo với hàng trăm ngôi nhà biệt thự, mặc dù đã bị phá hoại, hiện dần ở phía trước dưới ánh nắng mùa thu đẹp như trong mơ. Con đường nhựa lưọn những khúc gấp trên sườn núi. Quanh những ngôi nhà bị phá chỉ còn lại những bức tường màu trắng, màu vàng, những vườn hồng, những cây trúc đào vẫn nở hoa. Rải rác trong thị trấn vẫn còn những ngôi nhà gỗ nho nhỏ, có người ra vào. Đi một quãng thấy đồng bằng trung du dưới chân núi với đồng ruộng trắng nước, những xóm làng cây cối tốt tươi, những mỏm đồi tròn trĩnh, tất cả đều lấp lánh ánh mặt trời, vừa mênh mông vừa nhỏ xinh như cảnh trong một bức ảnh màu. Cảnh vật này thêm kỳ ảo vì có những đám mây trắng nhẹ nối nhau bay qua trên những con đường của thị trấn, làm cho nó lúc ẩn lúc hiện, như thực như hư. Có những úc Phong phải dừng bước vì một đám mây xóa nhòa mọi vật chung quanh. Anh khoan khoái đón nhận những hạt nước nhỏ li ti như bụi, mát lạnh phả vào mặt, vào cổ, vào đôi cánh tay trần, và tiếc rằng không có cách nào giữ được đám mây ở lại với mình lâu hơn.
Phong tìm vào một ngôi nhà gỗ nhỏ xin trú lại qua đêm để sáng hôm sau xuống núi. Chủ nhà là một bác trước Cách mạng làm nghề nấu bếp cho Tây. Hai con trai bác đã đi bộ đội. Cô con gái còn ở nhà với bố mẹ, không đẹp nhưng có nước da trắng và đôi má đỏ như trái đào. Phong đến vừa gặp mayGia đình bác đã chuyển xuống khu làng Việt Nam ở lưng chừng núi, nơi có đất tăng gia sản xuất, thỉnh thoảng mới lên đây quét dọn nhà cửa. Chiều nay, hai bố con vừa lên để buổi tối đi xem bộ đội diễn kịch.
Tam Đảo được thực dân Pháp chọn làm nơi nghỉ mát vì chúng cho rằng khí hậu ở đây giống khí hậu vùng ôn đới của nước Pháp. Trước kia chỉ có bọn quan cai trị người Pháp và những người Việt thuộc vào loại quyền quý mới được đặt chân tới đây.
Mặt trời chiều thả những sợi tơ vàng qua khung cửa sổ mở rộng của ngôi nhà gỗ yên tĩnh.
Phong ngả người trên tấm nệm bông êm ấm hưởng thụ chút tiện nghi còn sót lại của một đô thị đã bị chính những người chủ mới hủy diệt để nó khỏi một lần nữa rơi vào tay kẻ thù. Nhìn hai bố con ông chủ nhà hí húi lau bàn ghế, lau sàn nhà, lau cửa kính, anh cảm thấy ngỡ ngàng. Tất cả những vật này đã trở nên xa lạ với anh. Anh không hiểu người ta chăm sóc nó để làm gì...
Bố con bác chủ nhà sốt sắng mời Phong cùng ăn cơm với những thứ họ đem từ dưới làng lên. Sau bữa cơm, cô gái hối hả giục bố đi xem, và hỏi Phong có đi cùng. Phong đã biết rõ những tối lửa trại như thế này, những bài đồng ca, những vở kịch cương có những anh bộ đội đóng giả gái nhiều lúc làm cho người xem phải cười ồ vì dáng điệu vụng về. Anh ngạc nhiên thấy bố con bác chủ nhà chuẩn bị đi xem với sự ham thích, hân hoan như đi dự một ngày hội.
Khí hậu Tam Đảo về đêm mát lạnh như mùa đông. Một đống củi đã được đốt lên giữa sân xi măng khá rộng của một khách sạn đã bị phá hủy. Chiều nay trong khi dạo thăm thị trấn, Phong đã dừng lại khá lâu ở đây. Anh ngồi trên bức tường hoa phía sân trong nhìn về đồng bằng trung du, ngắm quang cảnh hiện ra dưới chân núi qua màn sương trắng đục giống như nằm dưới đáy hồ.
Thị trấn đã chìm đi trong bóng đêm. Núi Tam Đảo đen sì, đứng sừng sững trước mặt Phong in hình trên nền trời cao. Ngọn lửa ấm nóng ăn củi lem lém nhuốm hồng bộ mặt những người ngồi quanh. Bộ đội hầu hết rất trẻ, mặc quần áo tiện y màu đen ngồi thành ba khối quan đống lửa. Phong biết đây là ba đại đội của một tiểu đoàn bộ binh chiến đấu. Người xem ngồi về một góc. Phần lớn là dân từ dưới làng kéo lên, trong đó có nhiều cô gáiCũng có một số người, qua cách ăn mặc và cử chỉ của họ, có thể là những khách đi ngang như Phong. Một đôi bộ mặt quen quen, đặc biệt là một người đeo kính, mảnh dẻ, mặc quần áo nâu, vải rất thô, đã bạc màuBộ quần áo nông dân xoàng xĩnh không che nổi cái vẻ người thành thị với mái tóc mai dài lượn sóng và cặp mắt khi lơ đãng, khi long lanh sau làn kính cận.
Trong khi chờ đợi giờ khai diễn, quản ca các đại đội thi nhau bắt nhịp cho bộ đội hát. Nhiều anh chiến sĩ trẻ cố tình cất cao tiếng để làm cho bài hát của đại đội mình hùng tráng hơn. Họ vừa hát vừa vỗ tay. tiếng hát đồng ca hầu như không dứt cho đến khi một anh cán bộ người bé nhỏ như con chim chích, đội chiếc mũ vải, vành mũ cong lên như hai cánh hoa móng rồng, ôm cây đàn ghi ta bước ra, mở đầu cuộc liên hoan bằng một bài hát mới: "Hoan hô người chiến sĩ Lùng Vài". Anh sử dụng cây đàn một cách thành thạo, giống như một nhạc công chuyên nghiệp.
Tiếp đến vở kịch thơ Trần Bình Trọng, một viên tướng đời nhà Trần đã giữ vững khí tiết khi chẳng may lọt vào tay quân thù. Đóng vai Trần Bình Trọng là một người thân hình chắc đậm, giọng ngâm thơ hơi rè nhưng có vẻ rất tự tin. Người thủ vai gái đẹp đến dụ dỗ Trần Bình Trọng là một anh bộ đội có bộ mặt xinh xắn và giọng ngâm hay, làm bật lên những tiếng trầm trồ.
Giữa buổi liên hoan, anh bộ đội bé nhỏ chơi đàn ghi ta chạy đến ghé vào bên một anh cán bộ mặt trắng xanh ngồi ở hàng đầu, thì thầm rồi ra giới thiệu là chính trị viên tiểu đoàn sẽ nói chuyện với đồng bào. Anh cán bộ đứng dậy, bước ra. Tự biết mình còn quá trẻ, nên anh giữ một thái độ nghiêm trang, có phần trịnh trọng. Hai bàn tay anh chắp vào nhau. Bài nói của anh xen nhiều từ ngữ chính mà chắc nhiều người nghe không hiểu. Anh nói là chúng ta nhất định thắng vì cuộc chiến đấu của ta có chính nghĩa. Anh hô hào toàn thể đồng bào phải đặt quyền lợi quốc gia dân tộc lên trên tất cả. Đồng bào phải cố gắng tăng gia sản xuầtva giữ gìn bí mật, thực hiện đúng khẩuhiệu: "không biết, không nghe và không thấy"... Mọi người chăm chú theo dõi từng lời của anh. Kết thúc câu chuyện, anh không vào ngay sau tràng vỗ tay. Anh đứng im lặng một chút rồi nở một nụ cười. Nụ cười cùng với cặp mắt bỗng trở nên tinh nhanh đã làm thay đổi hẳn cái vẻ mặt nghiêm trang của anh trước đó. Anh nói tiếp:
— Tôi được biết trong buổi liên hoan này có mặt nhạc sĩ Phan Du, tác giả của bản nhạc "Tình quê" được nhiều người yêu thích.
Anh quay về phía người mặc bộ quần áo nông dân bạc màu, đeo kính trắng, cái người ban nãy Phong đã nhận thấy là có vẻ mặt quen quen.
— Xin thay mặt cho đồng bào và bộ đội, mời nhạc sĩ Phan Du giới thiệu một bản nhạc mới của anh.
Tiếng hoan hô rầm rộ nổi lên. Nhạc sĩ Phan Du bị phát hiện bất ngờ. Anh hơi sững ra một chút. Nhưng rồi với một cử chỉ dứt khoát, anh rời khỏi vòng người đứng xem, bước vào bên đống lửa.
Người bé nhỏ đội chiếc mũ rộng vành ôm chiếc ghi ta tới, tháo dây khỏi vai trao cho Phan Du. Đôi mắt của người nhạc sĩ dường như hơi dại đi vì cảm động. Anh ngập ngừng nói:
— Đồng chí chính trị viên yêu cầu tôi giới thiệu một bản nhạc mới... nhưng tôi xin hát tựng đồng bào các đồng chí... ba bài, mặc dù tôi rất ít khi hát. Tôi biết nhiều đồng chí cán bộ ở đây là người Hà Nội...
Anh say sưa hát liền một lúc ba bài tình ca bằng một giọng hát nhỏ nhẹ, ngọt ngào. Những dư âm từ đâu xa xôi vọng về sau mỗi bài hát của anh. Những chàng trai Hà Nội bỗng thấy tiếng hát đưa mình trở về với những tà áo dài thướt tha, những phòng trà có ánh đèn màu, và những đường phố vắng đêm khua sực nức mùi hoa dạ hương. Không khí của buổi liên hoan lặng hẳn đi ngay cả sau lúc Phan Du đã trao trả cây đàn, quay về chỗ của anh giữa những người đứng xem.
Chính trị viên tiểu đoàn lại bước ra. Từ lúc xuất hiện đến giờ, anh đã giành phần điều khiển cuộc liên hoan.
— Thay mặt đồng bào và bộ đội, tôi xin chân thành cảm ơn nhạc sĩ Phan Du đã làm cho chúng tôi đêm nay... lại nhớ về Hà Nội...
Anh cười mỉm, rồi nói tiếp:
— Ngày mai chúng ta đã có công việc từ sớm, tôi xin giới thiệu ngưới kết thúc buổi liên hoan này là đồng chí tiểu đoàn trưởng của chúng ta.
Một người mặc bộ quân phục ka ki bạc màu đứng dậy. Anh hơi thấp một chút, đôi vai hẹp nhưng than hình chắc nịch, bộ mặt nghiêm. Anh móc từ túi ngực bên trảia một chiếc kèn bằng một động tác ngượng ghịu. Qua cử chỉ này Phong nhận thấy tiểu đoàn trưởng mất cánh tay phải; ống tay áo quân phục bên phải của anh không cài cúc, buông thõng.
Chính trị viên lại nói:
— Tiểu đoàn trưởng của chúng ta trước kia chơi đàn vĩ cầm. Sau khi bị thương ở Bàn Pùm anh mới chuyển sang chơi ắc-mô-ni-ca.
Tiểu đoàn trưởng không hiểu sao bỗng khoa tròn ống tay áo che cánh tay cụt của mình. Anh nở một nụ cười hơi lạnh, nói:
— Kể ra ngay cả thổi kèn này, có hai tay vẫn cứ tốt hơn...Bây giờ tôi thổi các đồng chí nghe bài "Xuất quân".
Mọi người cười ồ vì đây là bài hát thường ngày của họ.
Tiếng kèn vang lên. âm lượng của nóhơi nhỏ. Tiểu đoàn trưởng đã sử dụng cả cách đánh nhịp kèn theo để cho những âm thanh thêm mạnh mẽ.
Phong vẫn không rời mắt khỏi cánh tay cụt của tiểu đoàn trưởng với ống tay áo bay phất phơ mỗi lần anh cử động. Đẹp nhất ở người anh có lẽ là cánh tay cụt. Một bàn tay kéo vi cầm không còn nữa. Nhưng người cán bộ này vẫn đứng vững trong hàng ngũ chiến đấu, vẫn không từ bỏ sự yêu thích âm nhạc của mình.
Phong thấy quý trọng con người với bộ mặt kiên nghị, nụ cười lành lạnh vànhững lời nói giản dị của anh. âm lượng của chiếc kèn không đủ để chuyển đi nguồn sức mạnh trong người anh mà anh đang muốn chuyển tới các chiến sĩ của mình. Bất thần cánh tay cụt của đồng chí tiểu đoàn trưởng vung lên, vung lên; ống tay áo anh theo đà cánh tay cùng phất lên, phất lênVà cả tiểu đoàn bật dậy hát theo:
«Ngày bao hùng binh tiến lên
Bờ cõi vang lừng câu"Quyết chiến!"
Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành.
Một chiến sĩ nào đó thét thật to: "Đoành, đoành đoành...!".
Quân Việt Nam đi hồn non nước xầythanh
Đi là đi chiến đấu
Đi là đi chiến thắng
Đi là mang mối thù thiên thu...»
Cánh tay cụt của đồng chí tiểu đoàn trưởng lại vung về phía Phong đứng. Phong và những người xem chung quanh anh bị cuốn theo bầu không khí bỗng trở nên sôi sục, đều đồng loạt cất tiếng hát theo.
Tất cả những người có mặt trong tối liên hoan đêm nay đều hát.
Bài hát kết thúc. Tiểu đoàn trưởng mặt đỏ bừng, vung cả hai cánh tay lên trời, ở một bàn tay là chiếc kèn, cánh tay bên kia, thay vào bàn tay, là ống tay áo bay như một lá cờ.
Mọi người vỗ tay hồi lâu hoan hô tiểu đoàn trưởng và cũng là để hoan hô chính mình.
Trên đường về nhà, người Phong phấn chấn hẳn lên vì một niềm vui rạo rực. Những ánh lửa của đêm liên hoan vẫn tiếp tục bay lên thành ngàn vạn vì sao chi chít trên đầu anh.
Về tới phòng chính trị binh đoàn, Phong đề nghị được xuống bất cứ một đơn vị chiến đấu nào. Đồng chí trưởng phòng chính trị có dáng dấp một ông giáo làng, hàm răng đầy và nụ cười luôn luôn rộng mở nói với anh một cách vui vẻ nhưng kiên quyết là cấp trên không điều anh về đây để làm công việc đó... Công tác của Phong được quyết định ngay, Phong sẽ là phóng viên của tờ báo binh đoàn. Người ta yêu cầu anh tìm hiểu ngay các đơn vị sắp lên đường làm nhiệm vụ vì anh sẽ cùng đi với họ.
Tòa soạn mới chỉ có hai phóng viên, Phong và Lẫm, một cậu người gầy gò, xanh rớt vì sốt rét. Cậu ta có vẻ đạo mạo, lầm lì, lúc đầu Phong không đoán được cậu ta bao nhiêu tuổi. Nhưng chỉ sau vài buổi chuyện trò thì Phong thấy đó là một anh chàng tài hoa, tán như khướu và công tác các em thiếu nhi rất giỏi. Có người nói Lẫm chỉ mới mười bảy tuổi, gặp người lạ, Lẫm hay đóng vai ông cụ non vì sợ người ta coi thường mình. Chỉ đến hết ngày kháng chiến chống Pháp, Phong mới biết tuổi thực của Lẫm đúng như anh đã nghe người ta nói.
Nhiều đơn vị cũng như nhiều cán bộ từ các nơi đang được tới tấp điều về binh đoàn. Trên cả nước, quân đội ta đang còn ở thời kỳ phân tán tiến hành những trận đánh nhỏ với kẻ địch, nhưng riêng Bộ Tổng chỉ huy cần phải có một "quả đấm" chủ lực để tập mở những chiến dịch tiến công vào những vùng địch sơ hở. Trong binh đoàn có một số đơn vị vốn từ trước đã là những tiểu đoàn trực thuộc Bộ, nhiều tiểu đoàn khác được rút lên từ các liên khu. Các liên khu đã lựa chọn tiểu đoàn mạnh nhất của mình, đưa lên xây dựng binh đoàn chủ lực của Bộ. Khi lên, họ mang theo cả vũ khí.
Phong và Lẫm nhanh chóng trở thành một đôi bạn. Họ dễ hiểu nhau vì cùng là học sinh Hà Nội. Họ thường đi công tác với nhau. Lẫm bắt đầu thích
Phong đi biết anh từ chối không nhận chức phụ trách tờ báo và chỉ xin được làm phóng viên như mình. Ở binh đoàn bộ, hai người như thuộc một đơn vị đặc biệt, họ không mấy khi phải báo càovê công tác của mình. Đồng chí trưởng ban tuyên huấn, vẫn phải kiêm nhiệm chức thư ký tòa soạn, chỉ biết về những việc làm của họ một cách đại cương. Muốn đi đâu, họ chỉ cần trao đổi với nhau.
Hàng ngày họ cùng đi xuống đơn vị xem bộ đội tập đánh cứ điểm, dự những hội nghị cán bộ. Lẫm về binh đoàn trước Phong nửa năm nên qua Lẫm, Phong biết được khá nhiều nhân vật đặc biệt của binh đoàn, những Hoàn "Nhật", Hồng "kính", Phan "mèo"... Anh biết sau khi trung đoàn Thủ đô rút lại thành một tiểu đoàn, Chương cũng mới được điều về đây, phụ trách một tiểu đoàn chủ lực. Và người tiểu đoàn trưởng cụt tay Phong gặp tối hôm trước ở Tam Đảo là Quốc Toản. Quốc Toản là đại đội trưởng bị quân Pháp bắn gãy cánh tay phải trong một trận đánh ở Bắc Cạn, anh đã dùng lưỡi lê chặt đứt cánh tay mình để tiếp tục chiến đấu và chỉ rời trận đánh sau khi ngất đi. Trong những ngày nằm điều trị, Toản tỏ ra bất mãn. Anh thường trả lời những người đến thăm hỏi bằng câu: "Tàn phế rồi!". Anh chỉ vui vẻ trở lại sau khi biết mình vẫn được điềuvê đơn vị cũ và lên phụ trách tiểu đoàn. Anh đã bắt đầu viết được bằng tay trái.
Mỗi tiểu đoàn chủ lực từ một chiến trường khác nhau về Bộ nên cũng có những màu sắc khác nhau.
Tiểu đoàn Quốc Toản từ khu Ba lên với hầu hết chiến sĩ là nông dân vùng ven biển. Để chuẩn bị cho nó làm nhiệm vụ mới, người ta đã nhanh chóng đưa tới tiểu đoàn một loạt cán bộ được đào tạo tại trường võ bị Trần Quốc Tuấn khóa đầu tiên. Những cán bộ này phần lớn là học sinh Hà Nội. Các chiến sĩ ở đây cục mịch, rắn chắc khác hẳn với những cán bộ phụ trách họ vẫn mang dáng dấp của những thanh niên thành thị có học, vứt sách vở cầm vũ khí chiến đấu. Họ kéo quân từ đồng bằng lên Bộ vào giữa chiến dịch Việt Bắc; Bộ lập tức đưa họ lên đường số 4.Tại đây họ đã đánh trận phục kích ở Lũng Vài, mang những khẩu súng máy chiến lợi phẩm nước thép còn xanh trở về ra mắt Bộ khichiến dịch kết thúc.
Tiểu đoàn Chương phụ trách chính là đơn vị chiến đấu tại bến đò Bình Ca, một lần đi ngang nông trường đã tổ chức đá bóng với đơn vị Phong. Phần lớn họ là con em của những gia đình dân nghèo tại các bãi Phúc Xá, Phúc Tân. Những chiến sĩ của tiểu đoàn này rất hòa hợp với cán bộ của họ, kể cả những người mới được điều từ trường võ bị về.
Giữa hai tiểu đoàn đang diễn ra một cuộc thi đua ngầm.
Với nhiệm vụ mới, Chương thiên về cách đánh kỳ tập. Quốc Toản thích dùng cường tập. Cán bộ đại đội ở từng tiểu đoàn thì nói theo người chỉ huy của mình. Qua những cuộc họp cán bộ, Phong nhận thấy họ ít thắc mắc về những khó khăn có thể xảy đến trong trận đánh nay mai. Họ quá tin tưởng ở người chỉ huy của mình chăng? Hay họ sợ trên đánh giá mình nhút nhát? Nhưng cái chính là vì chưa ai có kinh nghiệm về cuộc chiến đấumới này. Các chiến sĩ càng ít thắc mắc hơn. Chắc là họ nghĩ mình chỉ cần thực hiện đúng mệnh lệnh của người chỉ huy.
Phong dự nhiều buổi tập đánh đồn. Nhìn bộ đội bò lết trên mặt đất, vượt qua một bãi trống dài trước chòi gác của địch, kéo theo chiếc thang tới đặt lên hàng rào tua tủa những mũi tre nhọn hoắt cho những người cầm mác bò sau, trèo lên vượt qua..., Phong cứ có ý nghĩ: "Không biết họ sẽ làm cách nào để tiêu diệt được con nhím xù lông kia?". Làm sao hàng trăm con người có thể vượt qua được bãi trống trước mắt kẻ địch mà chúng không phát hiện? Làm sao họ có thể vượt qua hàng rào tre nứa kia mà không gây nên tiếng động? Và khi lọt vào trong đồn rồi, những chiến sĩ bé nhỏ của ta với lưỡi mác thô sơ dễ gì đâm ngã được bọn lính lê dương to như hộ pháp với súng tiểu liên trong tay. Cuộc chiến đấu mới ngày hôm nay khác xa với cuộc chiến đấu tại Thủ đô Hà Nội. Ở đó, các anh có thể luồn từ ngôi nhà nàyqua ngôi nhà khác đến sát kẻ địch mà chúng không hề hay biết. Ở đó chỉ cần chạy vài bước, nép đằng sau một bức tường là có thể tránh được làn đạn thẳng nguy hiểm. Một điều làm Phong lo ngại nữa là khá đông các chiến sĩ không được tập bắn đạn thật vì đạn được vẫn quá hiếm.
Một lần, Phong nói với Chương:
— Tôi thấy đánh loại cứ điểm nhỏ này khó hơn đánh nhà Moóc-li-e ngày xưa nhiều.
— Tất nhiên có khó hơn. - Chương đáp nhẹ nhàng.
— Làm cách nào vượt qua bãi trống mà địch không biết?
— Mình đánh ban đêm. Cần giữ bí mật cho tốt.
— Nhưng lỡ lộ?...
— Tùy cơ ứng biến. Non cao vẫn có đường trèo.
— Cái hàng rào lông nhím sẽ rên lên khi ta đặt thang trèo qua?
— Không lo. Mình đã đánh thắng rồi, ở Phủ Thông...
— Sao nói trận Phủ Thông không thành công?
— Theo mình là thành công. Ta đã vượt rào vào hẳn trong đồn, đã chiếm được ba phần tư đồn, quân địch chỉ còn giữa được một lô cốt, đúng một cái thôi nhé...! Mình đánh kém linh hoạt nên không tiêu diệt được nốt lô cốt này. Trời sáng, phải kéo quân ra. Địch đã tăng viện quân cho Phủ Thông, nhưng cũng chỉ mấy ngày sau chúng phải rút khỏi vị trí. Như vậy, phải nói là ta thắng... Nhất định sẽ thắng, phải thắng.
Cái chợ nông thôn của huyện Lập Thạch đã được đô thị hóa sau ngày kháng chiến với hai dãy hàng quán của những người tản cư dựng kéo dài trên con đường đất đỏ từ Vĩnh Yên chạy về Tuyên Quang.
Từ ngày có bộ đội về, cái phố nhỏ như lên cơn sốt. Đường phố tấp nập người qua lại, mua bán. Nhịp điệu hoạt động ở từng ngôi nhà gấp gáp hẳn lên. Từng toán bộ đội này đến toán khác kéo nhau vào những hàng giải khát, hàng phở đã được nhanh chóng tăng cường thêm những mặt hàng mà bộ đội ưa thích. Các cô bán hàng cũng chú ý đến bộ quần áo, đến mái tóc hơn mọi khiThỉnh thoảng, một vài con ngựa phóng qua, tiếng vó khua giòn. Trên lưng ngựa là một anh bộ đội tuy không mang cấp hiệu, nhưng chỉ nhìn vẻ mặt, dáng người cũng biết là một cấp chỉ huy khá cao. Có lúc mọi người bỏ cả ăn uống, mua bán, quay cả ra đường nhìn một đơn vị bộ đội kéo qua. Xen lẫn với những chiến sĩ mang súng trường, súng máy, có những anh bộ đội khỏe mạnh, đẹp trai chỉ cầm theo một cây mác nhẹ tênh. Mọi cặp mắt đều đổ dồn vào họ. Người ta kháo với nhau đó là những chiến sĩ "quyết tử". Chính họ chứ không phải những người mang súng máy, súng trường kia, sẽ xông lên đầu tiên trong những trận xung sát với kẻ thù nay mai. Những tình cảm tập trung cho họ vì họ mang đến cho mọi người hy vọng chiến thắng lớp sắp đến, liều thuốc hiệu nghiệm bồi bổ cho niềm tin vào ngày trở về đang có vẻ xa dần. Một lý do nữa, những anh bộ đội trẻ khỏe, tươi vui với cặp mắt ngời sáng và tiếng hát hùng tráng kia, một lần đã ra đi, người ta không dễ gì gặp lại...
Gần đây đã thành lệ mỗi lần qua phố Me, Phong đều phải ghé vào một quán giải khát ở cuối phố, giáp với cánh đồng. So với những hành khác, quán này vắng khách hơn cả. Đây là một cơ sở của Lẫm. Phong đã biết thêm vì sao Lẫm thích chơi với những em nhỏ? Lẫm có nhiều tài chinh phục các em như tài kể chuyện cổ tích, chuyện trinh thám cũng như chuyện vui. Không biết cậu ta sưu tầm đâu được nhiều chuyện đến thế? Lẫm kể chuyện như người đóng kịch làm cho các em cảm thấy câu chuyện đang diễn ra ngay trước mắt. Lẫm lại có tài bắt chước các loại âm thanh khác nhau. Lẫm có thể kể lại cả một cuộc duyệt binh với tiếng đọc Nhật lệnh của đồng chí Đại tướng, với tiếng kèn của đội nhạc binh và với cả nhịp đi rầm rập của bộ đội. Lẫm có thể bắt chước đúng tiếng gà, tiếng vịt, tiếng mèo kêu. Và có lúc hứng lên, Lẫm nhắc lại gần như đúng từng câu, từng chữ và cả cái âm thanh the thé của một bà hàng xóm vừa mất con gà đứng rủa bên hàng xóm, làm cho mọi người cười đến chảy nước mắt. Các em đã gặp Lẫm một đôi lần thì hầu như không thể dứt ra được...Trước đây, Phong không hiểu vì sao Lẫm đã dành quá nhiều thời gian cho công tác thiếu nhi vận? Bây giờ anh biết thêm một lý do: những em nhỏ thường là chiếc cầu để bắc sang người lớn. Em bé nào thường chẳng có một vài cô chị! Quán nước này là của một bà giáo góa chồng, có bảy tám người con vừa trai vừa gái, phần đông còn nhỏ. Chỉ sau một lần Lẫm vào quán nước, hễ thoáng nhìn thấy bóng Lẫm đi ngang, cả một đàn em nhỏ lại ùa ra, kéo vào.
Ngay từ lần đầu tới đây với Lẫm, bà giáo đã coi Phong như người nhà. Bà lấy chồng sớm nên tuy đông con nhưng còn khá trẻ. Bà gọi Lẫm và Phong là các em.
Phong đã hiểu vì sao quán này tương đối vắng khách. Do nền nếp giáo dục cũ của gia đình, hai cô con gái lớn của bà giáo chỉ đứng ở nhà trong làm nhiệm vụ pha chế. Việc mang nước uống, mang bánh ngọt cho khách là của các em nhỏ. Bản thân bà giáo cũng không bao giờ làm việc này. Không có mấy người khách giống tính Lẫm vào quán nước chỉ để chuyện trò với mấy em nhỏ.
Không bao giờ bà giáo chịu nhận tiền của Lẫm và Phong trả về các khoản ăn uống. Phong nghĩ rằng việc lui tới của lẫm và mình đã trở thành một gánh nặng cho gia đình. Một lần, hai người bàn nhau đặt một tờ giấy bạc một trăm vào tờ báo của binh đoàn họ để lại tặng bà giáo trước khi ra về. Lần sau họ tới, các em vẫn mang bánh và nước cho họ như mọi khi. Phong tưởng bà giáo đã đồng ý từ nay sẽ cho họ thanh toán như những người khác khác. Họ ăn uống vui vẻ. Nhưng trước khi họ ra về, bà giáo đặt lên bàn tờ giấy bạc bữa trước, nói với giọng nghẹn ngào:
— Chị không muốn các em làm như thế này!
Những giọt lệ lăn trên má, bà giáo đi vội vào nhà trong...
Cái phố nhỏ đã bừng lên không khí ngày hội không phải chỉ vì những người bán hàng có thêm khách, mà còn vì qua họ, những người đã rời thành phố thân yêu ra đi, tìm lại được những cái gì đã mất.
Bộ đã quyết định mở một lễ duyệt binh lớn tại vùng này nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ ba. Gần ngày lễ, bộ đội kéo về thêm đông. Nhiều đoàn khách cũng từ Việt Bắc kéo xuống. Cả gia đình bà giáo bận rộn vì nhiều cơ quan của tỉnh đến đặt bánh liên hoan.
Cổng chào được dựng lên hai đầu phố. Người ta sửa sang lại sân bóng chuyền chuẩn bị cho trận đấu giữa đội bóng thanh niên phố Me với đội bóng binh đoàn. Ông chủ quán cà phê đông khách nhất ở phố Me, một cầu thủ bóng chuyền lâu năm ở Hà Nội, là ông bầu của đội bóng thanh niên phố Me, đội bóng chưa hề thua trong tất cả các trận đấu từ ngày thành lập. Nhưng ông tuyên bố trước, trận đấu này nhất định đội mình sẽ thua và thua đậm. Ông đã nhìn thấy trong đội bóng của binh đoàn tập trung khá nhiều tinh hoa bóng chuyền của Hà Nội.
Có một điều nhiều người không biết, lễ Quốc khánh năm nay được tổ chức rất lớn ở Vĩnh Yên với cả một cuộc duyệt binh đồ sộ là nhắm một ý đồ quân sự. Bộ Tổng chỉ huy muốn lôi kéo sự chú ý của quân địch về hướng này để chuẩn bị giáng cho chúng một đòn bất ngờ ở hướng khác. Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn với gần một ngàn học sinh cũng được điều về tham gia duyệt binh; họ thế vào vị trí của binh đoàn sẽ lặng lẽ lên đường ngay sau buổi liên hoan văn nghệ đêm Mông 2 tháng 9.
Phong hối hả chuẩn bị hành trang lên đường. Dãy núi Tam Đảo như một bức tường thành ngăn cách giữa cuộc đời mới của anh với những ngày sống êm ấm tại nông trường. Với binh đoàn chủ lực của Bộ này, anh sẽ đi tới những vùng gay gắt nhất của cuộc chiến tranh, tới ngày toàn thắng hoặc cới cáigiờ phút không may anh ngã xuống. Cuộc sống mới sôi nổi cuốn hút bắt đầu từ cái đêm liên hoan trên đỉnh núi Tam Đảo đến nay, đã làm anh hầu như quên hết mọi việc từ trước. Sợi dây ràng buộc anh lúc này là binh đoàn cùng với những nhiệm vụ chiến đấu khẩn trương của nóSau khi cân nhắc kỹ lưỡng, anh đã khuyên bà giáo nên cố gắng chuyển gia đình sang Thái Nguyên, vì đất Vĩnh Yên về lâu dài sẽ không an toàn, không bao lâu nữa sẽ là bãi chiến trường. Bà giáo không hiểu ý anh, nói: "Có các chú, chị và các cháu sẽ không sợ gì hết". Bà không biết nay mai anh và tất cả bộ đội sẽ ra đi, không sớm thì muộn, quân Pháp sẽ tràn lên vùng này, phố Me rộn rã tưng bừng ngày hôm nay sẽ trở thành một đám tro tàn. Anh thương bà giáo và đàn em nhỏ không biết ngày mai sẽ ra sao.
Ngày Mồng 2 tháng 9, Phong không ra Me xem lễ duyệt binh và dự các cuộc vui. Anh phải chuẩn bị sức khỏe đêm nay hành quân. Anh không muốn gặp gia đình bà giáo mà không nói gì ngay trước lúc ra đi.
Buổi chiều, Phong đang ngồi trong căn nhà dân, nơi cơ quan trú quân, bỗng thấy một cô gái dắt chiếc xe đạp đi vào. Cô gái để tóc thề, mỉm cười thân mật, lên tiếng chào:
— Anh!
— Chào cô - Phong cố moi trí nhớ xem cô gái dáng quen quen này là ai.
— Em là con bà giáo...
Bấy giờ Phong mới biết đó là một trong hai cô con gái lớn của bà giáo mà mỗi lần vào nhà Phong chỉ nhìn thấy khi thì chị, khi thì em thấp thoáng sau bức rèm che.
— Mợ bảo vào mời anh ra nhà ngay có việc rất cần... Có ngườinha chờ anh ngoài đó. Mợ bảo đem xe đạp đi đón anh cho nhanh. Đây là xe của chị ấy...
Linh tính báo cho Phong biết cô gái đó là ai. Làm sao cô ấy lại biết mình hay lui tới nhà bà giáo?...
Dọc đường, cô con gái bà giáo cho Phong biết thêm người phụ nữ đến tìm Phong đi cùng một cán bộ từ Việt Bắc về dự lễ duyệt binh.
— Không biết ai bảo chị ấy sang nhà em hỏi thăm. Vào nhà thấy bé Nam đang đọc tờ báo anh cho, có tên anh trong đó, chị ấy mừng rú lên. Bây giờ ông cán bộ đi dự lễ duyệt binh, còn chị ấy ngồi ở nhà em chờ anh...
Giọng nói thanh thanh nhỏ nhẹ của cô gái chưa vượt khỏi ranh giới của tuổi thiếu nữ như bị nhòa đi trong tiếng gió. Bao nhiêu câu hỏi nổi lên dồn dập. Cuộc gặp gỡ này sẽ ra sao? Chắc Khải đã nói với cô ấy là mình kiên quyết xin rời khỏi nông trường. Anh sẽ phải chịu đựng những lời oán hận. Hay là lại ràng buộc nhau thêm bằng một lời ước hẹn nữa? Mình biết ước hẹn gì khi công việc đối với mình mới chỉ là bắt đầu...?
Phong bỗng rẽ xe vào bên đường và bóp phanh dừng lại. Cô gái ngơ ngác nhảy xuống, nhìn anh.
Phong nói:
— Chỉ một lát nữa anh phải đi công tác. Nhờ em về nói giúp, anh rất cảm ơn chị ấy đã tới thăm và anh rất tiếc là không kịp gặp. Hay là... tốt hơn cả, em nói: anh đã đi công tác từ ban trưa...
Cô gái ngơ ngác:
— Tại sao lại như thế cơ chứ?... Tại sao anh lại không muốn gặp chị ấy? Em thấy chị ấy rất mong gặp anh.
Phong nói vội vã:
— Em về ngay đi kẻo chị ấy chờ... Anh đã nói với em là anh phảiđi công tác rất gấp. Anh gửi lời chào mợ, chào các em và chào em.
— Ơ! - Cô gái kêu lên một tiếng ngạc nhiên - Thế ra vì chuyện này mà anh không đến chơi gia đình em nữa ư?
— Khi đi công tác về, anh sẽ tới thăm gia đình. Anh không nói dối em, anh sắp đi công tác. Một lần nữa, chào em.
Phong hấp tấp quay trở về. Anh sợ rằng nếu đứng lâu hơn anh sẽ mềm lòng trước những lời năn nỉ của cô gái không hiểu vì sao đã quá sốt sắng với việc anh gặp lại Kiều Oanh.