Cuối tháng Giêng năm 1947, viện binh của địch từ Pháp sang. Đội quân viễn chinh Pháp đã lên tới mười vạn tên. Cho đến lúc đó, trong lịch sử chiến tranh xâm lược thuộc địa của các nước đế quốc, chưa bao giờ chúng phải huy động một lực lượng quân lính đông như vậy. ấy là chưa kể lần này đội quân xâm lược thộc địa của các nước đế quốc, chưa bao giờ chúng phải huy động một lực lượng quân lính đông như vậy. ấy là chưa kể lần này đội quân xâm lược lại được trang bị bằng những vũ khí hiện đại, nhiếuthư chỉ mới xuất hiện trong chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Với số viện binh mới sang, bộ chỉ huy Pháp quyết định mở những trận đánh giải tỏa các thành phố mà quân của chúng bị bao vây, đồng thời cố gắng làm chủ những con đường giao thông huyết mạch, bảo đảm sự liên lạc của quân Pháp giữa các thành phố.
Lực lượng quân địch lúc này rất mạnh. Nhiều mặt trận của ta bị vỡ nhanh chóng. Từ đầu tháng Giêng, một trung đoàn của ta chiến đấu tại Hải Dương đã phải rút khỏi thành phố. Đầu tháng Hai, mặt trận thành phố Huế vỡ. Thừa thế, địch đưa quân ra chiếm Quảng Trị, Đồng Hới và kéo tới bờ sông Gianh. Trung tuần tháng Hai, mặt trận Sơn La vỡ. Trung đoàn Sơn La phải tút về vùng rừng núi tây - nam tỉnh Phú Thọ. Ở mặt trận Hải Ninh, trung đoàn Tiên yên cũng phải rút về tận Bắc Giang. Đầu tháng Ba, Pháp đưa lực lượng lớn từ Hà Nội xuống giải vậy chomột đơn vị quân Pháp vẫn còn cố thủ tại Nhà máy sợi Nam Định. Bốn thành phố lớn trên miền Bắc: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương đã rơi vào tay quân địch.
Tại mặt trận Hà Nội, nửa tháng sau ngày trung đoàn Thủ đo rút khỏi Liên khu I, địch đưa bốn cánh quân tiến về phía Hà Đông. Nhiều cơ quan Trung ương của ta vẫn còn ở những vùng không xa thị xã. Các đơn vị bộ đội làm nhiệm vụ bảo vệ, kéo ra bố trí dọc bờ đê và những lũy tre đầu làng, sẵn sàng liều chết ngăn chặn quân địch. Tiếng rú xe tăng địch vọng tới cơ quan Bộ Tổng chỉ huy. Nhưng quân địch đã dừng lại ở đê Mai Lĩnh.
Ngày 21 tháng Ba, cuộc tiến công lớn của địch tại mặt trận này bắt đầu. Qua ba tháng giao chiến, bộ chỉ huy Pháp đã hiểu được khá rõ lực lượng và trình độ tác chiến của bộ đội ta. Chúng cũng biết là nhiều cơ quan Chính phủ và Bộ Tổng chỉ huy quân đội Việt Nam còn ở những vùng nông thôn không xa Hà Nội. Trận tiến công này ngoài mục đích đánh phá những cơ sở kháng chiến, chúng còn muốn chộp bắt một số cơ quan đầu não.
Năm ngàn bộ binh địch cùng với nhiều xe tăng, tàu chiến và máy bay được huy động vào cuộc tiến công. Những tiểu đoàn của trung đoàn Thủ đô, từ Hà Nội rút ra, được bố trí ở khu vực Ba Thá, Chợ Bến, Chi Nê sẵn sàng phối hợp với bộ đội địa phương và dân quân đón đánh quân địch, bảo vệ các cơ sở của kháng chiến và những cơ quan Trung ương đang trên đường di chuyển. Sống giữa một vùng nông thôn bao la, trong vòng tay chăm sóc của đồng bào, các anh chiến sĩ Thủ đô không khỏi cảm thấy chủ quan, nhìn kẻ địch bằng nửa con mắt. nếu như ở giữa những đường phố chật hẹp, trong vòng vây, bốn phía, quân thù còn không làm gì được họ, thì giữa hậu phương rộng lớn này, có bộ đội bạn phối hợp, có sự đùm bọc của nhân dân, chống cự với những trận tiến công của quân địch chắc chẳng khó khăn gì! Họ chỉ lo lau chùi vũ khí, sẵn sàng nghênh chiến, mà không chú ý tới lời khuyên phải tích cực cùng dân quân phá hoại đường sá, ngăn bước tiến cơ giới địch.
Chỉ qua hơn một tuần chiến đấu, trung đoàn diệt được vài trăm tên địch nhưng cũng bị thiệt hại gấp mấy lần so với hai tháng trời chiến đấu tại Hà Nội giữa vòng vây. Họ thấy đánh địch không còn dễ dàng như trước. Họ nhận ra bao nhiêu nhược điểm của mình trong chiến đấu. Họ biết rằng không phải với lực lượng tập trung đông, mình có thể cản phá được những mũi dùi tiến công của quân địch. Cuộc kháng chiến đang bước vào một thời kỳ còn khó khăn hơn cả những ngày đầu.
Phong về bệnh xá được một ngày thì Trần Chương đưa hai người khách tới gặp. Một anh bộ đội lớn tuổi, cao và hơi gầy. Thoạt nhìn anh, Phong đã cảm thấy kính nể. Con người anh, từ chiếc mũ cứng bỏ quai ôm lấy chiếc cằm vuông, đôi môi mỏng hay mím lại thành một vệt thẳng hình chữ nhất, đến bộ quân phục, cái áo trấn thủ bạc màu, đôi giày đinh rút dây buộc rất cẩn thận... đều toát ra một sự nghiêm chỉnh, thẳng thắn. Người kia là một thanh niên, trạc tuổi Phong, thân hình bầu bĩnh, mặc com-lê màu ghi, chiếc sơ mi trắng bẻ cổ ra ngoài áo vét, khoác bên nách một chiếc xắc nhỏ bằng vải bạt. Người thanh niên có vẻ hiếu động, mắt hay nhìn quanh, chân tay không lúc nào yên.
Trần Chương không giới thiệu anh bộ đội lớn tuổi kia là ai, chỉ bảo Phong trả lời không phải e ngại tất cả những điều anh sẽ hỏi.
— Còn đây là... - Trần Chương quay về phía anh thanh niên - đồng chí Chiến Trường, phóng viên báo Cứu Quốc sẽ làm việc nhiều với đồng chí.
Chiến Trường chia tay bắt tay Phong với cái nheo mắt như có ý nói: "Cùng cánh học sinh chúng mình với nhau cả".
Người cán bộ lớn tuổi hỏi Phong đã tham gia tự vệ được bao lâu trước ngày nổ súng. Anh hơi ngạc nhiên khi biết Phong không phải là tự vệ. Anh lại hỏi trước đó Phong đã biết gì về sử dụng súng và lựu đạn chưa? Nghe Phong trả lời, anh nhè nhẹ lắc đầu. Anh tiếp tục hỏi Phong tỉ mỉ về từng trận đánh, vị trí, địa hình nơi xảy ra tác chiến và anh rất chú ý đến những hành động, những động tác chiến đấu cụ thể. Thỉnh thoảng anh quay lại phía Trần Chương gật gù hoặc nói đôi lời nhận xét. Những câu trả lời ngắn gọn của Phong có vẻ làm anh hài lòng.
Cuối cùng anh mỉm cười, nụ cười làm vẻ mặt nghiêm nghị của anh dịu lại, nói với Chương:
— Đánh kiểu này thì chưa huấn luyện vẫn đánh ngay được, mà nó rất khó tiêu diệt mình. Địch không có mục tiêu để dử dụng binh hỏa lực. Nếu tiếp tế lương thực, đạn dược đề, địch không dễ gì đẩy ta ra, trừ phi nó dùng bom đạn san cả Liên khu I thành bình địa... Trong trường hợp đó nếu có hầm ngầm thì vẫn chiến đấu được.
Anh nắm tay Phong, bàn tay của anh rất ấm.
— Tốt lắm! Tốt lắm. Cảm ơn đồng chí. Chúc đồng chí chóng bình phục để trở về chiến đấu. Đồng chí sẽ nói chuyện tỉ mỉ hơn với nhà báo, tôi chỉ hỏi đồng chí vài điều về quân sự thôi.
Anh định đứng dậy thì Chiến Trường hấp tấp:
— Xin tranh thủ hỏi anh một câu, như phỏng vấn anh.
— Chà, chà... tôi sợ nhà báo phỏng vấn. Cái gì nào?
— Báo chí phương Tây la rầm: Việt Minh phản bội, Việt Minh phá Hiệp định mồng 6 tháng 3, Việt Minh tiến công trước, Việt Minh tự lật mặt nạ... ý anh thế nào?
— Hừ... Vừa ăn cướp vừa la làng! Mọi việc đã rõ như ban ngày.
— Nhưng chúng nói là đêm 19 ta chủ động tiến công trước, chủ động làm nổ ra chiến tranh...?
— Nếu cứ bắn một phát súng mà nổ ra chiến tranh ngay thì chẳng phải chờ đến đêm 19. Quân Tưởng và quấnPhap bắn nhau ở Hà Nội bao lần, đánh nhau thực sự nửa ngày ở Hải Phòng, chiến tranh giữa chúng có nổ ra đâu! Chiến tranh giải có những nguyên nhân sâu xa của nó. Nguyên nhân chủ yếu là do Pháp muốn cướp nước ta một lần nữa. Ta chủ động phát động chiến tranh? Hừ...! Ai đánh chiếm Hải Phòng? Cả Bắc Bộ chỉ có một hải cảng: Chiếm Hải Phòng là nó chẹn vào yết hầu của ta. Tại Hà Nội, ai đánh phố Yên Ninh, Hàng Bún? Ai cướp sở Tài chính? Ai gửi tối hậu thư đòi nắm quyền trị an ở Hà Nội...? Thủ đô của mình. Chủ quyền của mình. Nó chiếm Hải Phòng rồi, lại để nó chiếm nốt Hà Nội ư?...
Anh bắt đầu nói to:
— Vậy thì ai phản bội? Ai tự lột mặt nạ? Ai xé Hiệp định? Ai đánh trước?
Anh chia tay bắt tay Chiến Trường, coi như đã trả lời xong, rồi cùng Trần Chương ra về.
Cuộc nói chuyện giữa Phong với Chiến Trường kéo dài suốt cả ngày. Chiến Trường đã tự giới thiệu mình đang chuẩn bị một thiên phóng sự về cuộc chiến đấutại Hà Nội với cái tên: "Hà Nội, Xta-lin grát của Việt Nam". Theo anh, Hà Nội đã nổi bật lên khắp năm châu qua cuộc chiến đấu vừa rồi. Cầm chân được đội quân thiện chiến nhất củ tướng Va-luy tại Thủ đô suốt hai tháng trời, là một việc phi thường. Tiêu biểu cho Hà Nội những ngày qua là trận đánh ở Liên khu I. Anh bảo Phong đã góp được sức mình vào kỳ tích của dân tộc. Anh đề nghị Phong cung cấp những tài liệu thật chi tiết vì anh chỉ ở vùng chung quanh, không tìm được cách nào lọt vào Liên khu.
Lần đầu. Phong thấy mình trở nên quan trọng. Anh mơ màng nghĩ đến lúc tên tuổi mình xuất hiện trên mặt báo, mình trở thành nổi tiếng. Nhưng đồng thời anh cũng băn khoăn vì thấy những việc mình làm chẳng có gì ghê gớm, hay là người ta đã lầm khi tìm đến mình.
Đồng chí phóng viên hào hứng ghi chép những lời Phong nói. Phong không bịa đặt thêm điều gì. Và chắc anh phóng viên cũng tin anh kể toàn sự thật, nhất là khi có thêm Lâm Khàn nằm bên, một người cũng đã có mặt trong trận đánh, thỉnh thoảng lại bổ sung thêm một vài chi tiết mà Phong quên hoặc nói chưa thật chính xác. Ví dụ như trong trận đánh ngôi nhà 17. Phong nói khi bò đến bờ hè đã lên tiếng gọi Lâm và Tú mấy lần nhưng không thậyho trả lời, thì Lâm nói hoàn toàn không nghe tiếng Phong gọi. Nấp sau xe kem, Lâm đã nhìn thấy Phong nhích lên từng phần trên mặt đường, rất muốn kéo Phong vào, nhưng anh biết nếu chạy ra thì cả hai người chắc chắn sẽ chết vì đạn từ trên gác bắn xuống.
Với trí nhớ và sự hiểu biết hạn chế của mình, Phong đã cố trả lời tất cả những câu hỏi đồng chí phóng viên đặt ra. Nhưng đồng chí phóng viên tỏ vẻ chưa hài lòng. Anh nói thực, mình thèm những trận đánh vang dội. Trong những trận đánh Phong đã kể, trừ trận tập kích nhà Moóc-li-e có một kết thúc khá đẹp mắt, còn các trận đánh khác rất khó viết, vì cuối cùng ta đều không tiêu diệt được vị trí địch...
Đồng chí phóng viên liếc mắt vào trang sổ tay đã mở sẵn còn để trắng rồi nói:
— Mình muốn viết một vài trận đánh thật kịch liệt ở ngay chiến lũy, ta ở trong, địch ở ngoài, địch dùng xe tăng, đại bác tiến công, ta giữ, đôi bên giằng co nhau...
Lâm sốt sắng:
— Có một trận như thế ở Hàng Hòm, nhưng không phải bọn tôi đánh. Nghe nói xe háp-tơ-rắc húc đổ chiến lũy của ta, nhưng khi nó tiến vào thì tự vệ từ trên gác ném chai xăng krếp xuống, xe bọc thép địch bốc cháy, thế là chiếc xe sau phải kéo chiếc xe cháy trở về, bộ binh địch không dám tiến vào nữa.
Đồng chí phóng viên nghe xong vẫn không lộ vẻ mặt phấn khởi:
— Mình thèm một trận mà các chiến sĩ ta bám chặt lấy chiến lũy, những tấm tà vẹt, những khúc gỗ bay lên nhưng bộ đội ta vẫn không lùi bước, cuối cùng ta vẫn giữ được chiến lũy, hoặc một trận đánh giáp lá cà trong hào giao thông thật quyết liệt, địch giành được, ta lại đánh bật địch ra.
Cả Phong và Lâm đều cố moi trong trí óc của mình nhưng không tìm được những trận như thế.
Đồng chí phóng viên lại hỏi:
— Mình đã được xem một bức ảnh khá tuyệt, một chiến sĩ Vệ quốc quần mặc áo trấn chủ, đội mũ sắt, tay cầm bom ba càng, quỳ một chân trước chiến lũy đổ nát trong tư thế sẵn sàng lao vào xe tăng địch..., mình muốn biết về trận đánh diễn ra sau đó...
— Chắc là người ta bố trí để chụp ảnh thôi! - Lâm nhận xét -Chúng tôi không đánh nhau như vậy.
— Nếu vậy thì các đồng chí bảo vệ chiến lũy như thế nào?
— Chúng tôi nấp trên mái nhà, trên gác, trên sân thượng, bắn vào địch khi thấy chúng tới. Bắn vài phát, lại chuyển qua chỗ khác, tiếp tục bắn. Nó tới thật gần mới ném lựu đạn. Kinh nghiệm là phải nấp ở chỗ bất ngờ, khi bắn rồi thì phải di chuyển thật nhanh.
— Sao các đồng chí không nấp ngay tại chiến lũy?
— Tây cũng tưởng chúng tôi ở đó. Nếu nấp ở đó thì chúng tôi chết hết rồi!
— Lạ thật! -Đồng chí phóng viên chép miệng - Không phải Commune de Paris , không phải Stalingrát, không phải guerre de barricades , cũng không phải guerre de tranchees ... Thế mà địch không làm gì được các đồng chí suốt hai tháng trời? Nếu quay phim các đồng chí thì thật khó! Mái nhà này một phát súng, căn gác kia một phát súng, chẳng có hình ảnh nào tập trung gây được ấn tượng mạnh mẽ, xứng đáng là trận ác chiến ở Thủ đô... Trận đánh ở chợ Đồng Xuân, lực lượng ta quá ít, tragiquequá! Không tiêu biểu. chỉ có trận đánh nhà Sauvagelà tạm được, có màu sắc Stalingrad...
— Bọn tôi đã kể hết với anh rồi.
Phong bắt đầu thấy nản vì biết mình không thể thỏa mãn yêu cầu của đồng chí phóng viên.
Chiến Trường mỉm cười, gập cuốn sổ lại:
— Câu chuyện giữa anh em mình hôm nay có thể tạm kết thúc. Phải nghiên cứu thêm về chiến thuật của các đồng chí. Tôi muốn dùng thiên phóng sự này để tuyên truyền rộng ra thế giới. Viết mà không đúng sách thì phương Tây nó không chịu. Nó sẽ đánh giá trình độ quân sự ta xoàng...
Khi đồng chí phóng viên đã ra về, Phong quay sang Lâm:
— Mình đã nói từ đầu với ông ấy mình không biết gì về quân sự... Tất nhiên là trình độ xoàng rồi!
— Vậy mà nếu không có lệnh trên gọi ra, với kiểu đánh ấm ớ như vậy, hàng tháng nữa chưa chắc thằng Tây đã làm gì nổi mình...
Phong hơi cụt hứng. Anh không còn hy vọng tên tuổi của mình sẽ xuất hiện trên mặt báo, mình sẽ trở thành nổi danh.
Mẹ Phong, hai em và Dung tới tìm Phong sau khi Luyến được trung đoàn cho về nhà thăm.
Người mẹ đứng lặng nhìn con, nhìn cái chân vẫn còn băng, đôi nạng gỗ đặt trên giường, nước mắt vòng quanh. Chú bé con ông bà Toàn Thịnh đã nhanh nhảu thuật lại mọi chuyện về Phong, kể cả chuyện Phong bị hàng chục vết thương, nhưng bà vẫn ngạc nhiên khi thấy chỉ sau hai tháng trời mà con mình đã quá đổi khác. Không phải vì nó bị thương, nó xanh xao, nó có thêm hàng ria xanh xanh, mà nó đã có một cái gì xa cách hơn với bà, nó không còn nằm trong vòng tay chăm sóc của bà, nó đã trở thành người của xã hội, của đất nước. Cái quyền lớn nhất của người mẹ đối với đứa con do mình rứt ruột đẻ ra là dồn cho nó mọi tình thương, chăm nom nó khi ốm đau, nếu cần có thể đem mạng sống của mình để giành lại mạng sống cho nó, hiện nay đã không còn. Sức khỏe của nó, cuộc sống của nó không còn thuộc về bà. Bà đã mất đi một cái gì rất thiêng liêng. Nó ngồi đây, nó đã từ cõi chết trở về với bà, nhưng nó không còn là đứa con của bà như ngày xưa...
Dung cũng đứng ngó anh chăm chăm với vẻ mặt ngỡ ngàng.
Phong đợi mẹ và cô gái ngồi xuống giường, rồi kéo vội đứa em nhỏ vào lòng. Anh cố gắng ghìm xúc động nói với mẹ:
— Con đang mong khỏi hẳn cái chân để về thăm mẹ...
Anh quay sang Dung:
— Em Luyến về nhà chắc gia đình rất mừng. Ông bà có khỏe không cô?
— Cậu mợ em vẫn khỏe.
Phong phải lảng tránh cặp mắt cô gái đang nhìn anh như trách móc.
Một lát sau, mẹ anh bắt đầu kể lể:
— Đi đâu mà không nói cho nhà biết! Con cứ bảo con đi vì việc nước, mẹ cũng không dám ngăn. Nếu ngày hôm sau vợ chồng anh Năm không ra thì mẹ không hiểu vì sao con không về. Mẹ biết anh Năm đã khuyên con nên ra mà con không chịu nghe. Cô vợ anh ấy kêu ngày kêu đêm vì lạc mất cô em. Con có gặp cô Mai đâu không?
— Cô Mai là y tá ở trung đoàn này. Mẹ báo tin cho vợ chồng anh Năm đến thăm.
— Họ kéo nhau vào Thanh Hóa rồi. Vào đâu Hậu Hiền. Anh Năm rủ ông bà Toàn Thịnh và mẹ cùng đi. Họ bảo chỉ vài ngày nữa là Pháp đánh ra đến nơi. Nhưng hai bác bên nhà rất gan, nói không sợ, cứ ở lại chờ tin các con...
Cả hai gia đình đã chuyển lên Vân Đình. Các em Phong khoe Vân Đình bây giờ cũng vui như Hà Nội. Rất nhiều người Hà Nội ra mở hàng quán. Người qua lại đông như hội. Mẹ anh lại tiếp tục nghề làm bánh đưa đi đặt ở các cửa hàng. Mẹ bảo Phong không phải lo cho kinh tế gia đình. Phong đoán mẹ nói như vậy nhằm an ủi mình.
Lát sau, mẹ Phong cùng với hai em Phong ra chợ, chuẩn bị bữa ăn trưa. Bà sẽ tìm một nhà đồng bào nhờ nấu cơm cả gia đình cùng ăn. Phong biết mẹ muốn tạo cơ hội cho anh và Dung nói chuyện.
— Tại sao anh giấu em? - Dung hỏi khi chỉ còn hai người ngồi với nhau.
— Có gì giấu Dung đâu!
— Anh chủ tâm về Hà Nội đánh nhau và không nói với em?
— Tôi không chủ tâm về Hà Nội đánh nhau. Tôi về tìm em Luyến. Tìm chưa thấy em, gặp lúc nổ súng thì tôi ở lại.
Mặt Dung tươi rói lên:
— Anh không nói dối em:
— Dung biết tôi không quen nói dối.
Dung nhoẻn miệng cười:
— Em cứ tưởng anh hẹn cô em bà Năm quay về để cùng đi chiến đấu với nhau.
— Sao Dung lại nghĩ đến chuyện đó! Nếu không phải tìm em Luyến, tôi đã không trở về Hà Nội.
— Em xin lỗi anh. Anh mà làm sao những ngày vừa rồi thì em ân hận suốt đời.
—Cũng không phải tại Dung...
Phong không biết nói gì thêm. Nếu bây giờ Dung gặng hỏi vì sao thì anh rất lúng túng, bởi vì câu chuyện quá dài, và anh chưa nghĩ ra có những điều gì không nên nói với Dung. Cũng may, Dung không hỏi gì thêm. Cô chỉ ngắm nhìn anh rồi nói:
— Em Luyến về nhà khen ngợi cậu giáo ghê lắm!
—Luyến có ở gần tôi đâu?
— Nhưng anh làm gì nó biết hết. Nó bảo em ở đại đội anh có một cô cứu thương rất đẹp.
— Chắc là em Luyến nói cô Mai.
— Cô ấy xinh lắm à?
— Hai chị em rất giống nhau.
— Bà Năm thì có gì là đẹp!
Phong biết Dung hơi ghen với cô gái đã ở gần mình trong thời gian qua. Lòng anh thanh thản. Cô không biết gì về chuyện anh với Kiều Oanh. Đó mới thực là chuyện khó nói. Nhưng ngày nay, đó cũng là chuyện đã qua rồi. Anh nhìn một con cò trắng vừa bay lên giữa cánh đồng xanh mênh mông. Cuộc gặp anh ít chờ đợi lại mang đến cho anh những phút giây ấm áp.
— Anh Phong! - Dung gọi giật.
Anh quay lại nhìn Dung thấy đôi mắt vui tươi của cô đang chờ đợi mình. Bộ mặt cô thật nhẹ nhàng, xinh xắn. Cô chớp mắt rồi nhìn xuống. Anh chỉ còn thấy đôi hàng mi rất dài.
Cô biết anh đang chờ đợi và lắng nghe điều mình sắp nói.
— Mợ em bảo... anh về nhà đi.
— Anh phải chờ khỏi chân.
— ở nhà sẽ tẩm bổ cho anh. Em Luyến về chuyện này...
Dung ngập ngừng rồi không nói nữa và chỉ mỉm cười.
Một lần nữa hạnh phúc lại ân cần mời mọc anh.
***
Hai ngày sau khi quân địch đánh ra, một toán quân Pháp thọc vào nơi anh ở. Chúng đến rất bất ngờ. Súng nổ ở đầu làng mọi người mới biết. Phong và Lâm cùng với những người ở chung một nhà vội chạy về phía vườn sauTrên đường ra cánh đồng, một hàng rào xương rồng đầy gai góc ngăn họ lại. Phong đã quên cả đôi chân đau, lao qua một quãng hở nhanh như một con thỏ. Những người đi sau bắt chước anh, đều bị gai cào rách quần áo, không hiểu anh làm cách nào để chui qua dễ dàng như vậy. Khi quân địch rút khỏi, họ quay trở về thấy làng xóm tan hoang, hai thương binh nặng không dịp đưa đi đã nằm chết trên vũng máu.
Sau mười hai ngày tiến công không đạt kết quả gì đáng kể, năm ngàn quân địch rút khỏi mặt trận Hà Đông - Phủ Lý - Hòa Bình. Trung đoàn Thủ đô nhận lệnh di chuyển lên phía bắc để trở thành một đơn vị chủ lực trực thuộc BộTổng chỉ huy. Biên chế của trung đoàn được chỉnh đốn lại cho phù hợp với nhiệm vụ tác chiến mới. Các nữ chiến sĩ làm công tác tuyên truyền, cứu thương, tiếp tế và những anh em thiếu sức khỏe được sắp xếp sang làm việc ở các ngành dân chính. Lâm đã hoàn toàn khỏi bệnh, xin quay trở về đơn vị cũ. Phong vẫn còn đau chân, chưa thể đi theo đơn vị trong một cuộc hành quân đường dài. Đồng chí phụ trách trạm khuyên Phong nên chuyển sang một bệnh viện dân y tiếp tục điều trị cùng với một số thương binh khác, hoặc có thể về tĩnh dưỡng ở gia đình ít lâu, khi khỏe mạnh hắn sẽ trở lại đơn vị. Anh nói riêng với Dung, (vì anh tưởng là vợ Phong), nên đón Phong về nhà chăm sóc. Không còn sự lựa chọn nào hơn, Phong đồng ý trở về với gia đình.
Phố huyện Vân Đình đã phục hồi nhanh chóng sau ngày quân địch rút. Những ngôi nhà bị quân địch đốt phá khi kéo qua, được dựng lại bằng nứa lá. Hàng quán lại mọc lên khắp hai bên đường. Chủ nhân hầu hết là những người tản cư từ Hà Nội ra. Họ bán tạp hóa, bán đồ giải khát, bán phở, mở cửa hàng may, cửa hàng cắt tóc, có cả những hiệu chụp ảnh. Rất nhiều tên hiệu gợi nhớ đến Hà Nội: Quán Thăng Long, quán Nhị Hà, phở dốc Hàng Kèn, bánh tôm Tây Hồ, vv. Người ta cố tạo một cảm giác như là tất cả những tinh hoa của Hà Nội đều chuyển hết về đây. Phong gặp lại một số người quen. Ông Mô-ka với bà vợ vẫn ăn mặc óng chuốt, đã mở một cửahàng mới sau khi bỏ lại toàn bộ cơ nghiệp ở Hà Nội. Ông tiếp tục bán cà phê và trưng trước ngôi nhà lá lụp xụp cái biển không khác mảy may với tấm biển ông đã dùng ở phố Thái Phiên. Anh Tám chữa xe đạp, trung đội trưởng trung đội tự vệ phố Nhà Thờ lớn cũng làm nghề cũ ở đây. Không hiểu anh thực tình không nhớ mặt Phong hay cố tình làm ra không quen biết, khi Phong chống đôi nạng tập tễnh đi qua.
Gia đình Phong và gia đình Dung ở trong làng.
Hàng ngày mẹ Phong làm bánh ngọt cho hai em Phong mang ra đặt ở những cửa hàng giải khát ngoài phố. Bà nhất định không để Phong nhúng tay vào những việcnày. Phong không để Phong nhúng tay vào những việc này. Phong không biết làm gì, đôi lúc cảm thấy bứt dứt vì mình đã trở nên một kẻ ăn bám trong gia đình.
Những giờ phút êm đềm nhất là khi Dung kiếm cớ này hoặc cớ khác chạy sang nhà, rồi ngồi lại với anh. Cô đã trút bỏ những chiéc áo dài nhiều màu, trở nên nền nã với chiếc áo cánh lụa nâu, làm tôn cái cổ ngó sen trắng ngần. Phong nhận thấy cô rất chân thật đối với mình và coi mình hoàn toàn như người trong gia đình. Cô kể với Phong mọi chuyện. Qua Dung, Phong biết Luyến nói sớm muộn rồi cũng bỏ nhà tiếp tục đi theo bộ đội. Ông Toàn Thịnh gần đây tính tình thay đổi, ông hay bắn gắn và có những khi ngồi đăm chiêu hàng giờ. Ông bà không còn ý hợp tâm đầu như xưa. Bà muốn bỏ ra ít vốn, mua hàng bán cho quân nhu, vừa được tiếng hăng hái đóng góp vào kháng chiến, vừa kiếm thêm tiền chi tiêu còn hơn ăn không ngồi rồi. Nhưng ông không nghe, ông không muốn cho bà làm gì trong lúc này. Những ngày địch đánh ra, bà Toàn Thịnh và cả nhà rất sợ, muốn theo mọi người chạy vào vùng núi đá; ở đó không có đường cái lớn, xe chở quân địch không qua lại được. Nhưng ông không chịu đi. Ông nói nơi nào người ta bỏ đi là chỗ đó an toàn, nơi nào người ta tới nhiều là chỗ không an toàn. Chuyến này, theo ông, quân Pháp sẽ lùng sục vào những nơi hiểm trở nhất, vì chúng biết là nơi ta hay ẩn nấp. Hôm quân Pháp kéo qua Vân Đình, cả nhà sợ xanh xám, nhưng ông Toàn Thịnh vẫn như không. Cũng may, quân Pháp chỉ qua phố, không sục vào trong làng... Dung hỏi ý kiến Phong có nên mở một quán bán tạp hóa ngoài phố. ý cô muốn tự lập dần dầnCô biết trước đây Phong thường giúp bố mẹ mình trong việc mua hàng, bán hàng. Phong đã hình dung ra một cuộc sống tạm ổn với một cửa hàng nhỏ ở phố huyện, và cô vợ chung thủy, tháo vát. Nhưng đó cũng là điều mà anh chưa muốn. Anh đã khuyên Dung cần chú ý đến lời ông Toàn Thịnh, chưa vội làm gì trong lúc này. Dung vui vẻ nghe theo anh. Dường như Dung tin anh bao giờ cũng suy nghĩ đúng hơn mình.
Ngược lại, Phong có nhiều điều giấu Dung, kể cả nỗi băn khoăn lớn đang giày vò anh trong cuộc sống hiện tại. Anh đang sống một cuộc sống quá êm ấm. Cuộc sống và gặm mòn cuộc đời anh dưới một mái nhà nhỏ họep. Anh sẽ không còn băn khoăn, lo lắng, cũng không còn cả những khát vọng, ước mơ. Những ngày qua, anh tưởng đã thoát được cuộc sống đó. Anh đã trút bỏ đi mọi lo toan, suy nghĩ vặt vãnh về sinh kế hàng ngày. Anh juôn luôn ở trong một trạng thái đấu tranh căng thẳng. Từng ngày, từng giờ nó đòi hỏi anh phải vượt lên phía trước. Cuộc sống đó làm anh gắn bó với mọi người. Anh sẵn sàng hy sinh tính mệnh vì mọi người. Mọi người cũng sẵn sàng hy sinh tính mệnh vì anh. Những tư tưởng, tình cảm đẹp đẽ đã kết họ lại với nhau. Ở đó, mọi người đều phải phấn đấu à đều tốt hơn lên. Nhìn bản thân anh, anh thấy rất rõ điều đó. Lần đầu, anh đã nghĩ về đất nước một cách rất cụ thể. Đất nước là những đường phố, những mái nhà, những hàng cây, một ô cửa sổ, một mảnh tường vỡ đang bị kẻ thù đe dọa chiếm đoạt mà anh sẵn sàng đem cả cuộc đời để bảo vệ. Lần đầu, anh đã nghĩ về đất nước một cách có trách nhiệm. Lần đầu, anh đã tìm thấy một ý nghĩa mới trong cuộc sống... Tất cả những thứ đó đang đe dọa rời bỏ anh từ khi anh quay trở về với gia đình. Những người đồng đội cũ có lẽ đã quên anh...