Hà Nội Rong Ruổi Quẩn Quanh

Lượt đọc: 99 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Từ ga xép... Khởi Hành

❊ ❊ ❊

Cẩm Giàng không hẳn là một ga xép. Nó là một thị trấn, huyện lị, trên bến dưới thuyền, chợ họp suốt ngày, có đường giao thông về các vùng xung quanh như Lang Tài, Gia Bình, Sặt, Thanh Miện v.v... có lúc có cả xe ngựa, ô tô chạy than, xe kéo tay.

Nhưng đời sống của nó chính là con đường xe lửa chạy qua, cái nhà ga tuy không bề thế, tuy chỉ một tầng nhưng là trung tâm cuộc sống.

Ga có sáu gian, thì hai gian làm nơi ở cho gia đình ông xếp ga, hai gian cho ông kí ga. Một gian là phòng chờ, chưa bao giờ có một cái ghế nào cho khách, chỉ có duy nhất một cái cân bàn to tướng, lâu ngày đen xỉn. Phòng chờ những lúc mở cửa, là có người ngồi bó gối, người nằm trong các góc, người đứng lố nhố chờ mua vé hay xem bảng giờ tàu. Một gian cạnh đấy là phòng làm việc của nhà ga, nào bàn đánh “dây thép”, giấy má ngổn ngang, cái máy đánh bằng ngón tay, kêu lên tạch tạch, hai cuộn giấy tròn chạy đi, chạy lại, ghi những gạch, những chấm, thành nỗi mơ ước khắc khoải khôn nguôi của nhiều trẻ em trong thị trấn, được nó mà chơi, mà dán đuôi diều thì không gì sướng bằng. Ở mấy góc, có đủ thứ, nào cờ xanh, cờ vàng, cờ đỏ, những chiếc đèn vuông, có kính xanh kính đỏ, mà chiều chiều ông bẻ ghi phải rót đầy dầu vào đấy, xách hai chiếc ra đầu ghi treo lên cột tín hiệu.

Một hình ảnh và âm thanh khó quên là cửa bán vé, có cái máy như một đứa trẻ con gù, vé trước khi bán qua cái lỗ cửa nhỏ gọi là “ghi xê”, nó được đưa vào máy kêu “cậm cành, cậm cành”, như tiếng một con chim gì không hề có ở trên đời. Khách cầm cái vé ấy ra cửa, ông kí ga có cái kìm bé tẹo bấm một cái, rơi ra viên giấy tròn. Có khách vội hay tay xách nách mang, ngậm vé vào môi, ông kí ga cũng với lấy chiếc vé, bấm kìm xong, ông lại trả vé vào môi khách, chả ai nghĩ đến chuyện nước bọt có dính ra không. Gian phòng làm việc ấy lúc nào cũng có việc làm để đón đưa những con tàu từ Hà Nội về, từ Hải Phòng đến, đỗ lại giây lát rồi lại ra đi.

Hình như là một điều tất yếu. Có con tàu là có nhà ga và lập tức kèm vào đấy là đủ loại hàng nước, quà bánh. Trong những gian nhà tranh, trên cái chõng, mấy cái mẹt hay cái ngăn gỗ có quai xách... Khách đến sân ga, ngồi trong phòng chờ, ra đường “ke” đều có hàng quà bánh mời mọc. Cả khi con tàu đỗ lại, hàng quà cũng ào vào cửa toa như những cơn lốc nhỏ cùng những tiếng rao ời ợi... nào nước vối, nước chè, bánh đậu xanh, giò chả, xôi nén và đủ loại thứ hoa quả, mía róc.

Tôi sinh ra và suốt tuổi thơ, tôi gắn bó với cái ga Cẩm Giàng ấy. Đối với tôi, nó rất to. Phòng chờ rộng mông mênh, nên không cần ghế. Tiếng máy bấm vé, tiếng chim kì dị ấy thật đáng yêu. Ông xếp ga lúc nào cũng quần áo chỉnh tề, đi giày, đội mũ, tay cầm cờ vàng, cờ xanh, tay cầm còi... oai vệ, đĩnh đạc, đường hoàng, cao sang thế. Bà xếp ga cũng vậy, quần là áo lượt, hình như bà còn đánh phấn, tô môi son. Các con ông bà ai cũng đẹp đẽ, sạch sẽ, khác hẳn bọn trẻ con nhà nghèo chúng tôi phải chui rào vào “ke” bán quà rong, mà dân ở đây gọi là bán “màn xế”.

Mấy ông kí ga cũng khoan thai, cao kì lắm, quần áo phẳng lì, thơm phức. Cả hai ông già gác ghi cũng thế, tuy là quần áo xanh có vẻ nghèo hơn, nhưng cũng có gì đó làm bọn trẻ chúng tôi kính phục, e ngại. Nhà ga là nơi có uy quyền to lớn. Con tàu mạnh đến thế, mà nhà ga cho nó chạy, bắt nó dừng, nó đều phải nghe theo. Bao nhiêu người trên tàu, đều phải theo con tàu, tức là phải theo lệnh của nhà ga chứ gì, kể cả những chiếc “ô tô ray” cửa kính sáng choang, rèm che phơ phất, sau cửa kính toàn những người sáng loá, quần áo thật đẹp...

Những con tàu thời đó, từ trước năm 1945, thường sơn đỏ, gió bụi đường dài làm xỉn đi, không rõ ra một màu gì. Toa khách có hai chiếc ghế dài chạy theo chiều dọc toa. Chỉ có một toa hạng nhất có ghế ngồi ngang, bọn trẻ bán rong cũng không dám đến gần toa ấy.

Chiếc đầu máy nào cũng phì phì nặng nhọc, có lúc nó xả hơi ầm ĩ, cái bánh đà quay tít nhưng vẫn đứng im một chỗ, có lúc nó kéo còi như gọi, như mời, như thúc giục, như kêu khát nước. Ông tài xế, ông xúc than, mặt mũi nhọ nhem còn đội cả cái khăn vuông lồng vào gáy mũ. Chiếc đầu tàu cổ có vẻ gầy guộc hơn, nồi xúp de bé hơn, cái ống khói dài hơn. Sau có loại tàu Quảng Sĩ trông khỏe hơn, hai bên phía trước có hai tấm che như áo giáp. Rồi có loại phải chạy củi thay cho than luyện, ống khói phun lên những tia lửa như hoa cà hoa cải, làm bọn trẻ rất thích nhưng người lớn sợ hãi vì rất dễ bị cháy nhà, nhất là nhà lợp rạ ở hai bên đường tàu.

Những con tàu đi, tàu về thường đỗ lại ga Cẩm Giàng khá lâu. Người ta cần đủ thì giờ để chuyển lên các toa hàng núi bao bạo, dó gạo, hàng trăm con lợn sống buộc nằm nghiêng, có dấu đóng bằng lửa còn mãi mùi khét của thịt da cháy, hàng trăm lồng gà vịt. Các ông “bắt tê”, ông nào cũng có chiếc khăn vuông trên đầu phủ xuống vai, khi nào các ông rũ khăn mới thấy ông xếp ga thổi hai tiếng còi ngắn cho con tàu chuyển bánh, đôi khi ông xếp thổi những tiếng còi từng đợt như báo “mau lên mau lên”...

Nhà ga có ba đường sắt cho tàu tránh nhau. Có lúc tưởng hai con trăn khổng lồ ấy sắp đâm sầm vào nhau, nhưng tài thật, ông gác ghi đã bẻ cái ghi cho chúng quặt sang hai đường, nằm kề nhau, thở ít hơi, rồi lát nữa lại mỗi con một ngả trên hai thanh ray mất hút chỗ đường vòng, để lại sân ga cảnh vắng teo, hiu hắt cho đến lúc sắp có con tàu sau.

Những lần có tàu tránh nhau như thế, thế nào ở đầu ghi cũng có hai tiếng pháo do ông gác ghi cặp vào đường ray, và bọn trẻ chúng tôi phải đi tìm bằng được vỏ pháo, là miếng sắt dẹt, y hệt như chiếc đồng hồ đeo tay nhưng to hơn, tiếc là nó không chạy được, không chỉ giờ, dù rằng nó cũng có hai quai, có thể đeo vào tay. Còn chiếc đồng hồ thật của nhà ga thì rất to, có quả lắc, có số La Mã, ngay cả các thầy giáo trường Kiêm Bị là trường của huyện, cũng thường phải ra đây so lại cho đúng giờ. Có lẽ cái gì thuộc về nhà ga đều là hoàn chỉnh, nghiêm trang, tuyệt vời, không sai bao giờ. Chắc thế.

Ở gần ga, có cái két nước cao lênh khênh, tiếng máy bơm quay tay do bốn người kéo, kêu ì ầm suốt ngày đêm để cấp nước cho những con tàu đến đây. Mỗi khi tàu cần lấy nước, thế nào nó cũng kêu lên hai tiếng còi một dài một ngắn ngay từ ngoài ghi. Phía đầu này nhà ga còn có cả một đống đa hộc, xếp vuông vức, là nơi nhiều phụ nữ nghèo quây cót ra một hai ngày, và khi từ đống đá ấy trở về, tay bồng đứa trẻ mới đẻ, mặt tươi như hoa. Thì ra là phong tục không muốn đẻ ở nhà mình. Đống đá ấy để năm này sang năm khác mà chả mất một hòn nào bao giờ. Cái gì của nhà ga cũng phải uy nghiêm, không một ai dám động chạm, tơ hào thì phải?

Tháng ba năm 1945, đảo chính Nhật - Pháp. Tàu không chạy. Nhà ga lạnh băng, vắng ngắt như nấm mồ, im lìm như đảo hoang. Cả dãy phố dài tối nào cũng le lói đủ loại đèn để bán hàng, để đợi tàu nay cũng tắt ngấm, lặng tờ chờ đợi. Tưởng như bóng tối từ lâu bị bắt nạt, nay mới được thể, ùa ra, phủ tấm chăn đen lên tất cả. Ai cũng nhớ đến tiếng con chim bấm vé “cậm cành, cậm cành”, không biết bao giờ mới lại có. Người ta hỏi nhau nếu không bao giờ có tàu chạy nữa thì nhà ga sẽ ra sao, cuộc sống sẽ ra sao. Không ai dám trả lời. Và đến lúc ấy mới thấy con tàu và nhà ga quan trọng với mọi người như thế nào, giống như hàng ngày có mẹ, ta tưởng bình thường, đến hôm không còn mẹ nữa, ta mới thấy mẹ quan trọng như thế nào đối với cả cuộc đời ta.

May sao, ít ngày sau, lại vang lên tiếng còi và con tàu lại xình xịch trở về. Mọi người hò reo như đón người thân, đón cả tiếng kình kình như âm nhạc từ chỗ nối ray phát ra, cả những toa đỏ toa đen, toa đĩa, cả màu cờ vàng cờ đỏ trên tàu phất chào lại nhà ga...

Con tàu đã mang hơi thở, sự sống cho bao người, từ toa chờ khách sơn đỏ, có hai dãy ghế dài, đến toa đen kín bưng, chở trâu bò, toa đĩa không mui chở đá, chở gỗ, có khi còn có vải bạt che kín bịt bùng chở gì bí mật ở trong. Ngọn đèn đỏ ở sau toa cuối, cả cái biển tròn màu đỏ thay cho ngọn đèn ấy... cũng thành niềm vui của bao người nhờ nhà ga, nhờ con tàu mà sống. Con tàu không im lặng, nó kêu, nó thở, nó hát ca bằng tiết tấu nhịp điệu riêng của nó, toát ra trên toàn thân con tàu, còn toát ra tiếng u u, i i ở những cột dây đồng gọi là cột dây thép, đi liền, đi song hành với đường tàu như duyên kiếp, không thể thiếu nhau...

*

* *

Phải nhiều năm sau này, từ một chú bé sinh ra và lớn dần lên ở cạnh nhà ga nhỏ bé ấy, tôi thành người có tuổi, tóc đã bạc phần nào, tôi mới hiểu thêm được con tàu, những chuyến xe lửa là thế nào, cần thiết cho cuộc sống của đất nước dựng xây ra sao.

Hà Nội, thành cái nhà quạt, tỏa ra những tia mặt trời, những tia dẻ quạt ra khắp miền đất nước. Ga Hà Nội thành niềm gắn bó đời tôi như bao điều khác, bao ngôi nhà, con đường, hàng cây khác của Hà Nội. Từ cái đồng hồ treo nghiêng nơi cửa ga để ai cũng nhìn thấy, cái đồng hồ treo thẳng bị bom Mỹ hủy hoại, từ ông trưởng ga mặc đồng phục, đội mũ kê pi, đến cô thư kí cắm cảu vừa bán vé vừa mắng khách, cô nữ thư kí ngày nay mặc áo dài hoa, má phấn, môi son, nói cười lịch sự, đưa khách ra ga, lên tàu đầy chân tình ấm áp, trên nhà ke có mái che, người ta đối với nhau như anh em... Hà Nội tỏa ra sức sống, đến Lào Cai có Apatit, có Sa Pa mơ mộng; đến Lạng Sơn có rừng hồi thơm ngát những hoàng hôn, có đường biên giới đi ra cùng thế giới; đến Hải Phòng có những ánh hải đăng cho con tàu trăm phương cặp bến, hàng đến, hàng đi náo nức lòng người; đến Thái Nguyên có quặng sắt, có gang thép cho hôm nay và mai sau, và tít tắp con đường gần hai nghìn cây số rộng dài suốt đất nước mà xương sống là dải Trường Sơn, đến với viên ngọc Viễn Đông nổi tiếng.

Tôi không phải chỉ còn niềm thèm khát màu áo vải tây vàng của ông xếp ga, thèm khát những con tàu ra đi không hẹn ngày trở lại, mà đã thành người lữ hành khắp nẻo đường dài đầy hấp dẫn ấy.

Từng có lần tàu đông, chật như nêm, phải đứng một chân suốt hàng mấy chục cây số để trở về Hà Nội, từng có lúc phải nhảy qua cửa sổ để vào toa, ngồi chung với lợn gà trong toa đen bằng cách trải tờ báo ra thay ghế. Cũng từng có lần phải chờ tàu trên một ga xép miền núi lúc đêm khuya, chỉ có tiếng con chim từ quy gọi bạn, tha thiết nao lòng, trong khi ánh đèn tù mù của người trực ban nhà ga lắc lư như hồn ma quái...

Những con tàu rít lên trên quãng đường cong và dốc dựng ở những Lang Thít, Đồng Mỏ còn ghê rợn hơn khi leo lên đèo Hải Vân quanh co, bên bờ vực thẳm, tưởng như chạm tay vào đá núi, chạm chân xuống nước biển xanh ngời bọt trắng. Và đường hầm âm u, réo lên khi con tàu lao qua, rít lên âm vang như từ một thế giới lạ lùng.

Tôi cũng đã trải qua thế nào là một nhà ga không có con tàu, để vui mừng hòa cái thân hình bé nhỏ hơn hạt cát của mình vào cái ồn ào tấp nập rộn rã, có cả xô bồ hỗn tạp của một nhà ga khi tiễn con tàu đi, lúc đón con tàu về ở những ga lớn nhất như Hàng Cỏ, Hòa Hưng, Hải Phòng, Đà Nẵng... Con tàu chợ chậm chạp nhưng thuận tiện cho người có việc, thân quen gần gũi một cách dân dã với người thường, con tàu vét, con tàu nhanh vừa, con tàu tốc hành... nó như chuyển máu đến những tế bào hẻo lánh xa xôi, chuyển đến niềm vui, tươi tắn...

Từ ngày con đường sắt xuyên Việt được phục hồi, đúng nó là hai sợi dây đàn bắc qua hàng vạn phím sắt, phím gỗ, để rung lên nhịp tơ lòng của miền Bắc gọi miền Nam, miền Nam chờ miền Bắc... Những phím đàn ấy là hòa âm của sum họp, chan hòa, của mong nhớ... Nó là tình gọi tình, thành phố gọi thành phố, làng quê vẫy làng quê, của núi gọi biển, biển hò hẹn núi, của tạo dựng lên tiếng gọi người...

Bước đầu, còn nhớ, chiếc bánh đà phải quay hơn ba ngày đêm mới từ nơi khởi hành đến ga cuối cùng. Khách mệt nhoài nhưng vẫn vui lòng. Cái ghế ngồi gỗ cứng xiết vào lưng. Cái đầu gối mỏi nhừ vì không có chỗ cho nó duỗi chốc lát. Cái đầu nặng chịch vì mất ngủ, vì chập chờn trong tiếng xóc lộng óc. Hàng quà như cố hữu, như anh em sinh đôi với con tàu, được dịp cũng hồi sinh theo, cứ ời ợi từ ga này sang ga khác. Cái cần đã có. Đó là được đi, được gặp, nên tạm bằng lòng như vậy, chấp nhận những phiền lòng, vất vả...

Anh bộ đội chiến đấu ở miền Nam về phép, mang theo con búp bê cứng đơ, bà mẹ già đi thăm đứa cháu nội chưa hề biết mặt, người chị đi tìm em, người cô tìm cháu... cứ thế, nên 76 giờ hay 72 giờ, chả cần, chả quản, mặc cho đồng ruộng núi non, sông ngòi lướt nhanh, lướt chậm qua cửa toa kia, mặc cho đêm xuống, trăng lên, sương mờ, nắng gắt... Chỉ cần niềm vui sướng đang dâng đầy lòng mình là đủ.

Chắc lúc ấy cũng nghĩ rằng cần phải nhanh hơn, tốt hơn, thuận tiện hơn, sạch sẽ hơn, văn minh hơn... Con tàu, với nhà ga đứng chơ vơ một mình, với đầu ghi bẻ qua bẻ lại, với cột điện tín song hành, với những cửa bán vé cũ mòn... nó như từ ngày xưa vốn thế và đến nay vẫn thế.

Vậy mà, lạ lùng thật đấy. Đã có con tàu 38 tiếng đồng hồ, Hà Nội đã gặp Sài Gòn. Chỉ một nửa thời gian so với trước. Nhưng vui hơn, đáng nói hơn là những người của “nhà tàu” đã hầu như hoàn toàn khác trước. Cô nhân viên phục vụ đưa khách đến tận ghế. Anh trưởng toa, ông trưởng tàu lúc lúc lại có mặt... xem khách có cần gì đột xuất. Bữa ăn đã tươm tất sạch sẽ, và tương đối ngon lành người kĩ ăn cũng có thể gật đầu. Bàn cờ tướng, cỗ bài tú lơ khơ, tờ báo cũng đã có mặt, làm khách tạm khuây nỗi đường xa. Chợt ùa về bao kỉ niệm từ cái ga Cẩm Giàng một thời xa ấy, nhà ga cũ kĩ, phòng đợi không ghế, hàng quà bánh í ới, ngọn đèn tù mù... mà thấy có điều gì đó vừa dâng lên trong lòng mình...

Con tàu mệt nhọc, tiếng pháo cho tàu tránh nhau... có lăn theo bánh con tàu đang lao nhanh về phía trước. Ba ngày thật ngắn trong một đời người, nhưng cũng dài xiết bao trong một cuộc hành trình đầy vất vả. Nay, khác lạ đến bất ngờ.

Vui từ phút khởi hành. Vui từ bước đầu tiên mua vé, lúc bước lên bậc gỗ cửa toa, lúc vào toa, lúc ngồi xuống hay ngả lưng trên chiếc giường mềm mại...

Những em bé sinh ra dọc con đường sắt... đã lớn lên, người này theo người nọ, họ có mặt ở khắp vùng đất nước. Những con tàu cũng đã lớn lên, đã lao đi khắp các vùng đất nước, như cái bánh đà ngày càng quay nhanh, dẫn con tàu tiến mãi.

Lá cờ xanh trong tay người trưởng ga, người trưởng tàu phất lên. Hồi còi cũng đã dóng dả. Nào con tàu của ta ơi, hãy mạnh mẽ lên đường.

1993

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.