(1) Miền Trung thời máy bay Mỹ chưa đánh phá (trước 1964) nhiều làng có chùa miếu thờ cửa bên trái (tức là thờ dọc).
Hình như có lần nghệ sĩ lão thành Phạm Văn Đôn sau khi thăm Lào về, có nhận xét: Hầu hết chùa chiền bên nước bạn đều thờ theo chiều dọc, khác hẳn Việt Nam chúng ta, đình chùa thờ theo chiều ngang.
Vậy mà Hà Nội có một ngôi đình cổ lại thờ theo chiều dọc, không hiểu có phải là ngôi đình duy nhất ở Việt Nam không?
Đình làng Yên Phụ, tương truyền xa xưa tọa lạc ở ven sông Hồng, khi con đê còn nằm sát mép nước. Sau vì sụt lở, đình được di chuyển vào trong đê, chỗ trường phổ thông Mạc Đĩnh Chi, phố Phó Đức Chính hiện nay, và cách đây - theo các cụ già địa phương kể lại - hơn ba trăm sáu mươi năm, đình được chuyển hẳn vào một doi đất bờ Hồ Tây, trông về phía nam, có gió trăng bát ngát, cho đến bây giờ.
Ngôi đình khá đồ sộ: Năm gian hai chái, và chiều ngang cũng có những hàng cột lớn chia đình thành bảy khoang nhỏ hơn. Đầu hồi phía ngoài là lưỡng long chầu nguyệt, cùng hai con phượng đứng bên cạnh điều rất ít khi gặp ở những ngôi đình khác.
Hàng cột lim to hơn người ôm, sau hơn ba thế kỉ đó, những vòm mái cong vút lên, đã mọt rỗng bên trong, làm ngôi đình bị xiêu vẹo, giột nát. Sau khi được công nhận là di tích văn hóa lịch sử, đình được trùng tu, cột được đổ xi măng cho đặc lại và chắc chắn, nay nếu gõ vào sẽ có âm thanh trầm đục vì có hai chất liệu khác nhau.
Yên Phụ, một làng cổ ven đô, nằm trên trục cửa ô Yên Hoa, nên làng cũng có tên là Yên Hoa, phía bắc kinh thành, nay ngoài làng Yên Phụ gốc, còn có một con đường mang tên Yên Phụ đi từ khách sạn Thắng Lợi qua đầu đường Thanh Niên về đến tận cầu Long Biên mới nhường đường cho phố Trần Nhật Duật.
Yên Phụ làng, chỉ là một làng nhỏ, vài nghìn dân, nằm ven hồ tây nên đất hẹp, một bên là con đê cao chắn tầm mắt, còn bên kia lại là mặt gương hồ mênh mang của hồ Dâm Đàm - hồ mù sương - Hồ Tây sương khói quanh năm như thơ, như mộng. Giữa làng là một mảnh ao chạy dài cong lượn, mặt ao xanh đen vì nước ô nhiễm của đời sống thị thành. Ao Vả đấy. Ao có tên ấy vì trước đây giữa ao có cái gò trên đó mọc một cây vả cổ thụ quả ngọt lừ đầy mật. Nay cây đã chết, đảo đã chìm, chỉ còn lại cái tên như một kỉ niệm của làng quê yêu dấu.
Đối diện với làng, qua đê là khu tập thể An Dương (xưa kia là đất làng Yên Phụ), còn từ đê muốn xuống làng, sẽ qua một con dốc đổ thoai thoải như sườn đồi, trước hết là một chiếc cổng xây bề thế, rồi con dốc sâu hút vào hai bên nhà, cứ theo dẻo đất ven hồ mà cong, mà lượn. Sẽ gặp những con người tuy mang danh Hà Nội nhưng lại mộc mạc, nâu sồng đang chăm chút những bể cá cảnh khổng lồ, hay đang phết màu làm giấy trang trí, thôi thì đủ màu: vàng, tím, xanh lơ, hồ thủy, xanh lục, cánh sen, hồng điều...
Điều đặc biệt, rất nhiều hộ có chiếc thuyền con, bởi nước hồ vào đến sân nhà, chiếc thuyền có thể dùng vào nhiều việc. Từ sân nhiều nhà có thể nhìn thấy bên kia là chùa Trấn Quốc, ngôi chùa cũng là của làng và là chùa của cả nước, từng là hành cung của chúa Trịnh, vua Lê; xa chút nữa là trường Bưởi, Thụy Khuê, có đền Động Cổ... trại Hàng Hoa.
Trở lại ngôi đình thờ dọc, ngôi đình đồ sộ nguy nga, mới sửa sang vàng son lộng lẫy, chỉ có hậu cung nằm ngang. Tại sao lại thờ dọc, hay tại thế đất, tại một tín điều nào? Các cụ trong làng cũng như tư liệu lịch sử không giải thích được. Trên bệ thờ ba chiếc ngai có ba vị tam thánh, ba bị thành hoàng làng.
Đó là Uy Linh Lang đại vương, Vương Đôi đại vương và Vương Ba đại vương. Vương Đôi và Vương Ba không ai tường tận tên họ và thành tích. Riêng Uy Linh Lang (không phải Linh Lang) thì truyền thuyết kể ngài là hoàng tử của Trần Thánh Tông và hoàng hậu Minh Đức. Hoàng hậu nằm mộng có người xưng là Linh Lang (Linh Lang thường chỉ chung năm mươi người con trai của Lạc Long Quân xưa kia đi mở mang bờ cõi) xin đầu thai; bà có mang mười bốn tháng mới sinh một cái bọc. Vua cho là ma quỷ, sai một cung nữ bỏ ra sông. Cung nữ mang cái bọc trong có hoàng tử, đến bến Nhật Chiêu, chỗ có bảy gốc gạo cổ thụ (Nhật Tân ngày nay), thương tình, bỏ đó chứ không ném cái bọc xuống sông. Đêm, từ cái bọc, có hào quang tỏa sáng và tiếng khóc cả xóm làng nghe rõ. Tiếng khóc còn vang vào trong cung. Nhà vua lấy làm lạ, cho đi tìm, thì đó là một cậu bé rất đĩnh ngộ. Lớn lên, cậu bé rất thông tuệ, học một biết mười. Nhưng đến năm mười tám tuổi, hoàng tử xin vua cha cho xuất gia đầu Phật. Sau, nước nhà có giặc, nhà sư đầu quân, tuyển mộ trai tráng, đánh trận nào thắng trận ấy có ngày thắng liền tám trận, nên được vua phong cho chức - hay tên - Uy Linh Lang. Năm ba mươi sáu tuổi, ngài tự nhiên không ốm đau mà hóa, chỉ xin được thờ phùng tại nơi làng Yên Phụ, bến sông này.
Như vậy Uy Linh Lang không phải là Linh Lang thờ tại đền Voi Phục và nhiều nơi khác.
Yên Phụ và đình làng Yên Phụ ở ngay sát nội thành, ngay bên bờ hồ Tây, một thắng cảnh nổi tiếng của Thăng Long, Hà Nội. Từ trung tâm, nơi Hồ Gươm đến đây chỉ vài chục phút xe đạp, năm phút xe hơi. Đình đã được xếp hạng, được trùng tu, có người trông nom chu đáo. Yên Phụ là một trong mấy nơi làm đẹp Thủ đô. Nghi Tàm, Tứ Liên, Quảng Bá, Nhật Tân, Ngọc Hà... góp hoa cây cảnh cho nội thành, thì Yên Phụ lại có tài riêng: nuôi cá cảnh. Bể cá gia đình phát triển, những con cá đủ màu trăm vẻ, những sinh vật cảnh nhỏ bé mà thần tiên ấy làm Hà Nội tươi mát biết bao nhiêu. Bác Vũ Xuân Tạo, một nghệ nhân nuôi cá cảnh cho biết: Nghệ thuật nuôi cá cảnh của Yên Phụ đã có từ lâu đời, hàng mấy trăm năm. Cá đã đến với Hà Nội, cá còn ra cả nước ngoài. Gia đình hiện nay cũng có thu nhập chủ yếu bằng nghề này, qua hàng chục cái bể xi măng to, chiếm hết khoảng sân rộng, trông ra mặt Hồ Tây, mà đối diện là chùa Trấn Quốc, nơi hàng năm, đám rước thần từ đình Yên Phụ sang chùa rồi lại rước từ chùa về đình, tất cả đều bằng thuyền, rẽ nước mà đi, trống chiêng vang trên mặt hồ, cờ xí phần phật tung bay trong sương hồ ngàn thuở...
Yên Phụ chưa giàu. Quỹ làng cũng còn nghèo, nhiều dân làng còn mong mỏi được trồng hoa sen ở ao chùa Trấn Quốc, gây quỹ cho chùa nhưng chủ yếu là để tăng thêm cảnh quan tươi đẹp, ngát thơm cho chùa, không ảnh hưởng gì đến việc nuôi cá của quốc doanh cả. Ngay Ao Vả, dân làng cũng mong được quản lí để nuôi cá, góp phần tu bổ thường xuyên cho các di tích và thắng cảnh của làng, một làng có tiềm năng du lịch khá lớn sau này.
Ngày lễ, ngày chủ nhật, người Hà Nội nào cũng có thể đến với Yên Phụ, tham quan đình Yên Phụ, ngôi đình bề thế, đặc biệt là thờ theo chiều dọc, để được chiêm ngưỡng một di tích hiếm có, và cũng là để gió sương Hồ Tây phả đầy tâm hồn, tiếp sức cho ngày hôm sau, tuần sau, tháng sau... Một nét văn hóa Thủ đô đáng quý, đáng yêu vậy.