Thật may mắn Hà Nội có một Hồ Gươm ngay giữa trung tâm, đã trở thành biểu trưng, thành niềm tự hào cho mỗi người Hà Nội. Nhưng Hà Nội còn một chợ Đồng Xuân, nói như Nguyễn Du tả hai nàng con gái: Thúy Kiều và Thúy Vân
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Nói đến Thủ đô, không thể không nói đến chợ Đồng Xuân. Và ai dù ở bốn phương trời có dịp về Hà Nôi, nếu chưa đi chợ Đồng Xuân thì coi như mới biết một phần nhỏ, một góc bé, hoặc chưa đến Hà Nội.
Cách đây trên trăm năm khi con sông Tô Lịch chưa bị lấp hết, người dân Kẻ Chợ vẫn thường tụ họp ở hai cái chợ nhỏ ngay bên bờ con sông “vừa trong vừa mát” ấy. Một, tại chỗ Đền Bạch Mã phường Hà Khẩu (Hàng Buồm nay), một nữa nơi bến và chùa Cầu Đông, chỗ chàng thư sinh Tú Uyên mua được bức tranh mà gặp nàng tiên Giáng Kiều từ trong

tranh bước ra tạo nên thiên tình sử (số 38b Hàng Đường nay). Hai cái chợ nhỏ họp ngay ngoài trời trên nền đất trống, bến thuyền tấp nập, làng xóm đông vui, đổi chác sản vật quanh vùng và cũng phong phú đủ loại của nơi từng là phồn hoa đô hội. Chợ còn họp lan sang đến Huyền Thiên (Hàng Khoai) cạnh đó.
Năm 1889, chính quyền thành phố của người Pháp dẹp mấy chợ này, dồn dân vào một cái chợ to hơn, là khu đất còn trống trải của phường Đồng Xuân, mái tranh, vách nứa, rào chắn cũng chỉ là tre cắm xung quanh, ai vào phải nộp thuế chợ, nên nhiều người cứ họp chợ ngay bên ngoài.
Năm 1890, tức là cách đây 106 năm, mới bắt đầu xây dựng 5 chiếc nhà cầu, dài 52 mét, khung sắt, mái tôn kẽm, cao 19 mét, có chồng diềm thông thoáng, chợ Đồng Xuân chính thức hóa là một chợ to nhất Hà Nội từ ngày ấy. Tường xây dần dần được dựng và củng cố. Có 3 cổng vào chợ và 2 ngách, một thông sang Hàng Khoai, một ngõ nhỏ hơn thông sang Hàng Chiếu. Cho đến khoảng dăm chục năm gần đây, chỗ chợ Bắc Qua còn có xưởng dệt “Lơ Pa giơ” (Le Page), sau xưởng dệt đóng cửa, thành sân đá bóng, và dần dần thành chợ, nhập vào với Đồng Xuân như ngày nay, rộng trên một vạn mét vuông.
Chợ Đồng Xuân đúng là thượng vàng hạ cám hiểu cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Tất cả sản vật quý hiếm, ngon lành của khắp bốn phương, các vùng đất nước, đều có mặt ở chợ Đồng Xuân, từ vải vóc, tơ lụa, gấm nhung, đến con cá lá rau, thủy sản tươi sống, con cua bể, thúng rươi, cho đến nấm hương, măng rừng, quả núi... và cũng giống như tất cả các chợ Việt Nam: Hàng quà. Một cầu chợ riêng cho hàng quà. Bún thang nổi tiếng của bà Ẩm, những xôi vò chè đường, những bánh cốm, xu xê, bánh trôi, bánh chay, cháo lòng tiết canh, bún ốc, bún riêu, bánh dày, bánh giò... cho đến thuốc lào Vĩnh Bảo, bát nước chè xanh, cũng nổi tiếng trong lành thơm thảo.
Các bà ngồi bán hàng tấm, hàng khô (còn gọi là “la ghim”, thoát ý tiếng Pháp Les lesgumes là rau), bà nào cũng béo đẹp nước da hơi cớm nắng có lẽ phần ít vận động, phần hay ăn quà ngon thay bữa trưa, phần nữa quanh năm ngồi trong chợ không mưa nắng, bà nào cũng nói năng khéo léo, mời chào đon đả, nhưng cũng nói thách và chua ngoa như bất cứ một bà ngồi bán hàng nào, nên nhiều người thường kháo nhau: Yêu nhất chợ Đồng Xuân nhưng cũng sợ nhất chợ Đồng Xuân. Không khéo thì “hớ” ngay, lại còn bị mắng...
Khoảng những năm năm mươi, trước cửa năm cầu chợ còn che chắn đủ thứ màn bằng vải xọc, cót, bao tải để đỡ nắng cho các cô mặt hoa da phấn ngồi trên hàng loạt quầy gỗ cao, bán thứ vàng Mỹ Kí. Tối đến, gầm quầy là nơi trú ngụ của hành khất, kẻ vô gia cư, dân bốc vác... Sau năm 1954, các quầy nhếch nhác này mới được dỡ bỏ.
Tết đến, chợ Đồng Xuân tấp nập khác thường. Các bà, các chị cần mua sắm gì, Đồng Xuân có hết. Nhưng thường cũng chỉ đến 5 giờ chiều là đóng cửa. Cân miến tẩu, kí lạp xường, chiếc giò lụa, hộp mứt sen, ít măng lưỡi lợn, nấm hương, mộc nhĩ, con cà cuống... cho chí vải vóc, tơ lụa, gấm nhung lộng lẫy... Các cụ ông cần giò thủy tiên về tỉa giọt, quả phật thủ Lạng Sơn, chậu cây cảnh, con chim khiếu, và trẻ em thích con cá vàng, chục pháo dây... cô gái nông dân mua bộ khuy bấm, ông phán già tìm mấy chiếc cầu, lão tiền phu bằng gốm để gắn lên hòn non bộ... Chợ Đồng Xuân đã làm thỏa mãn tất cả.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Chợ Đồng Xuân nằm trong Liên khu một. Ngày 11, 12, 13 tháng 2 năm 1947, Pháp ném bom dữ dội toàn khu vực để hôm sau huy động hơn 400 lính lê dương từ nhiều phía tấn công chợ, xe tăng, thiết giáp từ Bắc Qua, từ Hàng Giấy ầm ầm lao tới. Lực lượng vệ quốc quân và tự vệ chỉ có 2 tiểu đội, gồm 19 người dưới sự chỉ huy của đồng chí Thanh Trường đã chiến đấu suốt từ sáng đến chiều trong sự chênh lệch rất xa về vũ khí. Chỉ với gậy gộc, mã tấu và sau là dao bầu, phản thịt, chai lọ... nhưng quân Pháp để lại chiến trường hàng trăm xác chết da trắng, da đen mà không chiếm được chợ.
Cuối cùng các anh hi sinh gần hết mới chịu rút lui, để lại một trang vàng chói lọi về tinh thần yêu nước, và chiến đấu giữ gìn Hà Nội, một bên thô sơ nhỏ bé, một bên to lớn đầy đủ vũ khí...
Sau hòa bình (1954), chợ giữ nguyên dáng cũ với 5 cầu chợ. Mươi năm trước, chợ được xây lên 3 tầng, giữ lại một trụ và 3 bức tường trước mặt để làm kỉ niệm. Năm 1994 một đám cháy khủng khiếp đã tàn phá hoàn toàn chợ, gây thiệt hại lớn.
Nay, chợ Đồng Xuân đã được xây dựng lại, thiết kế và thi công đều được rút kinh nghiệm của lần xây trước, có đủ hệ thống thông thoáng, cứu hỏa, cầu thang ra phía ngoài... và cuối tháng 12, chợ Đồng Xuân sẽ họp bình thường, để giải tán chợ tạm Phùng Hưng, trả lại con phố cong có chiếc cầu cạn cuối vòm khá đẹp như cũ.
Hà Nội đã có hàng trăm chợ to nhỏ như Hàng Da, Cửa Nam, chợ Hôm, chợ Mơ, chợ Dừa, chợ Bưởi, chợ 19 tháng 12, chợ Ngã Tư Sở, v.v... và hàng loạt chợ xanh, chợ cóc. Nhưng chợ Đồng Xuân vẫn là đàn chị về mọi mặt. Có nhiều người tuổi đã cao nhưng mỗi năm vẫn đi chợ Đồng Xuân một vài lần, chẳng cần mua sắm, chỉ ghé vào ăn một món quà cho thức lên kỉ niệm thời còn trẻ mới yêu nhau, đi dạo chơi ngắm chợ...
Tháng 12 lại về, người Hà Nội lại nhớ đến những ngày kháng chiến mà những người chiến sĩ quyết từ chợ Đồng Xuân đã thay mặt cả Hà Nội, giết giặc bằng mọi thứ, mọi cách, bằng tinh thần bất tử của Hà Nội, của Việt Nam.
Chợ Đồng Xuân vẫn luôn là niềm thao thức trong lòng người Hà Nội. Vào chợ, mua sắm hay chỉ dạo chơi, vẫn khác hẳn đi quanh Bờ Hồ, trên đường Thanh Niên hay đến công viên Thủ Lệ... Nó thực sự vẫn là cái chợ mang đầy tính chất của cái chợ Việt Nam, dù là chợ to nhất Thủ đô. Nó là lịch sử cũng là hiện đại. Nó là kinh tế, nhưng cũng là văn hóa. Mong sao chợ mới Đồng Xuân sẽ buôn may bán đắt, ngày càng phát triển để nó là cái “dạ dày” của Hà Nội, là niềm ước mong của nhiều người chưa đến Hà Nội và cũng là đại diện cho tấp nập, tưng bừng của một Hà Nội không ngừng lớn lên!