Hà Nội Rong Ruổi Quẩn Quanh

Lượt đọc: 99 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đường Vua đi

❊ ❊ ❊

Tám chín thế kỉ kinh đô, một vùng làng cổ, lau sậy hoang vu với đầm hồ rau lúa, có con cáo trắng, rùa thiêng, trâu vàng, bạch mã, cả thần cây đa, ma cây gạo... rồi mọc lên thành quách lâu đài, thênh thang đình tạ mái cong cửa cuốn, đường quan ngựa trạm phi bay... từ rốn con rồng (Long Đỗ) có tường thành Đại La của một Luy Lâu tướng Cao Biền yểm bùa lẩy bẩy dậy non... mà con Rồng Vàng bay lên Cấm Thành uy nghiêm bí mật thâm cung. Hoàng Thành tấp nập ngựa voi, đô thành rộn ràng chợ búa, cánh võng xênh xang... qua thăng trầm mưa gió, những ghềnh thác lòng người, máu loang giặc giã, lửa loạn kiêu binh... cho Kinh Đô Đại Việt chỉ còn là trấn Bắc Thanh với đô thị nằm gọn phía trong sông, ngoài kia Mẹ Hồng Hà, Phú Lương, dòng Nhị lượn quanh đê quai vạc như cái vành tai, nên con sông mang tên ấy: Nhĩ Hà, chứng kiến bể dâu chìm nổi trải suốt thiên niên kỉ sắp tròn.

Những triều đại dấy lên, tồn tại, lụi tàn, xô nghiêng thế núi hình sông, bao minh quân, bạo chúa... Hẳn những Cửu Trùng, Bệ Ngọc Ngai cao ấy không thể suốt một đời chỉ ngồi im trên vàng son thâm u kín mít, mà phải bước vào đời sống dân gian, công cán hay vi hành bằng đôi hài xảo bện rơm hay đôi ủng đôi hài thêu vàng chạm ngọc.

Đường vua đi xuất hiện thế chăng?

Người con gái đứng tựa gốc cây lan, hái dâu hay cắt cỏ, dải yếm phất phơ, váy ba bức yêu kiều, ỡm ờ cất lên câu hát trữ tình trêu cợt:

Tay cầm bán nguyệt xênh xang

Một trăm thức cỏ lai hàng tay ta...

để nhà vua phải dừng kiệu, để con ngựa phải cúi đầu hí dài tức vó, để thớt voi phải cong vòi gầm lên câu mừng rỡ duyên ai. Con đường vua đi dẫn nàng Ý Lan về cung đã có những rặng cây truyền thống: Đông Hòe, Tây Liễu (còn dấu tích Hòe Nhai và Liễu Giai kia) chưa, hay mới chỉ có giang đầu, bến đá.

Nhà vua trẻ tuổi đa tình đầu mày cuối mắt. Cô trinh nữ thôn dân cũng long lanh đôi ngọc bồ câu đắm đuối. Đôi trai anh hùng, gái thuyền quyên sánh vai trên những con đường nào của một Thăng Long đầy những nhà tranh mái lá, đường đất gập ghềnh, đá củ đậu xước chân nghèo, ngõ quanh lầy lội?

Con chó mẹ và đàn chó con (Cẩu Mẫu, Cẩu Nhi) mang trên lưng chữ Vương tượng hình chạy từ thôn Cổ Pháp về làm ổ giữa Đại La, đã làm gì có quán bánh tôm trên đường Cố Ngự như một chiếc lô cốt bê tông giam gió lại, khóa mây trời vào cốt thép như ngày nay. Nhà vua đi ngựa hay bơi thuyền rồng, áo bào bay tung lên khi người giơ cánh tay thụng ra chỉ sóng mặt hồ Trúc Bạch để lập đền thờ, không quên ơn cả loài vật có công giúp đỡ thuở hàn vi, suốt một đời chỉ biết trung thành.

Những đời vua nào đã động lòng trắc ẩn tình xưa, một lần đến đây thăm lãnh cung, gặp lại người phi tần, cung nữ bất hạnh già nua, tạ tàn nhan sắc, phải tự trồng dâu dệt lấy tấm lụa trắng mà mặc bên gò Mỏ Phượng có rặng trúc la đà, có canh gà thổn thức, có tiếng xa quay như mưa thu rả rích bên những người đàn bà chỉ còn biết thở than:

Cái đêm hôm ấy đêm gì

Bóng dương lồng bóng trà mi trập trùng...

xa lắc xa lơ, nay chỉ còn là hư ảo mông lung khôn khuây. Nhà vua dừng lại chỗ nào, quắc mắt hay thở dài? Xót thương hay phủi tay tàn nhẫn? Để sau cùng mọc lên trên đường vua đi mấy trăm năm sau một nhà máy gạch lợm mùi khói, khiến mái chùa Trần Quốc phía hồ bên kia như lùn đi, lả xuống với Tây Hồ đầy những hoàng hôn...

Con đường từ Cấm Thành ra với mùa xuân tre lúa, thửa ruộng nào được đón chân vua lội xuống thả một đường cày tượng trưng mong phong đăng hòa cốc cho dân chúng? Tịch điền đã chìm khuất qua hàng nghìn vụ bão tố, lụt lội, hạn hán, trôi giạt dưới những móng nhà toàn xi măng sỏi đá có tầng hầm hay vẫn còn trên những trang sử biên niên nằm trong kho lưu trữ...

Vua là Con Trời - Thiên Tử nên vua cũng phải làm lễ tế trời lạy đất. Đàn Xã Đàn Tắc, Đàn Nam Giao còn phảng phất khói hương kia, ba bậc đất son già cao vọi. Vua đi, nào nhã nhạc phía trước, nào quần thần phía sau, nào voi ngựa dẹp đường, nào lễ tam sinh, vật phẩm thời trân khiêng gánh với rượu vò xôi ván. Đường vua đi từ bệ rồng đến Nam Giao phải qua nơi trai giới, phải thay xiêm y thường bằng lễ phục. Vua ghé vào hàng quán hay ngôi chùa mộc mạc cổ sơ để thay để đổi, cho ngày nay còn một phố Hòa Mã (mà nguyên là Đổi Mã), (mã là cái vỏ bề ngoài, tiếng cổ, như tốt mã, chứ không phải là mã - con ngựa như trên tấm bia Hạ Mã trước cửa hai bên Văn Miếu) đang ngập tràn hàng vải hàng lụa tân kì. Nếu nhà vua sống lại hẳn cũng choáng mắt không ngờ, khi thấy đàn bà con gái mặc váy, cưỡi bình bịch hếch lên, thay cho hình dáng người thục nữ ngồi xếp chân tẽ sen ướp trà trong cảnh khẽ khàng nửa tối, nửa sáng qua cửa tò vò, vào thưa ra gửi như tiếng hát.

Đàn Nam Giao được vua đặt những bước chân, cúi đầu, châm lên bó nhang thiêng xin đất trời chứng kiến lòng thành... đã bị san bằng biến thành nhà máy diêm, nơi xòa ra tia lửa, những tia lửa đời thường chúng dân và đốt lên thành lợi nhuận cho cái két người nước ngoài. Thời gian vần chuyển, nó thành nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo (cũng chẳng biết cơ khí và Đức Thánh Trần có liên quan gì với nhau không, chắc Tiết Chế Quốc Công Trần Quốc Tuấn chưa hề biết đến cái máy bơm hay trục bánh xe tàu hỏa). Cũng có luyện gang nung sắt, làm ra máy nọ guồng kia nhưng dăm bảy năm nay nó thoi thóp chỉ còn thấy ba bề bốn bên vây quanh bằng những quán bia tươi, bia héo, đầy những nộm chua mực nướng, môi uống, miệng tu. Con đường vua đi qua mấy trăm năm, đã tàng hình vào hiện đại, bên kia đường nhựa, khuôn viên ngôi chùa làng Vân, làng Hồ có xá lị hay không có xá lị chỉ còn xào xạc lá chuối những đêm trăng...

Thương cho một ông vua nhà Lý trên con đường đi vào cõi tịch mịch khôn cùng, con đường uất hận, phải chui qua khuôn cửa đục xuyên tường, mà người con gái non nớt mới tám tuổi đầu không cứu nổi vua cha, đành cam phận nghe câu nói nào: “Nhổ cỏ phải nhổ cho sạch rễ” cùng với tiếng sập hầm trong bữa yến, đời sau như còn nghe lẫn vào nhịp xe lửa rầm rầm chạy trên phố Cổng Đục hẹp một sải tay, giống như đường thôn Bát Tràng, hay Thổ Hà ghép bằng tiểu sành gốm vỡ.

Sông Hồng cuồn cuộn từng đổi dòng, bao nhiêu sóng nước đổ vào biển Đông xanh biếc, Hồ Tây là con đẻ của dòng sông. Bờ kia, ngôi đền Đồng Cổ, mùng 4 Tết, vua quan làm lễ thề nguyền. Đường vua đi đến đền thuở ấy còn chưa có chùa Châu Lâm, nơi giam giữ tù binh, chưa có làng Bưởi, trường Bưởi, khi tiếng trống đồng vang lên rằng: “Ai không trung thành thì trời tru đất triệt...” Vua đứng ngồi ra sao? Trên đường về, trời đất đầy xuân, không gian đầy tết, ai quỳ xuống không dám nhìn thẳng “mặt rồng”?

Hưng thịnh tồn vong. Một thời nào. Vua và Thái Thượng Hoàng phải ra bến sông lên thuyền rút khỏi đế đô tránh thế giặc đang cuồng, chờ lúc giặc mỏi, ta nhàn mới theo kế hoạch của Hưng Đạo Đại Vương mà thu lại giang sơn. Cảnh ấy thế nào? Tản cư, sơ tán? Lếch thếch bầu đoàn, ngựa xe xộc xệch, tay nải quang gánh... có thể đã là diễn lại mấy trăm năm sau khi tiếng thần công làng Láng nổ giòn đêm tháng Chạp 1946 hay trận Điện Biên Phủ trên không tháng Chạp 1972. Con ngựa nào phi về hướng Nam trên đường thiên lí chở theo ai, còn Hưng Đạo Đại Vương chặn thù, rút ra bến Đông Bộ Đầu có người tì tướng trung thành Yết Kiêu cắm sào chờ đợi chủ tướng của mình suốt đêm sương giá. Con đường vua phải ra đi là để trở về, vượt những rừng mai nở, những Hồng Mai, Hoàng Mai, Bạch Mai, Thanh Mai, Mai Động, đến giờ lại lưu giữ hình hài người anh hùng mới: Hoàng Văn Thụ, có tên tuổi một nữ chiến sĩ Minh Khai, một tiếng yêu nước Trương Định...

Điện Diên Hồng nằm ở đâu? Mong sao có ngày nhà khảo cổ tìm ra nền điện, nơi bô lão tay chống gậy trúc, thắt lưng đeo bầu rượu, tóc trắng bông, quần áo đỏ, nước da lam lũ ruộng đồng cùng hô câu “Quyết đánh” khiến sau mấy trăm năm cũng trên miền đất này, câu ấy biến thành chân lí: Thà chết chứ không làm nô lệ.

Sông Nhĩ cứ trôi, qua bến Chương Dương, qua cửa Hàm Tử, vượt ngôi đền Đa Hòa thờ đôi trai gái yêu nhau trong tình cờ số mệnh nàng là công chúa rong chơi, chàng là dân chài không tấc vải che thân, có lẽ đó là ngôi đền duy nhất không thờ danh tướng lương thần mà lại thờ một tình yêu.

Những con đường vua đi, nay dân thường chúng ta qua lại. Hình như mỗi bước chân ta đều chạm vào lịch sử từ bờ đê cỏ may đến một gương ao, một hàng tre, một bóng nhà, viên sỏi... Vua hẳn từng đến Văn Miếu nghe bình văn, ra phía tây kinh thành xem giảng võ. Từng có một cái Đấu Đong trên bờ sông Tô Lịch chỉ mới lặn vào hư vô vài chục năm nay, đáng tiếc cho một di tích lịch sử. Đó là những lúc nào “Nửa đêm truyền hịch” không đếm xuể số quân, phải dồn vào từng đấu mà đong người, rồi cộng lại, nhân lên. Đó là những người lính chân đất, áo nẹp xanh nẹp đỏ, nón dấu, xà cạp quấn chân, tay giáo gươm, họ chết vì nước, ra đi trong tiếng gà mờ sương, qua chiếc Đấu Đong người, vào trận. Con đường từ Cầu Giấy lên Chợ Bưởi ấy nay chỉ toàn bán tre vầu, nứa lá bộn bề.

Chợt thức lại câu đồng dao náo nức nghe như nhịp vó câu nhạc ngựa, nhịp quân đi: “Nhong nhong ngựa Ông đã về, cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa Ông ăn...”

Cái lầu cao chót vót, lên đó bằng thang tre, bốn cột hay sáu cột? Phía dưới là Sao Khuê Nguyễn Trãi, tầng trên là Ông, là Bình Định Vương Lê Lợi.

Lê Thái Tổ. Người ngồi dưới tìm mưu lược, lo từ hàn. Ông phía trên nhìn vào thành xem động tĩnh quân giặc. Cố đô là của ta, có những con đường các bậc tiên đế từng qua, không thể để quân thù lộng hành tác quái. Con ngựa của Ông buộc gần đâu đây mặc sức nhai những bó cỏ ngon do dân dâng tặng. Gia Lâm, Ái Mỗ đây chăng, xa phía trên là ngã ba sông Đuống, xuôi xuống dưới là Vĩnh Tuy, Thanh Trì, ta cứ ngỡ bước chân mình vừa đặt khít lên bước chân vua xưa vương lại.

Khi nhà vua bước lên con thuyền để luyện quân hội tướng, thuyền vua lướt đi trên mặt sóng hồ Lục Thủy, Tả Vọng, Hữu Vọng, Thủy Quân sao có thần Rùa nổi lên nhận kiếm về hồ để thành huyền thoại Hồ Hoàn Kiếm nghìn đời. Hẳn là vua phải bước xuống thuyền từ một bậc đá xanh nào hay một mô đất ngọn cỏ nào bên mép nước, chỗ ấy là đâu? Chỗ cây lộc vừng hay cây gạo, chỗ đời sau Thần Siêu đã đắp lên Tháp Bút Đài Nghiên, bắc cầu son như chiếc lược hồng ngọc... hay cũng là chỗ Thủy Tạ mà gần đây người ta hủy cả di tích nơi Bác Hồ làm việc, bán đất cho nước ngoài làm hàng ăn, quán ngủ gọi là Khách sạn Vàng, không hiểu vàng thật hay vàng Mỹ Kí, vàng do hoa lá tạo ra hay chỉ là một thứ màu gì đó...

Ngõ Huy Văn sinh ra ông vua thi sĩ Thánh Tông. Cậu bé hoàng tử ấy đùa chơi cùng bao đứa trẻ có tóc trái đào, cun cút, những con nhà nghèo chân đất áo thô, sao mà giống trước kia cậu bé Linh Lang vật nhau xuýt thua thì nhà vua bật lên câu nói “Con ta đấy”, khiến cậu bé cởi trần đen trùi trũi xuýt thắng, phải bỏ chạy, còn bé xuýt thua được chính thức công nhận là hoàng tử, còn đền thờ gọi là Voi Phục trên đất làng Thủ Lệ.

Nay, nơi ngõ sinh ra con vua, nơi đền thờ Mẹ vua, dân thường ta trú ngụ, dạo chơi, làm ăn tần tảo hay nghe chim hót vượn kêu, ngắm trăng sân thượng bồng bềnh hoặc thả thuyền vào hồ dài thơ mộng...

Thời gian quả là phép lạ. Vận nước và mệnh người cho ta được đổi đời, không còn phải đóng chặt cửa, quỳ rạp trên đường vua đi, mà cứ phơi phới thanh xuân, tưng bừng nhạc hội, ngửng cao đầu cùng với Thủ đô, ngang hàng với mọi địa danh trên hoàn vũ.

Xuôi Nam hay ngược Bắc ta còn nghe thấy gió bay cờ của người anh hùng áo vải cờ đào, qua Hà Nội, Ngọc Hồi bằng thế chẻ tre, ngói tan chớp giật, sấm vang để áo bào đầu voi xạm khói lửa ngày khai hạ giữa đô thành. Chỗ cầu Chương Dương bốn làn xe rộng tự ta thiết kế thi công có phải là chỗ chùm lên cầu phao Tôn Sĩ Nghị gãy chìm? Cũng cứ bâng quơ mà hỏi chỗ nào là chỗ Công chúa Ngọc Hân mười sau tuổi làm lễ tơ hồng vu quy, còn ông vua ngoài ba mươi tuổi không ngờ lại được làm chủ một kho báu Bắc Hà: Vừa cành vàng lá ngọc vừa nữ thi sĩ tài hoa. Sau này, chính nàng đã khóc chồng bằng bài thơ “Ai tư vãn” khiến nghìn đời sau còn thổn thức, cảm thương...

Đường vua đi nay dân chúng thường đi. Không thể ghi hết được nhìn năm bao nhiêu gót giày trên đất kinh thành uy phong và tài tử. Hà Nội của mình đây. Ta chẳng ước mơ mà cũng chẳng thể nào được làm vua (dù nhất dạ) nhưng ta đang được đi trên những con đường vua đi, trên đất kinh thành nay là Thủ đô của nước Việt Nam hoàn toàn đổi khác. Trong bước chúng ta, ai làm cho con đường thêm đẹp, ai thì ngược lại? Cứ tự suy ngẫm mà xem.

Thời gian tích lũy lại không phải bằng những tấm lịch đầy mạng nhện mà bằng sự hun nóng cho than đá hóa kim cương, bằng những vòng tròn thớ gỗ trong cây mà mỗi mùa xuân tích lũy tưng bừng, mỗi thu đổ lá vàng thương nhớ...

Ta đứng dưới bóng mát hàng muỗm cổ thụ đền Quán Thánh, ta bước lên bậc xây chùa Diên Hựu (tên chữ của chùa Một Cột) ta tự tĩnh lặng trong ngõ Tràng An, ta sờ tay vào lưng con rồng đá mát lạnh nơi xưa là Điện Kính Thiên, ta vào chợ Cửa Nam xưa là cửa Đại Hưng, nơi cửa thành niêm yết các lệnh nhà vua hay quan Phủ Doãn. Ta đi trên đường vua đi, cảm thấy lâng lâng được sinh ra, lớn lớn trong kỉ đại đầy tiếp nối.

Đường đã khác xưa nhiều, nhưng vẫn là nằm trên cái nền mờ tỏ của bao đời tạo dựng. Xưa là vua nay là ta.

Trời chứ chuyển gió. Màu cờ đã mới như thân ta đã mới. Nhưng có lẽ từ sâu thẳm, hồn ta vẫn Việt Nam, như vua xưa ta nay vẫn chung nhịp rung động trên suốt những dặm dài non nước.

Rồi nghìn năm sau nữa sẽ có ai đó nghĩ như ta nay, bởi nghìn năm trước những ai từng đi trên những con đường lúc đó họ đang đi và để lại đến nay cho ta đi.

Cũng chưa biết thế nào, những con đường xưa vua đi và nay là chúng ta đi.

Tháng 8/1996

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.