Hà Nội Rong Ruổi Quẩn Quanh

Lượt đọc: 99 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Hồ Tâygương mặt mĩ nhân

❊ ❊ ❊

Vòng quanh Hồ Gươm chắc nhiều người đã dạo. Ta còn có thể nhớ trên cái vòng gần hai nghìn thước ấy có mấy tên phố, có bao nhà cao, có mấy cây lộc vừng, mấy gốc hoa vông đỏ, và hai cây gạo mọc ở chỗ nào, bốn cây gỗ tếch cổ thụ ra sao, hai cây sung quặn mình cho quả không ai thèm nhặt, và hôm nào hoa sưa một trời trắng muốt, cây đa vươn mình soi gương vào sóng ra sao...

Còn Hồ Tây, con hồ trên 535 mẫu tây, một vòng hồ dài mười bảy cây số, một đời làm dân Hà Nội, Việt Nam, ta đã vòng chưa? Phải chăng vì ta bận bịu mà lãng quên tình hồ, hay hồ quá xa, quá rộng lại chưa có một con đường như Lê Thái Tổ, Đinh Tiên Hoàng nên ít cùng nhau gặp gỡ tri âm?

Con hồ từng mang nhiều tên như nhà thơ có nhiều bút danh, vẫn là gương mặt giai nhân nghìn năm lung linh cho bao thế hệ dân thường cùng tao nhân mặc khách gửi lòng mình niềm yêu mến thân thương. Dâm Đàm - hồ mù sương, lúc nào cũng như tấm khăn voan choàng niềm bí ẩn của đôi mắt lá đào và đôi má lông tơ con gái ta tơ tưởng. Lãng Bạc - những con sóng trắng bạc đầu đấy ư, dù hồ có bao giờ biết năm tháng tuổi tác. Con cáo trắng đào hang trong lòng hồ sâu từ một thước rưỡi đến hai ba thước mà thành tên Hồ Cáo, cho đến Đoái Hồ, Tây Hồ, những cái tên như luyến tiếc, như dư ba thắng cảnh, như khêu gợi lãng du cho đến bây giờ, ta gọi Hồ Tây dân dã.

Chân ta ơi, nào hãy lên đường làm cuộc giang hồ vặt, bắt đầu từ vườn hoa Lý Tự Trọng cửa đền Quán Thánh vào phố Thụy Khuê. Trường Bưởi đây, một lớp nhân tài hun đúc từ 90 năm trước, trên cái nền của Châu Lâm Tự, nơi những người tù phương Nam được phép cư ngụ, sau khi về nước, họ bỏ lại ngôi chùa hoang vắng mà thành cái câu ngạn ngữ “vắng như chùa Bà Đanh”, chìm vào lòng sâu Hà Nội.

Con đường Thụy Khuê có ngôi nhà của những toa tàu điện leng keng nỗi nhớ một thời dẫn đến làng Hồ Khẩu Nghĩa Đô làm giấy bản, giấy moi, giấy lệnh, giấy sắc. Còn đây có giếng thơi trong vắt dưới bóng đa cổ thụ kề chợ Bưởi, thành giếng hằn vết dây gầu như tạc nét thời gian mà chị ta gánh nước tự bao giờ. Dọc theo Thụy Khuê là con sông Tô Lịch trữ tình của ca dao Hà Nội, chỉ còn là con lạch với lò nấu cây dó hắc mùi vôi, vang tiếng giã đêm đêm cầm canh cho tiếng vạc, tiếng tre trúc tiễn gió đi.

Con đường Lạc Long Quân dằng dặc, qua bao thôn làng của một kinh thành dâu bể, nào Đông Thái, Võng Thị, Trích Sài, Xuân La, Xuân Đỉnh như còn bóng cái chợ bán lưới, người hái củi và những cây hồng xiêm ngọt lự la đà mới nhập đã bén rễ đất lành...

Người bạn phương trời ơi, đất dinh đào Quảng Bá lại một lần rực rỡ, sao người không về cùng ta như có lần ta chạm tóc nhau làm hoa đào rụng cánh, rắc xuống vai như chen lời tâm sự?

Mỗi năm có bao nhiêu vạn cành đào ra đi từ dinh đào này, đem niềm vui cho Thăng Long, cho Hà Nội, cho Việt Nam, cả Sài Gòn, Hồng Kông, cả người sum vầy hạnh phúc lẫn kẻ cô đơn lấy hoa đào làm xuân thay rượu, cả người thích nồng nàn đào bích đến thanh lịch đào phai, đến ông già đón xuân bằng đào thế mỗi năm mỗi khác.

Ta lội xuống những luống đào để làm một Từ Thức có Thiên Thai, ta sẽ sang khu vườn ươm cũng liền kề nhưng đã là đất thôn Phú Thượng, nơi phục hồi sức khỏe cho cây trước khi chúng được vào Lăng và vườn Bác vĩnh viễn niềm hạnh phúc.

Ngã ba đê sông Hồng, Nhật Tân còn đó. Vẫn là hoa với hoa, tình chen tình, người Hà Nội đã không còn thỏa mãn với chợ Hoa Hàng Lược nên rồng rắn lên đây thành hội tìm hoa.

Mai vàng cũng đã ra đất Bắc, còn quất trĩu trịt la đà thì từ quãng này đến Nghi Tàm, Tứ Tổng, Tứ Liên chắc không máy tính nào đếm hết. Ai bảo quả không thay được hoa? Quất là thịnh vượng, là ước muốn kết tinh hiệu quả, không kể có cây tứ quý, ngũ quý gồm lá xanh, quả vàng, quả xanh, hoa trắng, nụ trốn trong kẽ lá chưa vội chào xuân.

Ta đã về đến Yên Phụ rồi người ạ. Cửa ô Yên Hoa một thời xa, nay mỗi tết thành con sông trên cạn cho hoa chảy thành thác lũ, vào thành phố. Được chen giữa chốn này, ta như lạc vào cuộc thi hoa hậu toàn cái đẹp bốn xung quanh. Nếu Nghi Tàm bên cạnh nghề trồng quất còn thêm nghề cây cảnh, cây thế, tạo cái đẹp bốn mùa, có ngôi chùa Kim Liên từ thời Lý, đang có những quán cá Hồ Tây từ nem rán, cuốn nướng đến cháo ám ngọt thơm hấp, xào ngũ vị, thập cẩm, từ nghiêm trang đến ôm ấp, thì Yên Phụ lại có nghề cá cảnh và làm giấy màu xanh, đỏ, tím vàng. Cá cảnh một thời huy hoàng, như những ngọn lửa bơi trong nước, rập rờn cái đuôi như dải lụa nàng văn công sân khấu, nó là hoa nở trong bể cạn có hòn non bộ sơn thủy hữu tình với ngôi chùa bằng ngón tay, người tiền phu, ông Lã Vọng, chiếc cầu... tất cả đều thu nhỏ để bắc vào tưởng tượng sau bao năm tháng phiêu bạt của người chơi nó.

Ngoài đê là An Dương, là sông Hồng tuôn mạch, là ngoại ô vi vút gió bãi trăng ngàn. Năm 1947, Trung đoàn Thủ đô qua đây ra kháng chiến, năm 1972 chiến tranh Mỹ hủy diệt, bao người Hà Nội thành hồn nước Thăng Long... Nơi đây có nhà văn Ngọc Giao cư ngụ, có nữ sĩ Ngân Giang mở quán bán trà lui xuống phía dưới chút ít. Làng Yên Phụ có căn nhà mà Thạch Lam sống và chết, cạnh ngôi đình thờ theo chiều dọc khác hẳn mọi ngôi đình khác ở Việt Nam, còn đó.

Ngã ba Yên Phụ, một thời nhức nhối vết thương xây dựng lấn đê, nay thông thoáng. Rời làng Yên Phụ nhưng ta lại gặp phố Yên Phụ là hai đơn vị hoàn toàn khác nhau, nhưng ta sẽ xuống con đường kì diệu Cổ Ngư, con đường rợp bóng phượng mùa hè, tím hoa ban sang xuân, con đường như dải lan can con tàu không bao giờ đắm, nằm mơ màng giữa hai hồ nước.

Nguyên đây là con đập nhỏ bằng đất do người các thôn ven hồ đắp để tiện qua lại mà bắt cá, năm nào cũng lở, năm nào cũng phải đắp bồi cho vững, nên có tên là Cố Ngự, rồi lâu ngày đọc chệch ra thành Cổ Ngư và từ năm 1960 được đổi tên là đường Thanh Niên. Con tàu không bao giờ đắm ấy bỗng chia một góc hồ Tây ra thành một hồ nhỏ khác. mang tên hồ Trúc Bạch, mà nơi đây nhiều thế kỉ trước có những cung nữ quá thời hay mắc lỗi, bị biếm ra đây dệt lụa mà sinh sống, thứ lụa trắng ít nơi bì, nên nó mang tên thôn là hồ Trúc Bạch.

Thì ghé vào đây chút ít, ta lãng đãng bước xuân, việc gì mà vội. Quanh hồ Trúc Bạch có làng Ngũ Xã (dân đúc đồng năm xã ở nơi khác đến đây cư ngụ) còn ngôi đình có pho tượng A di dà một trong ba pho tượng đồng lớn vào bậc nhất nước ta (tượng này, tượng Trấn Vũ trong đền Quán Thánh và tượng Trấn Vũ phía Lâm Du bên kia sông Hồng). Trong pho tượng Ngũ Xã còn có cả những tượng đồng do người Pháp dựng mà thị trưởng Trần Văn Lai, thị trưởng đầu tiên của Hà Nội cách mạng cho hạ xuống, năm 1952 đã hóa thân trong lửa.

Đường Thanh Niên quá quen thuộc với người Hà Nội, họa chăng chỉ kém bờ Hồ Gươm đôi chút. Ta sẽ vào đền Quán Thánh nghe gió ru qua hàng muỗm già cổ thụ mấy trăm năm, chiêm ngưỡng người thợ đúc tài năng đang ngồi thiền, ông Trùm Trọng, người đúc nên pho tượng đồng đen trong đền. Thời gian phôi phai, nhưng tài năng thì còn mãi, tâm linh cũng chẳng hư hao...

Lướt trên sóng nước trập trùng, ta ngắm gương hồ hình gần giống chiếc càng cua, chỗ ấy là bán đảo, có khu nghỉ mát sang trọng, có phủ Tây Hồ nơi Trạng Bùng gặp cô tiên mà thi ca ứng đối, tao phùng cô tiên chính là Chúa Liễu Hạnh, một Mẫu Việt Nam. Gần đây, trước có bãi tha ma gọi là Mả Tầu, nơi yên nghỉ của nhiều Hoa kiều gửi thân vào nước Việt, quê hương thứ hai của họ, khác hẳn Mả Tây ở phố Nguyễn Công Trứ, chôn tạm rồi rời về “Mẫu quốc”.

Những con đường mang tên mới: Đặng Thai Mai, Xuân Diệu... người là thầy giáo, người là hoàng tử của thơ tình, chợt ta nhớ đến câu thơ bứt rứt: “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi...”

Có những hoàng hôn đỏ lự, đứng trên đường Thanh Niên, mắt ta gặp mây trời sà xuống phía bờ kia, còn trên mặt sóng là những lá thoi thuyền lướt, đôi người nào bập bềnh tâm sự, còn ai dong buồm cho chơi vơi một nỗi Trương Chi... Trước mặt là chùa Trấn Quốc, ngôi chùa tĩnh lặng gần mười thế kỉ với hàng cau như đội quân danh dự xếp hàng chào ngoài cổng, còn sân chùa có cây bồ đề Tổng thống Ấn Độ tự tay mang trồng, đã tỏa bóng như an ủi chúng sinh... Chỉ hơi tiếc, án ngữ trước chùa là cái quán ăn xây bê tông cốt thép như chiếc lô cốt, cứng đơ, nặng trịch, mùi nắm muối mỡ khét xông lên làm hoen ố cả cảnh trời nước trữ tình mà Nguyễn Huy Lượng một danh sĩ Bắc Hà đã ca ngợi trong bài “Tụng Tây Hồ phú” lừng danh. Món bánh tôm Hồ Tây có ngon, nhưng không nhất thiết phải kinh doanh như một thứ hàng nhậu nhẹt giữa nơi cần tao nhã hào hoa này như vậy.

Người bạn phương trời, xuân lại về, ta đi với hồn người trong kí ức để thấm vào nhau, như câu ca dao xưa chợt vẳng:

Mịt mù khói tỏa ngàn sương

Nhịp chày Yên Thái mặt gương Tây Hồ...

Gương mặt người đàn bà đẹp của Hà Nội nghìn năm, gương mặt bao thế hệ từng soi vào đấy (Nghĩ lẩn thẩn, tiếng Pháp chia giống, không hiểu người làm ngữ pháp nghĩ thế nào mà lại cho hồ là giống đực: Le Lac), còn ta, ta bảo đó là nàng Kiều, là Trương Quỳnh Như, là Nguyễn Thị Lộ, là công chúa Ngọc Hân mới đúng.

Hiện đại, nếu dùng xe cơ giới vượt vòng hồ có lẽ sẽ không thể tìm ra thơ mộng, không thể rẽ xuống dinh đào, tạt vào Nghi Tàm thăm chùa Kim Liên, hay thắp một nén nhang nơi chùa Trấn Quốc...

Xa hồ Tây bao năm, người bạn phương trời có còn nghe lao xao sóng nước, con cá vàng Hồ Tây quẫy trăng, làn sương chiều êm dịu, những màu hoa quanh hồ tặng cái đẹp cho đời... Xin hãy về đây, xuân đã sang, Hồ Tây vẫn đợi, vẫn mong người đấy...

Tết 1998

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.