Hà Nội Rong Ruổi Quẩn Quanh

Lượt đọc: 99 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Trên những nẻo đường

❊ ❊ ❊

Khi ta chập chững bước đi đầu tiên từ bậu cửa ra bậc thềm, mẹ đã đỡ tay, sợ ta vấp ngã. Thế là chuyến vận chuyển, sự giao thông đầu tiên ấy đã cần chống lại sự tai nạn. Trên đường đời sau này, gập ghềnh cheo leo, lên rừng trèo núi, xuống biển ra khơi, nguy hiểm nhất vẫn là tai nạn. Và hạnh phúc khi được đi đến nơi về đến chốn.

Cô Kiều bước ra khỏi nhà để mười lăm năm lưu lạc, đã phải qua:

“Vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh...”

Có lẽ không một ai trên cõi nhân thế này lại không có những chuyến đi dù dài hay ngắn trên những nẻo đường. Mà cũng không có một con đường nào hoàn toàn phẳng phiu, thẳng tắp như kẻ chỉ. May ra thì một đoạn đồng bằng, một khúc ven biển... còn khúc cong, đoạn lượn, chỗ “cua” tay áo, nơi leo ngược dốc, làm ta chóng mặt, hãi hùng, phải mở to con mắt tỉnh táo để vượt qua “cửa tử” mà tìm sinh lộ. Những con đường của mỗi đời người, mỗi con người là gian nan, tự vượt... để sinh tồn.

Những dặm đường đất nước, Hà Nội như cái hoa nhài quạt, cho nam quạt tỏa ra khắp dọc dài trăm dặm, nghìn dặm, xưa gọi là đường Thiên Lí, xuyên sơn... Đường số một, số hai, số ba, số bốn, số năm... rồi bao nhiêu con số khác nữa, ta đã đi qua, con đường thành kí ức, thành kỉ niệm trong ta, vui hay buồn, hạnh phúc hay đớn đau là tùy thuộc vào những chuyến đi an toàn như thế đó...

Đường một từ Đồng Đăng - Lạng Sơn vào Sài Gòn - Nam Bộ, qua cửa ải Chi Lăng, qua Kinh Bắc văn hiến ngàn năm, rồi qua Sơn Nam, Thanh Hoa (nay mới là Thanh Hóa), những Châu Hoan, Châu Ái, những Châu Ô, Châu Lí, Tháp Bà để đến với châu thổ Chín Rồng mỏi cánh cò bay... Dọc theo nó có bao nhiêu vùng đất sinh thành ra những con người lừng lẫy, làm vẻ vang đất nước. Nhà Lê, nhà Đinh, nhà hậu Lê, nhà Nguyễn, và ta cũng không quên hai dòng sông tuy không rộng mà vẫn canh cánh nỗi đau lịch sử: Sông Gianh và sông Hiền Lương, hẳn nghìn sau nữa còn nhắc đến những cái tên này...

“Chiều chiều mây phủ Hải Vân...” câu ca xưa cũ, điệu hò sông Mã, khúc Nam Ai bài hát Chòi cho đến sáu câu vọng cổ... vẫn bám theo con đường mà vào tâm trí ta, thành máu thịt mỗi người, thành khí trời ta thở, thành dòng sông cho ta thả con thuyền hồn mơ mộng đắm say như một thứ men tình ái đời đời...

Đường số 5 ra biển, qua đất Thượng Hồng, Hạ Hồng, đến với Hải Trần Phòng Thủ mà thành tên Hải Phòng..., qua quê hương hoàng hậu Ỷ Lan, nơi Chúa Trịnh định đặt phủ Chúa Như Kinh (nay đọc chệch đi là Như Quỳnh), với địa danh linh thiêng Cổ Bi trong câu: “Thứ nhất Cổ Bi, thứ nhì Cổ Loa, thứ ba Voi Phục” . Con đường để lại sau lưng một Quán Gỏi ngã tư, hẳn ngày xưa chỗ này có món gỏi cá, gỏi cua nổi tiếng chăng; nay có đường sang Cẩm Giàng, có nẻo Phù Ủng quê hương người tướng tài Phạm Ngũ Lão... Và kia cầu Phú Lương bắc qua sông Thái Bình, từng cong như tranh vẽ, từa tựa giống cầu Tràng Tiền xứ Huế, vì chiến tranh mà hình dáng xiêu vẹo, tơi bời. Thảm chưa, chỉ phút giây, đầu cầu này đã là chỗ hai tài năng của đất nước lìa bỏ chúng ta vì tai nạn giao thông: Lưu Quang Vũ và Xuân Quỳnh. Hải Phòng ta đi tiếp, dường như lụa trải trên đồng bằng, lên đồi, men theo mép biển, cũng có thể là sóng gió dập dềnh, sơn thủy hữu tình xô đầy nhãn mục. Ta sẽ đến Hạ Long, Bái Tử Long, Cẩm Phả, Cát Bà, Trà Cổ... một vùng Đông Bắc hào sảng tinh khôi, có Vân Đồn với tướng Trần Khánh Dư lừng danh, và trận thủy chiến Bạch Đằng oanh liệt ngàn đời...

Đường 2, đường 3, đường 4... Sóc Sơn kia, nơi Thánh Gióng đánh xong giặc, trả lại áo mũ cho trần gian, rũ bụi lợi danh mà về cõi thanh thản hư vô sương khói. Quê hương Cách mạng, nào Thái Nguyên, Tân Trào, nào Hồ Ba Bể, nào Tuyên Quang, Cao Bằng, có hang Pắc Bó, có suối nguồn trong vắt Lê Nin... Bình Ca ơi, bài hát vẫn vang lên trong hồn ta với sông Lô hùng tráng, bến Âu Lâu, những Chiêm Hóa, Hà Giang và đây nữa đêm trung du chập chùng và bập bùng lửa đuốc, mem rượu cần cổ sơ của nhà vua đi săn về, sương còn vương áo cỏ dép gai... Hùng Vương mười tám đời dựng lên, lập ra đất nước, cho ta có tiên tổ rồng tiên... Cột đá Thề trên Đền Thượng vẫn uy nghi hương khói, nhắc cháu con nhớ về nguồn cội mà đắp bồi cho bền vững nước non... Hoa lau bạc, suối tuôn trào, rừng sâu bí mật... Người anh hùng áo nâu Hoàng Hoa Thám đắp đồn Phồn Xương, Đồn Gồ Mỏ Trạng... mấy chục năm chống giặc, vẫn phảng phất anh linh khi ta bóc một trái cam Bố Hạ, Nhã Nam, Yên Thế... Con đường đi qua, nhưng không bao giờ mất hút, nó cứ như phù sa lắng lại trong hồn người một tầng mật ngọt để “ăn đường”, con đường suốt một đời người.

Đường 6, mở vào một Tây Bắc điệp trùng. Chào Ba La, Bông Đỏ, Lương Sơn có nông trường Cửu Long, ta đến với Hòa Bình, nơi dòng sông tung hoành ánh sáng. Dốc Cun dẫn lối tới Thung Khe, nơi bắt đầu Trường Sơn hùng vĩ, dắt ta vượt thêm muôn đỉnh nghìn vực mà đi tiếp. Tà Vài, Hát Lót, Nà Sản, Sơn La, Lai Châu, Tạ Bú, Tạ Khoa, Điện Biên có đèo Pha Đin, có hoa ban trắng trời triệu loài bướm rập rờn, có hoa đào gọi mùa xuân về cùng biên giới để cô gái Mèo ửng hồng đôi má của trái đào chín tháng năm, mà anh con trai nào cũng muốn “giết sâu bọ” bằng cái phơn phớt lông tơ và hồng hồng da thịt ấy trong Tết Đoan Ngọ tưởng tượng quanh mình. Lê Lợi đi đánh Đèo Cát Hãn, phải vượt qua 192 ngọn thác, hành trình, lộ trình ra sao nhỉ. Quân trảy, cờ bay, trống chiêng om sòm, gươm giáo sáng choang... Hẳn núi cũng bỡ ngỡ khi cây rừng thức ngủ đã thấy một chuyến vận chuyển, di động có một không hai này. Bia Hào Tráng đã được rước lên cạn an toàn để Thác Bờ thành lòng hồ sâu thẳm. Những điệu múa xòe Tây Bắc vẫn thần tiên chất núi rừng khi bước chân trần con gái trên sàn nứa, sàn tre, sàn gỗ và trên nền đất thịt, nghiêng vai mời khách một “khòe” rượu cần, cong như cánh cầu vồng, như cánh cung chỉ lắp mũi tên tình cảm, bắn trúng đích, vết thương êm dịu hạnh phúc nhớ nhung suốt một đời dài...

Còn bao nhiêu con đường khác nữa mà ta không thể nào lấy nó ra một lúc khi nó cứ chất chứa đầy hộp thần kinh trong não. Đường 9 Nam Lào, đường liên tỉnh, liên huyện, con đèo cheo leo, dốc sương mù mịt, đoạn phẳng như gương... và bỗng đâu, khựng lại khi gặp một con phà nhỏ, phà to chờ đợi cho ta sang ngang đi tiếp con đường... Bao nhiêu cây cầu, một nhịp, mười nhịp, hai mươi nhịp... Ván gỗ dập dềnh, mặt xi măng loang lổ, kể cả ổ gà bắt ta một lần tung lên để nhớ... dưới kia là những dòng sông lững lờ hay cuồn cuộn, giống như tính nết riêng của người con gái ta yêu, lúc nũng nịu thiết tha, khi dữ dội nhiệt cuồng đến chung chiêng cả thế giới, dáng đứng...

Sông Hồng đỏ lựng, sông Thái Bình êm đềm, con sông Thương bên đục bên trong mà sáu khúc giang đầu đổ về một bến, cho lung linh dáng đền Kiếp Bạc anh hùng... Sông Đáy, sông Cầu, sông thơ sông mộng... Những sông Mã, sông Chu, sông La, sông Lam, sông Linh Giang, sông Hương nữa chứ, con sông Hương không bao giờ vội vã, nó cứ như giọng hò của cô gái Huế, của con cháu một Huyền Trân Công Chúa, một Ngọc Hân Công Chúa, lặng buồn, nỉ non, lờ lững thiết tha, tâm sự dồn nén cho ai đó phải lỏng lảnh chiếc dải yếm phía sau lưng mà dồn thêm một hơi thở dài cho thỏa niềm đau đáu... Ngã ba Tuần, ngã ba Bằng Lăng nơi nguồn Tả Trạch, Hữu Trạch gặp nhau để cỏ Thạch Xương Bồ xức nước thơm cho dòng sông thơm mãi, thơm suốt xuống Kim Luông, Đập Đá, Vĩ Dạ, xuôi nguồn ra biển...

Đến chín cái miệng rộng của mẹ Mê Kông, tạo ra châu thổ Cửu Long vựa lúa ấm no dân tộc... dòng sông nào cũng bát ngát, cũng thơ mộng, cũng dữ dội, cũng êm đềm... mà tàu ta đi, thuyền máy ta vượt, con đò ta lướt... sóng ở sau lưng, trắng xóa trong bàn tay ta khỏa... dòng sông nào cũng cho ta cảm giác tươi trong, khoáng đạt. Ta bước qua cầu ván rung rung, để rồi ta cũng phải bước lên rung rung cầu ván, đặt chân lại nơi bến cỏ ven đê, bờ đất cát mịn, mặt đường xi măng... một cách bình yên, về sum họp sau chuyến đi đầy hứng khởi... thì dòng sông con tàu, ván đò mới có ý nghĩa với mỗi đời người. Không thể có gì thê thảm hơn nếu thân ta giạt vào một góc bờ hoang vu, bập bềnh không ai tìm thấy, khi con đò lật úp đêm nao... Lạy trời, mong sao cảnh ấy đừng bao giờ xảy ra cho bất cứ một ai... kể từ con đò nơi sông đào nho nhỏ, hay giang thuyền, hải thuyền ngoài lộng hoặc tít tắp khơi xa ra cùng năm châu bốn biển.

Những ai vạn dặm đi về, những ai phiêu bồng lữ thứ, những ai lang bạt trăm phương, chuyến hàng ngày hay chỉ là chuyến đi duy nhất đời mình... Những con đường trải mình trong nắng mưa giông tố, trong sương buốt rừng khuya, trong gió Lào quạt lửa... những dặm dài đưa đón con người... con đường nào, dòng sông nào cũng có một tâm hồn để thương, để nhớ, để tâm sự liên hồi. Nghe thì sẽ thấy. Lắng thì sẽ gặp, người ơi... Tiếng nói ấy xào xạc trong bờ lau, trong sóng biếc, trên ngọn đồi, trong đàn thông, dưới bánh xe, trong buồng lái... tất cả bao giờ cũng là lời cầu nguyện bình yên, là niềm mong chờ đến khắc khoải an lành, như thuở ấu thơ, mẹ đỡ ta trong bước đi chập chững đầu tiên, sợ ta vấp ngã... dù bước đi ấy chỉ có một sải chân hay bây giờ là vạn dặm dài mồ hôi tầm tã...

Thời hiện đại, hẳn ít ai còn nghĩ đến bao thuở xa xưa, bước chân xuyên Việt phải mang theo con dao quắm, dao rựa để mở đường. Người gánh cáng thuê, được gọi theo từ cổ là đểu cáng, đã chìm vào quá khứ và nghĩa của từ ấy cũng đã thay đổi hoàn toàn. Nay ta có thể ngồi trong máy bay có điều hòa không khí, một giờ qua nghìn dặm mây bay, có thể êm ru mà cũng có thể gặp “ổ gà không khí” ù tai... những chuyến đi trên mọi phượng tiện, qua mọi nẻo đường, đều cần bình yên để trở về trong niềm vui và hạnh phúc.

Xin được dùng câu nói cũ: Thượng lộ bình an, và cầu mong thêm một lời: Hãy chóng trở về may mắn...

Tháng 6 / 1995

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.